Bài tổng quan
Đường, Khang Càn thịnh nhờ bớt thuế, chia ruộng, nghe can gián
Thơ Đỗ Phủ tả một thời gạo trắng thơm, kho đầy thóc, đường lớn chín châu tấp nập người qua. Cảnh ấy bắt đầu từ một vị vua chịu giảm thuế, bỏ xây cung điện và nghe cả lời can của bề tôi. Triều Thanh về sau cũng giữ được lòng dân, nhưng thành quả ấy lại mang theo một cái giá rất đắt.
Mục lục · 10 phần
- 01Đại Đường: hưng thịnh dài nhất, rực rỡ nhất
- 02Thái Tông giảm thuế, bỏ xây cung điện, cho dân về ruộng
- 03Ruộng chia đều, thuế nạp bằng sản vật thay cho phu phen
- 04Nghe lời can của hiền tài, bớt một phần ba quan thừa
- 05Mở trường, mở thi cử, mở cửa giao lưu
- 06Khang Càn: đỉnh cuối của thời phong kiến, cũng là lúc đóng cửa
- 07Khuyến nông: ba năm đầu khai hoang không đóng thuế
- 08Đổi tên chủ ruộng và bỏ thuế theo đầu người
- 09Dẹp Tam Phiên để giữ nước thống nhất
- 10Xóa ranh giới Mãn – Hán bằng chung một niềm tin vào Khổng Tử
Đại Đường: hưng thịnh dài nhất, rực rỡ nhất
Xã hội Đại Đường là thời hưng thịnh dài nhất trong lịch sử Trung Hoa, hưng thịnh trên mọi mặt: kinh tế, văn hóa, xã hội, trở thành nước giàu mạnh nhất châu Á thuở ấy. Thơ Đỗ Phủ còn lưu lại cảnh đất nước thanh bình, dân no ấm, gạo trắng thơm, kho đầy thóc, đường lớn chín châu thênh thang, người qua kẻ lại tấp nập.
Triều Đường kéo dài từ năm 618 đến năm 906, qua hai mươi đời hoàng đế, tồn tại hai trăm chín mươi năm. Đầu đời Đường, Thái Tông Lý Thế Dân lấy mình làm gương, sống cần kiệm liêm chính, dốc lòng cải cách chính trị, giảm bớt sưu cao thuế nặng, phát triển sản xuất. Kinh tế xã hội nhờ vậy đi lên và cục diện chính trị ổn định.
Đến những năm đầu đời Đường Huyền Tông, sau khi dẹp tan cảnh loạn trong triều chính, quyền lực trung ương được củng cố và đi vào ổn định, tạo tiền đề cho kinh tế xã hội phát triển. Dân giàu nước mạnh, biên cương không những được giữ vững mà còn mở rộng, buôn bán trong và ngoài nước đều phát đạt.
Kinh tế hưng thịnh kéo theo văn hóa hưng thịnh. Văn học, Phật học, kinh học nảy nở mạnh như măng mọc mùa xuân. Các nhà thơ lớn, nhà văn lớn, nhà viết truyện ngắn lần lượt ra đời. Đại Đường trở thành cái nôi của văn học cổ đại Trung Hoa, xứng đáng là thời kỳ rực rỡ nhất của thời cổ đại.
Thái Tông giảm thuế, bỏ xây cung điện, cho dân về ruộng
Một đất nước vừa qua mười năm binh lửa chỉ cần một điều trước hết: để cho dân được thở.
Lý Thế Dân là hoàng đế thứ hai của nhà Đường. Khi lên ngôi, ông đứng trước cảnh đất nước tiêu điều sau mười năm chiến tranh, mọi người đều trông chờ ông chấn hưng lại cơ đồ. Ông đề xướng khuyến nông, giảm nhẹ thuế má và phu phen tạp dịch, thi hành chính sách yên dân, không quấy nhiễu dân, khuyến khích dân lưu lạc trở về quê cũ làm ruộng. Dân chúng trôi dạt trong chiến tranh lũ lượt trở về, phấn khởi bắt tay vào sản xuất.
Để thuế nhẹ được thì triều đình phải bớt tiêu. Chính phủ giảm chi tiêu, không xây thêm cung đình miếu mạo. Ông cũng rút bài học từ vua Tùy Dạng Đế, giảm việc du ngoạn tuần hành và dừng việc xây cung điện ở Lạc Dương. Những biện pháp tích cực ấy làm tình hình lắng dịu, kinh tế được khôi phục và đi lên thêm một bước. Giảm thuế tức là giảm gánh nặng cho sức dân, tránh được tiếng xấu “tát cạn ao bắt cá”, và là tiền đề quan trọng để sản xuất phát triển.
Ruộng chia đều, thuế nạp bằng sản vật thay cho phu phen
Để khuyến khích làm ăn, triều Đường kế thừa các chính sách của người đi trước và cải cách thêm chế độ chia ruộng cùng thuế ruộng theo hướng có lợi cho kinh tế. Chế độ phân chia đều ruộng đất quy định: nam giới đến tuổi trưởng thành được chia hai mươi mẫu ruộng “vĩnh nghiệp điền” và tám mươi mẫu “khẩu phân điền”, loại ruộng chia theo nhân khẩu.
