Bài tổng quan
Hai mươi sáu bộ sử, từ Sử ký đến Thanh sử cảo
Một bộ sử chỉ được gọi là chính sử khi đủ ba điều: được triều đình thẩm định, chép đúng người đúng việc, và không phạm quy chế của nhà nước. Qua hơn năm nghìn năm, có hai mươi sáu bộ đủ ba điều ấy, nối nhau như một dòng chảy. Điều gì làm cho chúng trở thành cả một bộ bách khoa của văn hóa Trung Hoa?
Mục lục · 9 phần
- 01Hai mươi sáu bộ sử và cách chia ký, chí, biểu, truyện
- 02Sử ký và Hán thư: hai bộ mở đường
- 03Hậu Hán thư và Tam quốc chí: nối thành “tiền tứ sử”
- 04Tấn thư, Tống thư, Tùy thư: sử của thời Nam Bắc và nhà Tùy
- 05Cựu và Tân Đường thư, Cựu và Tân Ngũ đại sử
- 06Tống sử, Liêu sử, Kim sử, Nguyên sử
- 07Minh sử và Thanh sử cảo
- 08Ba điều kiện để một bộ sử được gọi là chính sử
- 09Nguồn tư liệu quý, một bộ bách khoa của văn hóa
Hai mươi sáu bộ sử và cách chia ký, chí, biểu, truyện
“Hai mươi sáu sử” là bộ chính sử của Trung Hoa, thu thập từ Sử ký cho đến sử triều Thanh, tổng cộng hai mươi sáu bộ sử đồng đại, ghi lại lịch sử từ thời tam hoàng ngũ đế đến cuối triều Thanh, dài khoảng năm nghìn năm. Đây là kho sử quý báu để các nhà sử học nghiên cứu lịch sử Trung Hoa.
Ban đầu từ Sử ký đến sử triều Minh có hai mươi bốn bộ nên gọi là “hai mươi bốn sử”. Sau đó thêm “Tân Nguyên sử”, thành hai mươi lăm sử. Đến cuối triều Thanh thêm một bộ “Sử triều Thanh”, gộp lại gọi là hai mươi sáu sử. Ngoài Sử ký là thông sử viết từ thượng cổ đến triều Hán, hai mươi lăm bộ còn lại đều thuộc thể truyện ký của sử đồng đại.
Hai mươi sáu bộ sử được chia thành các phần: Bản ký, Chí, Liệt truyện, Biểu và những phần khác. Bản ký ghi việc lớn của quốc gia, triều đình. Liệt truyện ghi những nhân vật lịch sử quan trọng. Biểu ghi các sự kiện lớn theo niên biểu. Chí ghi kinh tế, điển chương chế độ, điển tịch, khoa học, quân sự, nghệ thuật. Chẳng hạn chép khoa học có “Phương sử chí”, chép thư tịch có “Văn nghệ chí”.
Sử ký và Hán thư: hai bộ mở đường
Hai mươi sáu bộ sử có cùng một dòng chảy, và nguồn của dòng chảy ấy là hai bộ đầu.
Bộ đầu là Sử ký của Tư Mã Thiên đời Hán (năm 145 – 86 trước Công nguyên), hoàn thành từ năm Thái Sơ thứ nhất của Hán Võ đế đến giữa niên hiệu Chinh Hòa thứ hai (từ năm 104 đến năm 91 trước Công nguyên). Sử ký chép lịch sử Trung Hoa trong hai nghìn sáu trăm ba mươi sáu năm, từ Hoàng đế thời thượng cổ đến năm Nguyên Thú thứ nhất của Hán Võ đế (năm 122 trước Công nguyên), phần chủ yếu viết ở giai đoạn trước Hán Võ đế. Nội dung gồm: Bản ký mười hai quyển, Chí tám quyển, Biểu mười quyển, Thế gia ba mươi quyển, Liệt truyện bảy mươi quyển, tổng cộng năm mươi hai vạn sáu nghìn năm trăm chữ. Sử ký là bộ thông sử đầu tiên theo thể truyện ký, không theo thể biên niên truyền thống, là cột mốc đầu tiên đánh dấu sự phát triển của sử học nước nhà và ảnh hưởng rất lớn đến đời sau. Chính trong bộ này lần đầu ra đời tám “Thư”: Thiên quan thư, Lịch thư, Luật thư, Lễ thư, Nhạc thư, Phong thiền thư, Thủy lợi thư và Bình chuẩn thư.
