Bài tổng quan
Đạo Phật in dấu vào triết lý và nghệ thuật Trung Hoa
Tro hài cốt của một vị thầy được chia cho tám nước, mỗi nơi dựng một ngọn tháp. Hai nghìn năm sau, hơi thở của ngài vẫn nằm trong từ vựng, tranh tượng, tiểu thuyết và cả điệu múa của một xứ khác. Cái gì trong lời dạy ấy có sức ở lại lâu đến thế?
Triết lý của nỗi khổ và con đường ra khỏi nó
Gốc của đạo Phật là cái nhìn về nỗi khổ. Nhà Phật coi cuộc đời là bể khổ, và toàn bộ lý luận xoay quanh việc hiểu cái khổ ấy rồi tìm đường thoát ra. Giáo nghĩa nền tảng là tứ khổ đế. Bậc cao nhất của việc tu là Bồ Tát và Phật, cảnh giới trọn vẹn nhất của trí tuệ và đạo đức. Người tu Phật mong tự mình giác ngộ rồi giúp người khác giác ngộ, tức là đưa chúng sinh vượt khỏi bể khổ mà đi vào cõi Phật.
Nhà Phật đề cao tam thế luân hồi, nhân quả báo ứng. Trong đó có học thuyết nghiệp lực luân hồi, đưa quy luật nhân quả vào đạo đức, là phần quan trọng mà cũng khó nhất của Phật học, và liên quan mật thiết tới việc chia tông phái. Thiền học lấy tông chỉ thẳng vào lòng người, thấy tính thành Phật. Con đường tu thành Phật có trình tự căn bản là giới, định, tuệ. Cư sĩ Triệu Phác Sơ, từng đứng đầu hiệp hội Phật giáo Trung Hoa, nói đạo Phật có ảnh hưởng và tác dụng rất lớn đối với văn hóa Trung Hoa, và lịch sử nước ấy còn giữ lại di sản Phật giáo huy hoàng rực rỡ. Muốn tìm hiểu văn hóa Trung Hoa mà bỏ qua đạo Phật thì không trọn.
Một trong ba cột trụ của văn hóa Trung Hoa
Có những cột trụ không đứng một mình, mà được dựng từ vật liệu của nhiều nơi.
Triết gia Nhậm Kế Dũ từng nói ba giáo lớn của Trung Hoa, Nho, Đạo, Phật, là ba cột trụ lớn của nền văn hóa truyền thống. Văn hóa Trung Hoa bao gồm cả đạo Phật. Nó vừa là một tôn giáo, vừa là một nếp suy nghĩ, một sức mạnh văn hóa.
Đạo Phật hình thành vào khoảng thế kỷ thứ sáu trước Công nguyên, bắt nguồn từ miền Bắc Ấn Độ, lưu hành ở lưu vực sông Hằng. Người sáng lập là Thích Ca Mâu Ni, tức Tất Đạt Đa, thuộc họ Kiều Đạt Ma, sống cùng thời với Khổng Tử. Tro hài cốt của ngài được chia cho tám nước, thờ trong các tháp xá lợi, cho thấy tầm ảnh hưởng rộng lớn của ngài. Đạo Phật Ấn Độ chứa cả triết học, đạo đức học, tâm lý học, tác động đến nhiều mặt tư tưởng, văn hóa và khoa học tự nhiên. Kinh điển nhà Phật cũng chứa đủ thứ: xã hội, tư tưởng, triết học, lịch sử, văn học, mỹ thuật, nghệ thuật, kinh tế, luật pháp, ngôn ngữ, y học. Nổi tiếng nhất là bộ Đại tạng kinh, được xem như tập đại thành của tư tưởng, văn hóa và tôn giáo nhà Phật.