Thuế ruộng thì quy định mỗi năm nạp một lượng sản vật nhất định cho nhà nước. Để dồn sức cho sản xuất, nhà nước còn cho đổi: người nông dân nếu nạp một lượng sản vật nhất định thì được miễn đi phu phen tạp dịch, và ngược lại.
Nghe lời can của hiền tài, bớt một phần ba quan thừa
Rút kinh nghiệm từ vua Tùy Dạng Đế, người không nghe lời khuyên của hiền tài, Đường Thái Tông là một vị hoàng đế điển hình của việc dùng hiền, đãi sĩ, biết nghe lời hay lẽ phải. Có những bề tôi không sợ phạm long nhan, dám đứng ra can ngăn vua như Ngụy Trưng, Lưu Bạc, Sầm Văn Bản. Nhờ giỏi dùng người và biết nghe lời can gián, vương triều Đường tạo được một nhóm quân thần tốt đẹp, và đó là nhân tố căn bản giữ cho chính trị ổn định.
Từ Thái Tông Lý Thế Dân đến Huyền Tông Lý Long Cơ, các vua đều lấy mình làm gương, cần kiệm liêm chính, bổ nhiệm hiền tài. Họ còn tinh giản bộ máy. Riêng Đường Huyền Tông thời đầu giảm mạnh đến một phần ba số quan chức dư thừa, đồng thời thưởng phạt nghiêm minh. Làm được việc này trong thời cổ đại thật là đáng quý. Đường lối chính trị đúng đắn, trong sáng khiến lòng dân yên ổn, xã hội ổn định, và đó là một nhân tố quan trọng bảo đảm cho triều Đường hưng thịnh.
Mở trường, mở thi cử, mở cửa giao lưu
Triều Đường mở hàng loạt trường học và tổ chức thi cử, có ý nghĩa rất lớn trong việc chọn nhân tài cho đất nước. Văn hóa phồn thịnh sẽ thúc đẩy kinh tế phát triển, xã hội phồn vinh.
Lần đầu tiên trong lịch sử, triều Đường mở cửa giao lưu giữa Trung Hoa với các nước ở phương xa như Trung Á, nâng cao vị thế của Trung Hoa trên trường quốc tế. Triều Đường đã viết nên một trang sử huy hoàng.
Khang Càn: đỉnh cuối của thời phong kiến, cũng là lúc đóng cửa
Thời Khang Hy – Càn Long đời Thanh là giai đoạn hưng thịnh cuối cùng của xã hội phong kiến, đồng thời là lúc nước mạnh dân giàu nhất trong lịch sử Trung Hoa. Nhưng đó cũng là lúc đất nước bế quan tỏa cảng chặt chẽ nhất. Đóng cửa giữ cho vương triều ổn định, song thực chất là tự bó chân mình, khiến đất nước dậm chân tại chỗ, không đi lên được. Điều đáng sợ nhất là những vụ án oan vì văn tự, kìm hãm tư tưởng của người dân, tức là kìm hãm sự phát triển của văn hóa. Đó là hạn chế lớn nhất của thời này, ảnh hưởng không nhỏ đến sự hưng thịnh toàn diện của đất nước.
Từ Khang Hy đến Ung Chính rồi Càn Long, hơn một trăm năm kinh tế phồn vinh, dân số tăng nhanh. Khang Hy cầm quyền, trải qua tám năm vất vả dẹp giặc Tam Phiên, thống nhất Đài Loan, bình định Tây Tạng và vùng biên giới Tây Bắc, rồi mới bắt tay vào hàng loạt biện pháp khôi phục sản xuất, phát triển kinh tế, khuyến khích khai khẩn đất hoang, miễn giảm thuế, mở ra một tương lai hưng thịnh. Ông đặc biệt ban chính sách ưu đãi giới trí thức, hòa nhập hai tộc Mãn và Hán, làm tiền đề cho chính trị ổn định, kinh tế phồn thịnh và văn hóa xã hội phát triển.
Trên nền Khang Hy để lại, Ung Chính tiến thêm một bước. Ông thi hành chính sách “khuyến nông ức thương”, ban hành chế độ phân chia ruộng đất, giúp kinh tế đi lên vững vàng và làm tiền đề cho thời thịnh trị của Càn Long. Càn Long cầm quyền sáu mươi bốn năm, cục diện chính trị ngày một bền. Ông phát huy “thập toàn”, nhiều lần thân chinh dẫn quân bình định biên cương, mở rộng lãnh thổ. Bọn thực dân nước ngoài chỉ dám đứng nhìn thèm thuồng mà không dám xâm phạm bờ cõi, đủ thấy nước Trung Hoa đương thời giàu mạnh thế nào. Càn Long cũng chú ý đến sự nghiệp văn hóa, ra lệnh biên soạn bộ “Tứ khố toàn thư” nổi tiếng, đưa kinh học triều Càn Long lên tới đỉnh điểm.