Bộ thứ hai là Hán thư của Ban Cố, chép lịch sử Tây Hán từ năm thứ nhất đời Hán Cao Tổ đến năm Canh Thủy thứ hai của Lưu Huyền (năm 24). Toàn bộ gồm Ký mười hai quyển, Biểu tám quyển, Chí mười quyển, Liệt truyện bảy mươi quyển, cộng một trăm quyển. Hán thư là bộ sử đồng đại đầu tiên theo thể truyện ký, mở đầu tiền lệ cho sử đồng đại và ảnh hưởng đến việc biên soạn sử của các triều sau. Nó cũng mô phỏng thể truyện ký trong Sử ký, là tư liệu quý để nghiên cứu lịch sử Tây Hán, và còn được gọi là sử tiền Hán.
Hậu Hán thư và Tam quốc chí: nối thành “tiền tứ sử”
Hậu Hán thư do Phạm Diệp (398 – 445) đời Nam triều Tống biên soạn, chép toàn bộ lịch sử Đông Hán. Phần Ký và Truyện của Phạm Diệp gồm chín mươi quyển, cộng thêm phần Chí ba mươi quyển trong “Kế tục Hậu Hán thư” của Tư Mã Bưu đời Tấn, tổng cộng một trăm hai mươi quyển. Giống Hán thư, đây là sử đồng đại thể truyện ký, tập trung viết sử Đông Hán.
Tam quốc chí do Trần Thọ (233 – 297) đời Tấn biên soạn, chép từ năm cuối đời Linh đế Đông Hán, cuộc khởi nghĩa Khăn Vàng (năm 184), đến lúc Tây Tấn diệt Ngô (năm 280). Nội dung gồm “Ngụy chí” ba mươi quyển, “Thục chí” mười lăm quyển và “Ngô chí” hai mươi quyển. Đây cũng là sử đồng đại viết theo thể truyện ký, nhưng chỉ có Ký và Truyện mà không có Chí. Bộ sử chủ yếu viết thời kỳ Ngụy, Thục, Ngô, và là bản gốc cho “Tam quốc diễn nghĩa” của La Quán Trung.
Bốn bộ Sử ký, Hán thư, Hậu Hán thư và Tam quốc chí được đời sau gọi là “tiền tứ sử”.
Tấn thư, Tống thư, Tùy thư: sử của thời Nam Bắc và nhà Tùy
Tấn thư do Phòng Kiều đời Đường biên soạn, chép từ năm Thái Thủy thứ nhất (265) đến năm Nguyên Hy thứ hai (420), tổng cộng một trăm năm mươi sáu năm, gồm cả triều Đông Tấn và Tây Tấn, viết theo thể truyện ký.
Tống thư do Thẩm Ước (441 – 513) đời Lương biên soạn, chép từ năm 420 đến năm 479. Gồm Bản ký mười quyển, Chí ba mươi quyển, Liệt truyện sáu mươi quyển, cộng một trăm quyển. Khi nghiên cứu chế độ điển chương, có thể dùng Tống thư để bổ sung cho những chỗ tiền sử còn thiếu.
Tùy thư do Ngụy Trưng đời Đường biên soạn, hoàn thành năm Trinh Quán thứ mười (636), chép từ Tùy Văn đế đến Cung đế (từ năm 581 đến năm 618). Gồm Đế ký năm quyển, Truyện năm mươi quyển, Chí ba mươi quyển, cộng tám mươi lăm quyển. Tùy thư là sử liệu chủ yếu để nghiên cứu lịch sử triều Tùy, trong đó ba mươi quyển Chí là tư liệu chính về văn hóa nhà Tùy.
Cựu và Tân Đường thư, Cựu và Tân Ngũ đại sử
Cựu Đường thư do Lưu Hú đời Hậu Tấn biên soạn, hoàn thành năm Khai Vận thứ hai (945), chép từ năm Vũ Đức thứ nhất (618) đến năm Thiên Hựu thứ năm đời Đường Ai đế (908), khoảng hai trăm chín mươi năm. Gồm Ký hai mươi quyển, Chí ba mươi quyển, Truyện một trăm năm mươi quyển, cộng hai trăm quyển. Đây là tư liệu chủ yếu để nghiên cứu thời Đường thịnh vượng, bao gồm cả thời kỳ của Võ Tắc Thiên.
Tân Đường thư do Âu Dương Tu (1007 – 1072) đời Bắc Tống biên soạn, hoàn thành năm Gia Hựu thứ năm (1060), chép toàn bộ đời Đường. Gồm Bản ký mười quyển, Chí năm mươi quyển, Biểu mười lăm quyển, Liệt truyện một trăm năm mươi quyển, cộng hai trăm hai mươi lăm quyển. So với Cựu Đường thư, phần Bản ký của Tân Đường thư viết không tỉ mỉ xác thực bằng, nhưng phần Chí lại đầy đủ hơn.
