Bài tổng quan
Huệ Đống gom Dịch Hán thành hệ và viết Chu Dịch thuật
Hơn một nghìn năm sau thời Hán, một học giả đất Ngô vẫn kiên nhẫn nhặt từng mảnh Dịch của Mạnh Hỉ, Ngu Phiên, Kinh Phòng, Trịnh Huyền để xếp lại thành hệ. Ông không chỉ chép lại mà còn giải vì sao từng nhà nghĩ như thế. Và khi chú Dịch cho riêng mình, ông vẫn cầm chiếc chìa khóa của Tuân Sảng.
Huệ Đống, sống từ năm 1697 đến năm 1785, tự Định Vũ, hiệu Tùng Nham, người huyện Ngô, nay thuộc Giang Tô. Ông là nhà kinh học và Dịch học đời Thanh, được xem là một đại Dịch học gia nối tiếp Vương Phu Chi. Học vấn của ông có gốc từ gia truyền; cả đời ông đọc thông các kinh, nghiền ngẫm mọi thuyết, học thức cực kỳ uyên bác. Ông sở trường Hán Dịch, đồng thời chỉnh lý và phát huy học thuật của các đại gia Dịch thời Hán, góp công lớn cho việc nghiên cứu Hán Dịch.
Các tác phẩm về Dịch của ông gồm Dịch Hán học, Chu Dịch thuật, Dịch lệ, Tân bản Trịnh thị Chu Dịch, Chu Dịch bản nghĩa biện chứng và Dịch đại nghĩa. Trong đó Dịch Hán học dẫn giải sâu sắc sự kế thừa tượng số của Dịch Hán, là tư liệu quý để nghiên cứu Dịch Hán.
Nhặt từng mảnh Dịch Hán xếp lại thành hệ
Việc đầu tiên của ông là tìm lại những mảnh đã rơi rụng khắp nơi.
Kế thừa và phát huy Hán Dịch là công chính của Huệ Đống. Ông biên soạn Dịch Hán học để khảo cứu Hán Dịch, thu chép Dịch của các đại gia từ Hán đến Tam Quốc, chủ yếu là Mạnh Hỉ, Ngu Phiên, Kinh Phòng, Can Bảo, Trịnh Huyền, Tuân Sảng, trong đó nhiều nhất là Mạnh Hỉ và Ngu Phiên. Tinh hoa học thuật của các nhà ấy đều được ông sưu tầm và lưu giữ: thuyết quái khí của Mạnh Hỉ với tiêu tức, mười hai quẻ tiêu tức và bốn quẻ chính; quái biến của Ngu Phiên; Khai Nguyên đại diễn lịch kinh của Nhất Hàng; đồ bát quái lục vị và đồ thứ tự tám cung quẻ của Can Bảo; ngũ hành và chiêm nghiệm của Kinh Phòng; thuyết hào thần của Trịnh Huyền; Càn thăng Khôn giáng của Tuân Sảng; những tượng sót lại của chín nhà. Nói chung, với Hán Dịch ông sưu tập khá toàn diện.
Không chỉ chép lại mà còn giải thích vì sao
Chép lại một lời khác với hiểu được lời ấy, và ông muốn người đọc hiểu.
Cách làm của Huệ Đống khác phần đông các nhà kinh học đời Thanh. Họ thường giải kinh bằng huấn hỗ, khảo chứng, giá trị nằm ở chỗ giữ được diện mạo của bản gốc. Họ hay trích Thuyết văn của Hứa Thận, Kinh điển thích văn đời Đường, Hán thượng Dịch truyện của Chu Chấn đời Tống, và Chu Dịch tập giải của Lý Đỉnh Tộ, nhưng nặng khảo chứng mà ít phát huy, ít dẫn giải về lý luận học thuật. Còn ông không chỉ dùng hình thức lấy kinh chú kinh. Ông căn cứ vào đặc điểm tư tưởng của từng nhà mà diễn giải: với Mạnh Hỉ, ông bàn qua đồ quái khí, tiêu tức, bốn quẻ chính, mười hai quẻ tiêu tức; với Ngu Phiên, ông bàn qua bát quái nạp giáp, năm vị gặp nhau mà đều có chỗ hợp, sáu hư chảy khắp. Ông chú giải rộng, dẫn thêm cả Sử ký, Hán thư, Hoài Nam tử, Luận hoành, Hậu Hán thư, Ngụy thư, hễ lời nào đúng và có giá trị thì đưa vào. Nhờ vậy bộ sách phong phú, quan điểm có hệ thống, và phản ánh đầy đủ học thuật tư tưởng của Hán Dịch.
