Bài tổng quan
Hồng lâu mộng và tấm gấm dệt từ tuyến nổi, tuyến chìm
Một công tử gấm vóc lụa là phải cả nhà ăn cháo qua ngày, mười năm lần giở trước đèn mà vẫn chưa viết xong chuyện của mình. Trong năm hồi đầu đã giấu sẵn kết cục của tất cả mọi người…
Bộ truyện tình yêu chứa trọn một xã hội
Hồng lâu mộng là bộ tiểu thuyết dài về tình yêu đời Thanh, còn có tên là "Thạch đầu ký". Bản lưu hành có một trăm hai mươi hồi, tác giả là Tào Tuyết Cần, bốn mươi hồi cuối do Cao Ngạc viết tiếp. Đây tuy là truyện tình yêu nhưng mang nội dung xã hội sâu sắc: bi kịch tình yêu trong đó phản ánh xu thế suy vong của lịch sử xã hội, nên có bề dày lịch sử nhất định. Thành sách vào thời Càn Long nhà Thanh, giữa thế kỷ mười tám, tuyến chính của nó là sự hưng vong của một gia đình quan lại, phản ánh sự suy tàn của xã hội phong kiến ở thời kỳ cuối, khi mầm mống tư tưởng dân chủ tư sản bắt đầu nhú.
Nó cũng là bộ tiểu thuyết hiện thực nối tiếp "Kim Bình Mai". Phủ Vinh trong truyện là hình ảnh thu nhỏ của xã hội phong kiến. Qua sự thịnh suy của phủ Vinh, tác phẩm vạch sâu bản chất của chế độ ấy: ở thời kỳ cuối, nó tất yếu suy vong. Tác phẩm phản ánh những mâu thuẫn không thể điều hòa, dựng nên một loạt hình tượng sáng của những kẻ phản nghịch chống lại lễ giáo phong kiến, tiêu biểu là nhân vật chính Giả Bảo Ngọc, nhất là ca ngợi sự phản kháng của phụ nữ, nên có tư tưởng rất mạnh.
Hồng lâu mộng kế thừa và phát triển sắc thái nghệ thuật đặc biệt của tiểu thuyết cổ điển Trung Hoa, đạt thành tựu huy hoàng. Thủ pháp sáng tác, nghệ thuật ngôn ngữ và dựng hình tượng nhân vật đều lên đến đỉnh cao của tiểu thuyết cổ điển. Nó còn là bộ bách khoa toàn thư của văn hóa nghệ thuật, với dung lượng rất lớn đã diễn đạt màu sắc rực rỡ của văn hóa nghệ thuật cổ Trung Hoa, xứng đáng là một tòa Đại Quan Viên văn hóa. Lỗ Tấn khái quát sáng tạo nghệ thuật của nó bằng một câu: từ khi Hồng lâu mộng ra đời đã phá vỡ tư tưởng và cách viết truyền thống.
Hồng lâu mộng là tấm bia lớn của nghệ thuật viết tiểu thuyết cổ điển Trung Hoa, ảnh hưởng sâu sắc đến tiểu thuyết cận hiện đại. Tư tưởng chủ đề chống phong kiến của nó đạt tầm cao chưa từng có trong lịch sử tiểu thuyết cổ điển, tạo mẫu mực cho văn học đời sau, ảnh hưởng sâu đến tiểu thuyết "Gia" của Ba Kim, kịch "Lôi vũ" của Tào Ngu. Nó là của Trung Hoa và cũng là của thế giới: ngày nay đã lưu truyền bằng mười bảy thứ tiếng, trong đó có Nhật, Hàn, Anh, Đức, Pháp, Nga, Ý, Tây Ban Nha…, được đánh giá cao và có tác dụng thúc đẩy tích cực đưa văn học Trung Hoa ra thế giới.
Tào Tuyết Cần: từ công tử gấm vóc đến người ăn cháo qua ngày
Có người phải mất cả cơ nghiệp mới viết nổi chuyện của một cơ nghiệp tan, và khi viết xong nửa chừng thì bút cũng rơi khỏi tay.
