Bài tổng quan
Họ Ban viết Hán thư, bộ sử đầu tiên của một triều
Một sử gia bị vu cáo tự ý sửa quốc sử và phải vào ngục, người thân dâng tấu biện bạch thì mới được tha. Ông sống để hoàn thành công trình dang dở của cha, nhưng lần bị bắt thứ hai thì chết trong ngục. Công trình ấy là bộ sử đầu tiên chỉ chép trọn một triều đại.
Bộ sử Tây Hán hai trăm ba mươi năm, một trăm quyển
Hán thư là bộ sử ghi chép lại toàn bộ lịch sử triều Tây Hán, và là bộ sử đồng đại đầu tiên của Trung Hoa, tức bộ sử chỉ chép riêng một triều đại. Nó chép trọn thời kỳ thái bình hưng thịnh của Hán Võ đế. Về giá trị, Hán thư ngang với Sử ký, và hai bộ sử này được xem là hai cây đại thụ trong kho tàng sử học nước nhà.
Bộ sử chép khoảng hai trăm ba mươi năm, bắt đầu từ Hán Cao Tổ cho đến lúc Vương Mãng bị giết. Người soạn là Ban Cố đời Đông Hán. Sau khi Ban Cố mất, người em gái là Ban Chiêu cùng Mã Tục chỉnh lý và hoàn thiện. Tiền thân của Hán thư là phần Sử ký “Hậu truyện” do cha của Ban Cố là Ban Bưu soạn.
Toàn bộ gồm một trăm quyển: mười hai quyển Ký, tám quyển Biểu, mười quyển Chí, bảy mươi quyển Truyện, tổng cộng tám trăm nghìn chữ. So với Sử ký, Hán thư có nhiều thay đổi. “Thư” đổi thành “Chí”, “Thế gia” đổi thành “Truyện”, “Liệt truyện” cũng gọi là “Truyện”, “Bản ký” đổi thành “Ký”. Ngoài ra còn thêm các Chí mới như hình pháp chí, ngũ hành chí, địa lý chí, văn nghệ chí. Trong một trăm quyển, có tới sáu mươi lăm quyển do Ban Bưu soạn. Vì vậy, có thể nói Hán thư là thành quả lao động của cả cha, con và anh em họ Ban.
Gia tộc họ Ban: người cha và ba người con
Một bộ sử đồ sộ không đến từ một đời người. Ở đây là cả một gia đình dồn tâm huyết suốt mấy chục năm.
Gia tộc họ Ban gồm người cha là Ban Bưu, con trai trưởng Ban Cố, con trai thứ Ban Siêu và con gái út Ban Chiêu. Họ không phải dòng dõi quý tộc, nhưng là một gia tộc có danh vọng cao quý.
Ban Bưu, tự Thục Bì (3 – 54), là nhà sử học, nhà kinh học đời Đông Hán, quê ở An Lăng, Phù Phong (nay thuộc Hàm Dương, Thiểm Tây). Ông từng cùng Đậu Dung ủng hộ Hán Quang Võ đế lên ngôi. Cả cuộc đời ông theo đuổi sử học. Sau khi tuyển Sử ký, ông soạn sáu mươi lăm chương trong phần “Hậu truyện”.
Ban Cố (32 – 92), tự Mạnh Kiên, là con trai trưởng của Ban Bưu, nhà sử học, nhà văn học, nhà kinh học đời Đông Hán. Ông kế thừa tâm huyết của cha và cũng theo đuổi sử học suốt đời. Theo chép trong Hậu Hán thư, lớn lên ông đọc rộng, các dòng chín phái trăm nhà không có gì mà ông không tìm hiểu cùng tận. Làm theo di chúc của cha, ông biên soạn phần sử tiếp theo, nhưng bị vu cáo là tự tiện sửa quốc sử nên bị giam vào ngục. Nhờ người em gái ra sức biện bạch, ông mới được tha. Về sau ông được phong chức Lan Đài lệnh sử, trông coi thư viện quốc gia, càng có điều kiện thu thập tài liệu và kiểm tra tính trung thực của lịch sử. Cuối đời, ông hoàn thành di nguyện của cha, soạn xong bộ lịch sử Tây Hán và đặt tên là Hán thư, mất hơn hai mươi năm. Năm đầu Vĩnh Nguyên (năm 89), vì bị liên lụy vào chuyện chính trị, ông bị bắt giam lần thứ hai và chết trong ngục. Ngoài Hán thư, ông còn viết những bài phú nổi tiếng như “Lưỡng đô phú”, “U thông phú”, và bộ kinh học “Bạch hổ thông nghĩa”.