Cựu Ngũ đại sử do Tiết Cư Chính đứng đầu nhóm biên soạn theo lệnh của Tống Thái Tổ vào những năm Khai Bảo. Tân Ngũ đại sử do Âu Dương Tu biên soạn đời Bắc Tống. Cựu Ngũ đại sử chép từ năm Khai Bình thứ nhất của Lương Thái Tổ đến năm Hiển Đức thứ sáu của Chu Cung đế (từ năm 906 đến năm 960), gồm Lương thư, Đường thư, Tấn thư, Hán thư, Chu thư. Tân Ngũ đại sử chép từ Hậu Lương đến Hậu Chu, gồm Bản ký mười hai quyển, Gia nhân truyện tám quyển, Đại thần truyện mười một quyển. Cả hai đều viết về thời Ngũ đại, bản cũ nặng về tả thực, bản mới thiên về bình luận, hai bộ bổ sung cho nhau để cùng hoàn thiện.
Tống sử, Liêu sử, Kim sử, Nguyên sử
Tống sử do quan phủ triều Nguyên tổ chức biên soạn, hoàn thành năm Chí Chính thứ năm (1345), chép từ Tống Thái Tổ, năm Kiến Long thứ nhất (960), đến Nguyên Thế Tổ, năm Chí Nguyên thứ mười sáu (1279), tổng cộng ba trăm hai mươi năm. Gồm Bản ký bốn mươi bảy quyển, Chí một trăm sáu mươi quyển, Biểu ba mươi hai quyển, Liệt truyện hai trăm năm mươi quyển, cộng bốn trăm tám mươi chín quyển. Tư liệu về Bắc Tống rất phong phú, là nguồn chính để nghiên cứu lịch sử triều Tống.
Liêu sử do Viện hàn lâm Quốc sử của triều Nguyên tổ chức thu thập và biên soạn, hoàn thành năm Chí Chính thứ tư (1344). Gồm Bản ký ba mươi quyển, Chí ba mươi hai quyển, Biểu tám quyển, Liệt truyện bốn mươi lăm quyển, một quyển giải quốc ngữ, cộng một trăm mười sáu quyển. Bộ này viết riêng về triều Liêu, tư liệu lịch sử nhìn chung còn ít, riêng phần Chí chép tương đối đầy đủ, nhất là điển chương chính trị của nhà Liêu.
Kim sử do Âu Dương Huyền cùng nhóm biên soạn đời Nguyên, hoàn thành năm Chí Chính thứ năm (1345), chép sử triều Kim (từ năm 1125 đến năm 1234). Gồm Bản ký mười chín quyển, Chí ba mươi chín quyển, Biểu bốn quyển, Liệt truyện bảy mươi ba quyển, cộng một trăm ba mươi lăm quyển, ghi lại lịch sử của tộc Nữ Chân triều Kim.
Nguyên sử do Tống Liêm cùng nhóm Vương Vĩ đời Minh biên soạn, bắt đầu từ năm Hồng Vũ thứ nhất của Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương (1368). Bộ sử chép từ Nguyên Thái Tổ Thành Cát Tư Hãn dựng nghiệp đến Nguyên Thuận đế (1206 – 1368), một trăm sáu mươi hai năm. Gồm Bản ký bốn mươi bảy quyển, Chí năm mươi tám quyển, Biểu tám quyển, Liệt truyện chín mươi bảy quyển, cộng hai trăm mười quyển. Chuyên viết về lịch sử triều Nguyên, phần Bản ký chép rất chi tiết, đầy đủ mười bốn đời hoàng đế nhà Nguyên.
Minh sử và Thanh sử cảo
Minh sử do nhóm Trương Đình Ngọc đời Thanh biên soạn, chép từ năm Hồng Vũ thứ nhất của Minh Thái Tổ (1368) đến năm Sùng Trinh thứ mười bảy của Trang Liệt đế (1644). Gồm Bản ký hai mươi bốn quyển, Chí bảy mươi lăm quyển, Biểu mười ba quyển, Liệt truyện hai trăm hai mươi quyển, Thổ ty mười quyển, cộng ba trăm bốn mươi hai quyển. Lịch sử triều Minh được viết theo thể truyện ký, sử liệu phong phú, tư liệu tỉ mỉ xác thực.