Tào Tuyết Cần (khoảng 1715 đến 1763) là nhà tiểu thuyết nổi tiếng đời Thanh, nhà văn hiện thực vĩ đại của tiểu thuyết cổ điển Trung Hoa. Tên là Triêm, tự Mộng Nguyễn, hiệu Tuyết Cần. Ông sinh trong gia đình quý tộc thế tập, quê gốc ở Liêu Dương. Tổ tiên vốn là người Hán, về sau thành người "bao y" thuộc Bạch Kỳ của Mãn Châu. Từ đời cố, đời cụ đến ông nội đều làm quan trong triều Thanh. Bà cụ từng làm vú nuôi của Khang Hy, ông nội là Tào Dần từng làm bạn học của Khang Hy, sau giữ chức Giang Ninh chức tạo. Sáu lần Khang Hy tuần thú Giang Nam, có năm lần nhà họ Tào được đón vua và ở ngay nhà họ Tào, đủ thấy quan hệ giữa nhà này và hoàng đế không tầm thường. Sau khi ông nội mất, người cha, có thuyết nói là cha nuôi, là Tào Ngung kế giữ chức Giang Ninh chức tạo.
Khi Ung Chính lên ngôi, nhà họ Tào bắt đầu suy vong, mấy lần bị cách chức, tịch biên gia sản. Về sau cả nhà từ Kim Lăng dời về Bắc Kinh, rồi lại bị tịch biên lần thứ hai, từ đó càng lụn bại. Tào Tuyết Cần từ công tử gấm vóc lụa là thành con cái nhà quý tộc phá sản. Những năm cuối đời ông sống ở vùng Hương Sơn, ngoại ô phía tây bắc Bắc Kinh, chuyên tâm viết Hồng lâu mộng, sống nghèo khổ, hằng ngày cả nhà ăn cháo. Vợ mất ông lấy vợ khác; đến khi đứa con trai yêu quý bệnh chết, ông quá đau thương, và ngày 12 tháng 2 năm 1763 ông mất trong cảnh nghèo túng bệnh tật, lúc bốn mươi tám tuổi.
Cuộc đời ông trải bước ngoặt từ lúc gia đình cực thịnh đến suy vong, ông căm ghét tột độ cuộc đấu đá chính trị trong nội bộ tầng lớp cầm quyền và rất xúc động trước nỗi suy vong của xã hội phong kiến. Hồng lâu mộng của ông phản ánh bề dày của xã hội qua sự hưng suy của một gia đình phong kiến, cho thấy xu thế hưng suy tất nhiên của xã hội ấy, thành mẫu mực cho tiểu thuyết hiện thực Trung Hoa. Ông viết Hồng lâu mộng "mười năm lần giở trước đèn", đáng tiếc chỉ viết được tám mươi hồi thì hai tay buông xuôi về với cõi hư không, bốn mươi hồi sau do Cao Ngạc viết tiếp.
Kết cấu lập thể: khối pha lê nhiều mặt soi vào một gia đình
Một cảnh trong truyện chưa bao giờ chỉ có một người nói và một việc xảy ra, mà luôn có nhiều người, nhiều chuyện đan vào nhau như dệt gấm.
Tào Tuyết Cần sáng tạo thủ pháp diễn đạt lập thể với kết cấu nhiều tầng lớp, nhiều nguồn. Trong một cảnh có nhiều nhân vật và sự việc đan xen, bày ra bộ mặt xã hội phức tạp liên kết với nhau, phá vỡ cách diễn đạt đơn nhất trước đây. Hồng lâu mộng tựa như một khối pha lê nhiều mặt, khúc xạ xã hội ở nhiều góc cạnh, mà tiêu điểm khúc xạ tập trung vào sự hưng suy của một gia đình để làm nổi bật sự thịnh suy của xã hội. Truyện phản ánh một mặt cắt của xã hội phong kiến qua biến thiên của bốn nhà đại quý tộc, trung tâm là nhà họ Giả cùng với họ Tiết, họ Vương, họ Sử. Từ hoàng thân quốc thích đến dân thị thành bình thường, từ hoàng phi đến nô tỳ, từ quan lại đến người buôn bán nhỏ, ai cũng được nhắc tới, nhiều nhân vật được khắc họa, nhiều hình tượng được dựng, điều chưa từng thấy trong lịch sử.