Ban Siêu, tự Trọng Thăng (32 – 102), là danh tướng triều Đông Hán, em trai của Ban Cố. Ông nhiều lần giúp Đậu Dung giao chiến với Hung Nô ở biên giới phía bắc, lập nhiều công trong sự nghiệp giữ vững biên cương. Khi Ban Cố bị bắt vì viết sử, Ban Siêu nhiều lần dâng tấu biện bạch để cứu anh. Ông mất vì bệnh ở Lạc Dương.
Ban Chiêu, tự Huệ Ban (khoảng 49 – 120), là nhà sử học đời Đông Hán, con gái út của Ban Bưu, em gái của Ban Cố. Trước khi mất, Ban Cố chưa kịp chỉnh lý “Thiên văn chí” và “Bát biểu”. Theo nguyện vọng của anh, Ban Chiêu cùng Mã Tục hoàn thành hai phần ấy của Hán thư. Bà còn viết một số tác phẩm như “Đông chinh phú” và “Nữ giới”. Cha con anh em họ Ban trong hơn hai mươi năm đã biên soạn trọn vẹn bộ Hán thư.
Gia tộc họ Ban nổi tiếng nhờ văn, sử và Nho học. Truyền rằng họ từng hình thành một dòng tư tưởng riêng, và các anh em họ Ban được ca ngợi là “thiên tài của chính sử”. Những bài phú như “Lưỡng đô phú”, “U thông phú” của Ban Cố và “Đông chinh phú” của Ban Chiêu thuộc loại văn chương có khí phách, mang ý nghĩa chính trị sâu sắc. Hán thư được đánh giá cao, phần lớn phản ánh mặt tích cực của thời đại. Hậu Hán thư chép rằng họ chỉ hành động vì đại nghĩa. Lại thêm sự dạy dỗ nghiêm khắc của gia đình, mỗi người đều giữ thái độ nghiêm túc: đi không nhìn ngang, nói không sai lệch. Đó là đức tính tốt của người viết chính sử, và cũng là lý do Hán thư được gọi là bộ sử chính tông.
Rừng chú giải quanh một bộ sử cổ
Hán thư viết bằng văn cổ nên cần nhiều chú giải. Từng có hơn hai mươi người tham gia chú thích, nhưng đáng tiếc phần lớn đã thất truyền. May mắn là có Nhan Sư Cổ cùng vài người đời Đường thu thập, chú giải, hợp thành bộ “Hán thư tân chú”. Đó là bản có chú giải đầy đủ nhất, được in sớm nhất vào khoảng niên hiệu Cảnh Hựu đời Bắc Tống. Ngoài ra còn có “Hán thư sơ chứng” của Vương Tiên Khiêm, gồm một trăm quyển. Nhờ đó đời sau có được một bộ Hán thư đồ sộ.
Toàn cảnh Tây Hán, và cách chép sử đổi khác Sử ký
Hán thư chép đầy đủ lịch sử Tây Hán. So với Sử ký, nội dung tăng lên nhiều, bổ sung được những sự kiện còn thiếu. Nhất là thời Hán Võ đế thịnh trị, bộ sử chép lại kỹ lưỡng, đồng thời bổ sung đầy đủ toàn cảnh xã hội Tây Hán lúc bấy giờ.
Thời gian chép bắt đầu từ năm thứ nhất đời Hán Cao Tổ (năm 206 trước Công nguyên) đến năm thứ tư niên hiệu Địa Hoàng của Vương Mãng (năm 23), tổng cộng hai trăm hai mươi chín năm. Phần trước Hán Võ đế chủ yếu dựa vào Sử ký của Tư Mã Thiên và có bổ sung khá nhiều. Phần từ Hán Võ đế về sau chủ yếu dựa vào “Sử ký hậu truyện” của Ban Bưu.
Trong các bộ Ký, trừ Vương Mãng ra, tất cả hoàng đế triều Tây Hán đều được chép đầy đủ. Hạng Vũ không phải hoàng đế nên Hán thư không có “Hạng Vũ bản ký” mà chuyển phần ấy vào “Trần Thắng Hạng Tịch truyện”. Riêng “Võ đế ký” có chỉnh lý thêm, và sau mỗi truyện đều có một câu “ca ngợi nói rằng”, toàn những lời đánh giá hoa mỹ. Hán thư cũng lược bỏ phần lịch sử gia tộc, đưa vào liệt truyện, đồng thời thêm một số truyện như truyện Huệ Đế, Vương Lăng, Ngũ Bị, Giả Sơn, Lý Lăng, Tô Vũ.