Chẳng hạn khi bàn Dịch học của Kinh Phòng, ông dẫn Luận hoành của Vương Sung: Dịch của họ Kinh xếp sáu mươi bốn quẻ vào một năm, quẻ có âm dương, khí có thăng giáng, dương thăng thì ấm, âm thăng thì lạnh, ấm lạnh tùy quẻ mà đến. Ông còn dẫn cả Dịch vĩ và Hệ từ, nên Dịch Hán học vừa trích nhiều lời đúng của các nhà, vừa trung thành với kinh truyện, có sức kế thừa và phát huy mạnh quan điểm học thuật Hán Dịch.
Chu Dịch thuật: Càn thăng Khôn giáng xuyên suốt
Khi chú Dịch cho riêng mình, ông giữ lại chiếc chìa khóa của người xưa.
Huệ Đống đặc biệt coi trọng thuyết quái biến của Tuân Sảng. Cả bộ Chu Dịch thuật gần như quán xuyến lý luận hào hai, hào năm, Càn thăng Khôn giáng, quái biến hào biến. Chú quẻ Càn câu nguyên hanh lợi trinh, ông viết nguyên là đầu tiên, hanh là thông, lợi là hòa, trinh là chính; Càn là gốc của đạo nên gọi nguyên; hào hai của Càn thăng lên ngôi của Khôn, Càn Khôn giao nhau nên gọi hanh.
Ông không chỉ dẫn giải tượng số, mà với nghĩa lý âm dương cũng phát huy sâu. Chú hào chín đầu quẻ Càn, rồng ẩn chưa dùng, ông viết: số của Dịch ngược, khí sinh từ dưới, khởi từ hào dưới; Càn là rồng, dương ẩn ở dưới nên gọi rồng ẩn; số của hào khó biết nên nói chưa dùng. Ông lấy rồng làm tượng cho Càn và dẫn lời nhiều nhà. Quản Tử nói rồng sinh trong nước, tỏa năm sắc mà bơi, nên biến hóa như thần: muốn nhỏ thì thành con tằm, muốn to thì ẩn dưới chân trời, muốn lên thì lên tận mây, muốn xuống thì lặn tận vực sâu, thay đổi không kể ngày tháng, lên xuống không kể thời gian, gọi là thần hóa, cho nên Càn lấy tượng rồng vì nó biến hóa được. Tuân Tử nói đức của trời là nguyên, nguyên của trời gồm năm sắc nên rồng bao năm sắc. Thuyết văn nói rồng xuân phân bay lên trời, thu phân lặn xuống vực. Những lời dẫn ấy đều phản ánh quá trình âm dương tiêu trưởng chuyển hóa qua sự biến hóa của rồng.
Về chuyện âm dương nương nhau mà tồn tại, ông dùng thuyết âm dương thăng giáng của Tuân Sảng. Giải quẻ Bĩ, ông viết Càn thăng lên, Khôn giáng xuống nên trời đất không giao nhau; chỉ một âm thì không sinh sản, chỉ một dương cũng không sinh sản, nên vạn vật không thông suốt.
Vị trí giữa học phái Dịch đời Thanh
Ông đứng giữa lối khảo cứu thuần túy và lối diễn giải tự do.
Huệ Đống có vị trí nhất định trong Dịch học đời Thanh. Chu Dịch thuật và Dịch lệ của ông đều có trình độ cao, sau Vương Phu Chi, đây là thành tựu tương đối lớn của các Dịch học gia đời Thanh. Ông trị Dịch khách quan, vừa chuộng khảo chứng vừa diễn giải khá nhiều, thuộc nhóm cải cách trong phái học Dịch đời Thanh, không nặng khảo chứng mà ít phát huy như nhiều người. Với Dịch đồ đời Hán, ông tuy không cùng quan điểm, vẫn khảo cứu từ góc độ nguồn gốc phát triển.
Ông chỉnh lý Hán Dịch khác các học phái kinh học đời Thanh ở chỗ nhắm vào học thuật và tư tưởng của Hán Dịch chứ không khảo chứng bản gốc; nội dung chú giải phản ánh quan điểm học thuật của ông. Dịch Hán học là tác phẩm tiêu biểu cho việc dẫn giải Hán Dịch của ông, và nhờ chỉnh lý có hệ thống ấy, ông góp phần quan trọng cho việc nghiên cứu tượng số học của Dịch Hán. Ông cũng phát huy nghĩa lý Dịch, nhất là lý âm dương, ở mức khá cao, tạo tư liệu quan trọng cho người nghiên cứu lý Dịch.
Tóm lại, Huệ Đống là Dịch học gia có đóng góp quan trọng cho cả Hán Dịch lẫn Dịch đời Thanh. Uy tín học thuật của ông không bằng Cố Viêm Vũ và Hoàng Tông Hy, nhưng thành tựu và đóng góp của ông về Dịch vẫn được mọi người đánh giá cao.
Nguồn: Dương Lực, Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 3, thuật lại có lược bớt.