Như hồi thứ năm, "Chơi cõi ảo, mười hai thoa chỉ đường mê; uống rượu tiên, mộng lầu hồng diễn thành khúc", mười hai khúc kim thoa là sự chuẩn bị cho mười hai cô gái Kim Lăng trong truyện, đã định sẵn trong sổ "Bạc mệnh ti" nên không thể có kết cục tốt, từ đó bắt đầu cho thấy những mối đan xen của vận mệnh mười hai cô gái xoay quanh họ Lâm và họ Tiết. Những hồi tiêu biểu khác có hồi mười ba "Vương Hy Phượng sang giúp việc bên phủ Ninh", hồi mười tám "Giả Nguyên Xuân về thăm nhà mừng tết Nguyên tiêu", hồi chín mươi lăm "Nguyên Phi tạ thế, Bảo Ngọc hóa điên", hồi chín mươi bảy "Đốt cáo thơ Đại Ngọc dứt tình si, về nhà chồng Bảo Thoa thành lễ lớn" và hồi một trăm mười chín "Đỗ hương khôi, Bảo Ngọc rũ sạch duyên trần, đội ơn vua họ Giả dồi dào hưởng phúc". Những hồi ấy qua nhà họ Giả để mô tả mâu thuẫn tầng tầng lớp lớp của xã hội phong kiến và quan hệ phức tạp giữa người với người. Nhiều loại nhân vật cùng xuất hiện, tiêu điểm của mâu thuẫn chuyển đổi liên tục, nhưng vẫn nêu bật được quan hệ có nhân trước mới có quả sau, đưa đời sống xã hội cực kỳ phức tạp vào văn học một cách rất thật.
Tóm lại, Tào Tuyết Cần và Cao Ngạc nắm chắc mọi loại mâu thuẫn không thể điều hòa của xã hội phong kiến, lấy bi kịch tình yêu của Giả Bảo Ngọc và Lâm Đại Ngọc làm trung tâm, lấy sự thịnh suy của bốn đại gia tộc Giả, Vương, Tiết, Sử làm nền, để nói tình trạng chính trị, kinh tế, đời sống văn hóa của thời đại ấy, mở ra một lĩnh vực mới của tiểu thuyết văn hóa mang sắc thái riêng của nghệ thuật thể hiện lập thể. Với thủ pháp nhiều tầng lớp, đan xen phức tạp, Hồng lâu mộng mở đầu cho nghệ thuật sáng tác lập thể trong văn học, đưa kết cấu một tuyến thẳng trên mặt phẳng tiến lên thành kết cấu lập thể.
Tuyến nổi là tình yêu, tuyến chìm là sự hưng suy
Sợi chỉ nổi thấy ngay trên mặt gấm, sợi chỉ chìm nằm dưới, và chỉ khi hai sợi cùng kéo thì hoa văn mới hiện ra.
Kết cấu lập thể kết hợp điểm với diện là nét đặc sắc chủ yếu trong nghệ thuật kết cấu của truyện. Đây là bộ tiểu thuyết cổ điển lấy việc chống phong kiến làm trung tâm, với tuyến chính là tình yêu của Bảo Ngọc và Đại Ngọc, tuyến phụ là sự hưng suy của phủ họ Giả, để phản ánh xã hội phong kiến Trung Hoa thế kỷ mười tám đi đến bước đường cùng. Quanh chủ đề ấy, kết cấu nghệ thuật cũng đổi thay quan trọng: truyện đả phá lối kết cấu đơn tuyến cô lập của tiểu thuyết truyền thống, mở ra nghệ thuật kết cấu hữu cơ, nhân quả kết hợp, lấy trục chính làm trung tâm đan xen với tuyến phụ, tuyến nhánh. Nó giống một bức gấm dệt nghệ thuật, các sợi nổi sợi chìm đan xen ngang dọc, mở một khoảng trời mới cho kết cấu nghệ thuật văn học Trung Hoa.