Từ Hán Võ đế trở về trước, tài liệu lấy từ Sử ký của Tư Mã Thiên; về sau bổ sung rất nhiều nội dung mới, gồm các loại chiếu thư, chiếu lệnh, làm sách sử mang thêm tính chính trị. Ví dụ truyện Giả Nghị bổ sung “Trị an sách”, truyện Triều Thố bổ sung “Giáo thái tử” và “Hiền lương sách”, truyện Đổng Trọng Thư bổ sung “Thiên nhân tam sách”, truyện Công Tôn Hoằng bổ sung “Hiền lương sách”.
Tóm lại, Hán thư là bộ chính sử, coi trọng tính chân thực của nhân vật và sự kiện, ít hư cấu, phần bình luận và chú thích tấu sớ, chiếu lệnh tăng lên rất nhiều. Quả thật đây là một bộ sử cổ kinh điển mang tính chính trị khá lớn. Hán thư còn ghi những sự kiện lớn của các dân tộc thiểu số qua “Hung Nô truyện”, “Tây Nam Di Lưỡng Việt Triều Tiên truyện” và “Tây Vực truyện”, là nguồn sử liệu quý về văn hóa các dân tộc ở vùng biên. Bộ sử có “Ngoại thích truyện” và đưa “Vương Mãng truyện” vào cuối bộ liệt truyện, cho thấy sự căm ghét của người viết đối với kẻ ngoại tộc đoạt quyền.
Sử một triều nhưng chép cả chính trị, kinh tế, khoa học
Hán thư là sử đồng đại, đặc điểm của loại này là “bao gọn một triều đại”, nên nội dung mở ra mọi lĩnh vực, mở thêm chiều ngang của lịch sử. Vì chỉ tập trung viết một triều đại, nội dung không chỉ có sử mà còn có chính trị, kinh tế, khoa học, văn hóa. Tám quyển Biểu và mười quyển Chí, đặc biệt là mười quyển Chí, ghi chép trung thực về kinh tế, khoa học, văn hóa triều Tây Hán. Nhờ cách làm ấy, bên cạnh các biến cố chính trị, người đọc còn tìm được trong bộ sử những tư liệu về thiên văn, địa lý, thủy lợi, tiền tệ và chế độ quan lại của một thời.
Tám thư của Sử ký gồm Lễ thư, Nhạc thư, Luật thư, Lịch thư, Thiên quan thư, Phong thiền thư, Hà cừ thư (sông suối kênh mương) và Bình chuẩn thư được sửa thành mười quyển Chí. Khi khai quật lăng tẩm, mộ chí, người ta còn phát hiện thêm Thiên văn chí, Thực hóa chí, Văn nghệ chí, Địa lý chí. Mười quyển Chí là một trong những phần giá trị nhất của Hán thư, bao gồm luật lịch, lễ nhạc, hình pháp, thực hóa, cầu khấn, thiên văn, ngũ hành, địa lý, văn nghệ.
“Thực hóa chí”: “thực” là kinh tế nông nghiệp, “hóa” là hàng hóa và tiền bạc. Tập Chí này ghi kinh tế, buôn bán, tiền đồng triều Hán, gắn sử sách với kinh tế một cách mật thiết. “Thiên văn chí” là Chí nổi tiếng nhất của Hán thư, ghi nguồn gốc văn sử thời trước Tây Hán cùng chú thích và mục lục thư tịch, có giá trị tư liệu rất cao. “Luật lịch chí”, “Lễ nhạc chí”, “Hình pháp chí”, “Cầu khấn chí” rất có giá trị cho việc nghiên cứu lịch sử cổ đại và lịch sử Tây Hán. “Địa lý chí” cung cấp tư liệu về địa lý, núi non sông nước, thủy lợi, đê điều. “Ngũ hành chí” ghi âm dương ngũ hành, trời đất, hạn hán lũ lụt. Các Chí thiên văn, ngũ hành, luật lịch, địa lý là tài liệu tham khảo quan trọng để nghiên cứu thế giới tự nhiên.
Tám quyển Biểu dựa theo sáu biểu của Sử ký, ghi nhân vật lịch sử triều Hán, lại biên soạn thêm “Cổ kim nhân vật biểu” và “Bách quan công khanh biểu”. “Cổ kim nhân vật biểu” liệt kê các nhân vật từ thời Thái Hạo cổ đại đến Ngô Quảng cuối Tần. “Bách quan công khanh biểu” là tập khá quan trọng, ghi quan tước, chức quyền, bổng lộc, việc thăng giáng bổ nhiệm bãi miễn của Tần Hán, là tư liệu quý để nghiên cứu chế độ quan trường đời Hán.
Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 3 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.