Thanh sử cảo do Thanh sử quán của thời Dân Quốc thu thập và biên soạn năm 1927, chép lịch sử ba trăm năm triều Đại Thanh, từ năm Vạn Lịch thứ bốn mươi bốn của Minh Thần Tông (1616) đến năm Tuyên Thống thứ ba (1911), tức từ thế kỷ 17 đến đầu thế kỷ 20. Lịch sử triều Thanh được viết theo thể truyện ký, là sử đồng đại. Sử liệu cực kỳ phong phú, gồm nhiều loại: thực lục, quốc sử, chiếu thư, điển chí, nhân vật, ký sự. Khối tư liệu khổng lồ ấy tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà sử học nghiên cứu lịch sử triều Thanh, kể cả giai đoạn cuối triều của Từ Hy.
Ba điều kiện để một bộ sử được gọi là chính sử
Hai mươi sáu bộ sử mở ra tiền lệ “chính sử” của Trung Hoa. Thời cổ đại, để được gọi là chính sử phải đủ ba điều kiện. Một là phải theo cương lĩnh của hoàng triều, được hoàng đế thẩm định, cử quan chức biên soạn. Hai là ghi chép lịch sử phải có chứng cứ thật, nhân vật và sự kiện thật, nhà sử học không được viết bừa viết ẩu. Ba là không phạm vào quy chế điển chương của quốc gia. Đã gọi là lịch sử thì phải tôn trọng sự thật lịch sử, có như thế mới cùng với Kinh Dịch, Kinh Thi, Thượng Thư, Lễ ký, Xuân Thu trở thành chính sử.
Nhìn chung chính sử thường do một người viết rồi lưu truyền trong dân gian, chưa qua triều đình thẩm định, nhưng cũng cần phân biệt rạch ròi chính sử với dã sử. Căn cứ ba điều kiện trên, Tư trị thông giám chỉ có thể xếp vào loại tương tự chính sử, và chỉ hai mươi bốn sử do hoàng đế Càn Long triều Thanh khâm định mới được coi là chính sử đích thực. Nếu Sử ký và Hán thư được hai mươi bốn sử thẩm định thì đó sẽ là hai bộ chính sử đầu tiên của Trung Hoa. Riêng hai mươi sáu sử đã có đủ ba điều kiện ấy để trở thành chính sử.
Nguồn tư liệu quý, một bộ bách khoa của văn hóa
Hai mươi sáu sử tổng hợp lịch sử từ triều Hán đến triều Thanh. Bộ sử ghi lại tiến trình lịch sử Trung Hoa dài hơn năm nghìn năm, từ Hoàng đế đến cuối triều Minh. Trong chiều dài ấy, hai mươi sáu sử đạt ba ưu điểm: tính hệ thống, tính tổng thể và tính móc xích. Nó tái hiện diện mạo Trung Hoa suốt hơn năm nghìn năm, giúp hiểu rõ nguồn gốc diễn biến sự kiện và quan hệ nội tại, qua đó nắm được những sự kiện lớn của lịch sử và quan hệ nhân quả trong việc thay đổi triều đại.
Hai mươi sáu sử là bộ thông sử được nối bởi nhiều bộ sử đồng đại, đã được hàng trăm nhà sử học, nhà chính trị học nghiên cứu, kiến giải tinh hoa lịch sử Trung Hoa hơn năm nghìn năm. Bộ sử mở ra bức tranh hoành tráng của lịch sử Trung Hoa năm nghìn năm.
Hai mươi sáu sử không chỉ là bộ sử đồ sộ mà còn là một tác phẩm văn hóa lớn, tập trung trí tuệ của các nhà sử học, nhà chính trị học qua hơn năm nghìn năm. Toàn bộ lấy lịch sử chính trị làm cương lĩnh, lấy quân sự, pháp chế, kinh tế, khoa học, văn nghệ, tôn giáo làm đối tượng, nên ngoài mục đích chính là chính trị còn nói tới thiên văn, địa lý, nghệ thuật, điển tịch, càng làm giàu thêm kho tàng văn hóa nước nhà. Các “Chí” của hai mươi sáu sử ghi lại lịch sử các triều đại, khiến nội dung càng phong phú. Sử ký là bộ sử đầu tiên mở mục “Chí” (tức các Thư), từ đó trở đi Hán thư, Tùy thư, Đường thư, Minh sử đều có các loại Chí khác nhau, nội dung phong phú và đa dạng hơn. Thật vậy, hai mươi sáu sử là một bộ bách khoa toàn thư để nghiên cứu lịch sử văn hóa Trung Hoa.
Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 3 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.