Chủ đề là linh hồn của một bộ truyện. Chủ đề của Hồng lâu mộng là cuộc đấu giữa phản nghịch chống phong kiến và thế lực bảo vệ phong kiến. Toàn truyện phản ánh xu thế không thể điều hòa giữa tư tưởng có mầm mống dân chủ tư sản mới nảy ở Trung Hoa cuối thế kỷ mười tám với chế độ phong kiến mục nát, qua cuộc đấu giữa lực lượng mới nảy sinh tiêu biểu là Giả Bảo Ngọc với thế lực đối lập đứng đầu là Giả Chính. Kết cấu hoàn mỹ nhất là khiến chủ đề được triển khai trọn vẹn không một dấu vết gượng ép, và kết cấu của truyện chính là biểu hiện cao siêu theo tôn chỉ ấy. Cái hay là ở chỗ lấy chuyện tình Bảo Ngọc, Đại Ngọc làm tuyến nổi, lấy sự hưng suy của bốn đại gia tộc trong đó có nhà họ Giả làm tuyến chìm, để làm nổi chủ đề. Mỗi sự biến đổi cục bộ phải liên quan đến tổng thể, như "giật một sợi tóc mà động toàn thân".
Toàn bộ truyện thông qua chủ đề phản nghịch và chống phản nghịch đối với lễ giáo, giữa Giả Bảo Ngọc và Giả Chính, với tuyến chính là tình yêu của Bảo Ngọc, Đại Ngọc xuyên suốt hữu cơ, cùng cuộc đấu giữa nhân duyên gỗ đá và lương duyên kim ngọc của Bảo Ngọc, Đại Ngọc, Bảo Thoa, cùng mâu thuẫn giữa nô bộc với chủ, tiêu biểu là Tình Văn phản kháng Vương phu nhân. Mấy tuyến chủ yếu ấy tạo thành quan hệ nhân quả, vạch toàn diện xung đột gay gắt giữa thế lực chống phong kiến và thế lực bảo vệ phong kiến ở thời kỳ cuối của xã hội ấy. Truyện còn đan xen những tình tiết như sự giãy giụa điên cuồng để giữ chế độ phong kiến, tiêu biểu là Vương Hy Phượng, Thám Xuân, và sự truy lạc mục nát đứng đầu là Giả Trân, Tiết Bàn, báo trước cảnh cùng đường của xã hội ấy, đúng như câu "chết đến đít còn cay". Nhất là phần Cao Ngạc viết tiếp đã qua cái chết của Đại Ngọc, dùng tuyến tình yêu Bảo Ngọc, Đại Ngọc, Bảo Thoa đẩy mâu thuẫn giữa phong kiến và chống phong kiến lên đến đỉnh điểm.
Sự đan xen giữa tuyến nổi và tuyến chìm còn là dấu hiệu cho sự phát triển mâu thuẫn trong truyện. Những việc lớn như đám tang Tần Khả Khanh, Giả Nguyên Xuân về thăm nhà, khám xét vườn Đại Quan đều ngầm ghi dấu từ thịnh đến suy của thế lực phong kiến. Khi khám vườn Đại Quan, Thám Xuân nói: "Thế mới biết những nhà đại gia thế này, chỉ người ngoài đến thì một lúc không thể giết chết được. Chính đúng như người xưa đã nói: con sâu trăm chân, chết cũng không ngã! Tất phải do người nhà giết lẫn nhau trước, mới tan nát sạch sành sanh." Câu ấy ám chỉ việc từ thịnh chuyển sang suy của phủ họ Giả. Tuyến chính với tuyến phụ giao nhau ngang dọc, tuyến phụ với tuyến nhánh đan nhau nâng đỡ, thành kết cấu dạng mạng lưới chặt chẽ, vừa độ.
Năm hồi đầu đã ẩn bút cho cả bộ truyện
Ngay từ những dòng đầu, người kể chuyện khéo ngầm cho biết đằng sau chuyện được kể còn một chuyện khác.
Sự tương phản giữa tuyến nổi và tuyến chìm được gợi rõ ngay hồi thứ nhất:
Đầy trang những truyện hoang đường
Tràn trề nước mắt mất bao nhường chua cay.
Đừng cho tác giả là ngây,
Ai hay ý vị chứa đầy ở trong?