Khuyến nông: ba năm đầu khai hoang không đóng thuế
Để phát triển nghề nông và khuyến khích khai khẩn đất hoang, Khang Hy ra lệnh bãi bỏ việc rào ruộng lập thái ấp riêng, nghiêm cấm quý tộc chiếm ruộng của nông dân. Nông dân lang bạt tha hương được trở về quê cũ, phấn khởi bắt tay vào sản xuất. Đồng thời ông đặt quy định: ruộng khai hoang ba năm đầu không phải nộp thuế, và quan chức được thăng hay giáng theo việc diện tích canh tác tăng hay giảm. Nhờ chính sách này, diện tích canh tác tăng vọt và sản xuất tăng nhanh.
Đổi tên chủ ruộng và bỏ thuế theo đầu người
Cái gọi là “đổi tên chủ ruộng” là lấy ruộng của đời Minh từng phong cho vương hầu quý tộc, chia lại cho những chủ ruộng trước kia đã bị trưng thu. Những chủ ruộng này được sở hữu vĩnh viễn ruộng của mình. Nông dân có ruộng, được truyền đời cho con cháu, thì hăng hái làm ăn hơn rất nhiều, và năng suất nhờ đó tăng lên.
Một cải cách nữa là bỏ cách đánh thuế theo đầu người, gộp thuế đinh vào thuế ruộng và không thu thuế kiểu cũ. Chính sách mới có lời hứa nổi tiếng: dân đông là thịnh thế và “vĩnh bất gia phú”, tức mãi mãi không tăng thuế. Dân số nhờ đó tăng nhanh, lên tới ba trăm tám mươi triệu người. Sức lao động tăng theo, góp phần lớn cho sản xuất phát triển.
Dẹp Tam Phiên để giữ nước thống nhất
Tam Phiên là ba người: Ngô Tam Quế, Thượng Khả Hỉ và Cảnh Tinh Trung. Họ có công lớn trong việc trấn áp khởi nghĩa nông dân nên được triều đình phong đất. Ngô Tam Quế là Bình Tây vương trấn thủ Vân Nam, Thượng Khả Hỉ là Bình Nam vương trấn giữ Quảng Đông, Cảnh Tinh Trung là Tĩnh Nam vương trấn giữ Phúc Kiến. Cả ba đều có quân đội riêng và mỗi người chiếm giữ một phương. Quân đội riêng, địa bàn riêng, mỗi người một phương như thế chính là thế cát cứ đe dọa chính quyền trung ương.
Để củng cố chính quyền trung ương, Khang Hy hạ lệnh giải thể đất phong. Chiến tranh nổ ra trong mười tỉnh, kéo dài tám năm. Bọn Ngô Tam Quế trước đây là những kẻ trấn áp khởi nghĩa nông dân, nên không được dân ủng hộ. Thêm nữa, cuộc phản loạn bùng lên đúng lúc triều Thanh đang hưng thịnh, chính trị thống nhất, dân đã yên ổn làm ăn. Chúng giương ngọn cờ “phản Thanh phục Minh” nhưng thời cơ chưa chín và đi ngược quy luật lịch sử, nên cuối cùng cuộc nổi loạn gây chia rẽ này bị dẹp tan.
Dẹp xong Tam Phiên, cục diện quốc gia ổn định, tạo điều kiện cho xã hội Khang Càn phồn thịnh. Quốc gia thống nhất, nội bộ đoàn kết là tiền đề của sự phát triển kinh tế xã hội.
Xóa ranh giới Mãn – Hán bằng chung một niềm tin vào Khổng Tử
Triều Thanh có thể nói là triều của người Mãn cai trị người Hán. Để xóa ranh giới giữa hai tộc, ba vị hoàng đế Khang Hy, Ung Chính, Càn Long đều cùng giữ một niềm tin vào Khổng Tử và Chu Tử, sùng bái Nho gia, đề xướng Nho học, mong làm cho dân hai tộc cùng tuân theo, qua đó rút ngắn khoảng cách. Hai vị vua Khang Hy và Càn Long nhiều lần đến Khúc Phụ tế Khổng Tử. Họ còn rất chú trọng nền văn hóa truyền thống, đề cao kẻ sĩ, mở trường học, tổ chức thi cử, chỉnh lý thi thư kinh điển và biên soạn nhiều bộ sách lớn như “Tứ khố toàn thư”. Kết quả cuối cùng là hai tộc Mãn – Hán hòa hợp, người Hán tiếp nhận người Mãn.
Khang Hy và Càn Long còn tăng cường quan hệ với người Mông Cổ và người Tạng, nhằm làm cho tư tưởng của dân chúng thống nhất. Qua đó họ đề xướng ý thức đoàn kết dân tộc, văn hóa thống nhất, xã hội ổn định.
Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 3 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.