Tác giả tự nói rằng trải qua quãng đời mộng áo, nên có ý giấu những việc thực, mượn chuyện "hòn đá thiêng" mà viết ra bộ "Thạch đầu ký", vì vậy đặt nhân vật của mình là Chân Sĩ Ẩn. Ngụ ý truyện này ẩn một việc thực, và đó là kỹ xảo kết cấu đặc biệt. Năm hồi đầu có bố cục quan trọng cho toàn truyện. Cốt truyện cơ bản của cả bộ là sự hưng suy của phủ họ Giả và thành bại trong tình yêu Bảo Ngọc, Đại Ngọc; vận mệnh nhân vật chính và diễn biến những tình tiết chính đều nằm trong năm hồi đầu, nhất là các hồi hai, bốn, năm đã để ẩn bút cho các hồi sau.
Ở hồi hai, qua việc Lãnh Tử Hưng kể chuyện trong phủ Vinh, nguồn gốc phủ họ Giả và tính cách mọi người được giới thiệu, để lại ẩn bút cho sự hưng suy sau này. Câu "con sâu trăm chân, chết cũng không ngã" từ miệng Lãnh Tử Hưng, sau lại từ miệng Thám Xuân nói ra, cho thấy trước sau ăn khớp.
Hồi bốn có tờ "Hộ quan phù" viết:
Giả không phải là giả dối, ngọc làm nhà, vàng làm ngựa cưỡi.
Cung A Phòng xây trên ba trăm dặm, họ Sử đất Kim Lăng vẫn ở không vừa.
Vua Đông Hải thiếu ngọc trắng làm giường, phải đến vay Kim Lăng Vương.
Được mùa tuyết lã chã rơi, ngọc châu như đất, vàng thời sắt thoi.
Tờ "Hộ quan phù" mà tên lính canh nói với Giả Vũ Thôn nêu quyền thế, sự hào hoa và giàu có của bốn đại gia tộc Giả, Sử, Vương, Tiết, lót sẵn cho sự suy bại của họ. Nó ăn với bài "Hảo liễu ca" của đạo sĩ què ở hồi một, càng ám thị sự suy vong tất nhiên của bốn nhà:
Người đời đều cho thần tiên hay,
Mà chuyện công danh lại vẫn say!
Xưa nay tướng soái nơi nào đây,
Một dãy mồ hoang có mọc đầy!
Người đời đều cho thần tiên hay,
Nhưng ham vàng bạc lòng không khuây!
Suốt ngày những mong chứa cho đầy,
Đến lúc đầy rồi mắt nhắm ngay!
Người đời đều cho thần tiên hay,
Nhưng thích vợ đẹp lòng không khuây!
Lúc sống ái ân bể suối ngày,
Lúc chết liền bỏ theo người ngay!
Người đời đều cho thần tiên hay,
Muốn đông con cháu lòng không khuây!
Xưa nay cha mẹ thật khờ thay,
Con hiển cháu thảo ai thấy đây?
Đủ thấy hồi bốn là tổng cương kết cấu chủ đề của cả bộ. Hồi năm, "Giả Bảo Ngọc mộng du Thái Hư ảo cảnh", Cảnh Ảo tiên cô dẫn chàng đến cõi tiên, dưới bức biển "Bạc mệnh ti" xem cuốn "Kim Lăng thập nhị thoa chính sách" và "phó sách", rồi nghe mười hai vũ nữ hát mười hai khúc "Hồng lâu mộng". Như vậy vô hình chung đã ám thị vận mệnh mười hai thoa Kim Lăng vào cảnh ngộ các nhân vật nữ chủ yếu, gồm cả nô bộc của họ; sau này toàn truyện thể hiện kết cục số mệnh của những nhân vật ấy. Hồi năm vì vậy là tổng cương kết cấu nhân vật của toàn bộ.
Tóm lại, năm hồi đầu ẩn dụ những tuyến chính của câu chuyện, sau đó toàn bộ triển khai theo mấy tuyến ấy cùng những tình tiết cụ thể, và đó là nét đặc sắc kết cấu của truyện. Chính vì thế Cao Ngạc mới có thể men theo những tuyến ấy viết tiếp bốn mươi hồi sau, để Hồng lâu mộng hoàn chỉnh.
Nguồn: Dương Lực, Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa, tập 2, thuật lại có lược bớt.