Đạo Phật vào Trung Hoa từ đời Hán, thịnh vào Đường Tống, cùng với Nho và Đạo góp phần tạo thành tâm lý và phẩm chất văn hóa của dân tộc này. Sở dĩ nó đứng vững là vì triết lý không của nhà Phật rất gần với chữ vô của Đạo gia, còn trung đạo quán cùng lòng đại từ đại bi lại gần với đạo trung dung và nhân nghĩa của Nho gia. Nên nó hòa nhanh vào tư tưởng Nho Đạo bản xứ để thành Phật giáo Trung Hoa. Dĩ nhiên vì là tôn giáo ngoại lai nên trong tư tưởng nó cũng bị dòng chính thống là Nho gia chèn ép, nhưng nó vẫn thấm vào nhiều tầng lớp, và ảnh hưởng đến văn hóa Trung Hoa từ cả mặt tích cực lẫn mặt tiêu cực.
Những ý tưởng nhà Phật mang đến cho tư duy
Dù là một tôn giáo, đạo Phật chứa nhiều tư tưởng rất giàu tính biện luận. Có thể điểm năm điều.
Mọi thứ đều đổi thay và dựa vào nhau
Thế giới vật chất luôn vận động, biến đổi, chỉ tạm sinh tạm diệt, không có gì vĩnh cửu. Đó là vô thường. Về mặt tinh thần cũng thay đổi không ngừng, đó là vô ngã. Cái không của nhà Phật nói rằng mọi sự vật luôn chuyển động, biến hóa, không có một thực thể vĩnh hằng, nên động tức là không, không tức là động. Đạo Phật còn cho rằng mọi vật nằm trong quan hệ hỗ tương: gọi là nhân duyên và duyên khởi, sự phát triển của vật nào cũng dựa vào nhân duyên, tức là nằm giữa điều kiện bên trong và điều kiện bên ngoài. Từ đó nhà Phật đặc biệt nhấn mạnh quan hệ nhân quả, làm cho tư tưởng nhân quả đi thêm một bước quan trọng. Thiên Thai tông với nhất niệm tam thiên, Hoa Nghiêm tông với lục tướng viên dung nói lên mối liên hệ phổ biến giữa vạn vật, rằng vật này vào vật kia, vật kia gồm vật này, giữa cái chung và cái riêng, giữa bản chất và hiện tượng, giữa cái tương đối và cái tuyệt đối.
Không có đấng tạo ra muôn vật
Nhà Phật không thừa nhận có một đấng tạo hóa. Muôn vật theo duyên mà khởi, tức là tùy điều kiện bên trong và hoàn cảnh bên ngoài mà sinh ra hay mất đi. Đó là một cách nhìn tiến bộ. Nhưng nhà Phật lại nhấn quá mạnh mặt biến đổi, cho rằng sự vật chỉ là sự tụ tán của nhân duyên, nên rốt cuộc phủ nhận cả sự tồn tại thật của sự vật; nói rằng các pháp duyên khởi tính không, tức không có tự tính.
Cảnh theo thức mà định
Dựa vào thuyết Duy thức, nhà Phật cho rằng thế giới bên ngoài, gọi là cảnh, chuyển theo ý thức của người; cảnh do thức định, cảnh không rời thức. Tinh thần là cái có trước. Nhưng đồng thời nhà Phật cũng nói rằng tinh thần và vật chất của con người dựa vào nhau mà tồn tại, nên Duy thức luận của Đại thừa thách thức mọi thuyết cho rằng có đấng tạo thế giới.
Nghiệp lực: sức vô hình trong tự nhiên
Nghiệp lực là một sức nhân quả ẩn trong tự nhiên. Cái gọi là nghiệp nhân quả báo chính là nội lực và lực kiềm chế vô hình tồn tại trong giới tự nhiên, lực ấy tác động sinh ra hành vi mới và kiềm chế nhân nghiệp quả báo. Đây là một thứ thần dụng nhưng không phải là thần có tình cảm và ý chí. Nó gồm cộng nghiệp và cộng báo, biệt nghiệp và biệt báo, tức là nghiệp riêng của từng người và nghiệp chung của một tập thể. Nhà Phật lại đem nguồn lực tiềm ẩn đó áp vào đời sống tinh thần, cho rằng nhân quả đạo đức cũng có nghiệp lực, tức quả báo thiện ác.
Tự do và tất nhiên
Phạm trù tự do và tất nhiên là hai mặt của một thể mâu thuẫn. Phạm trù tất nhiên nói sự vật có cái tất yếu của nó, không đổi theo ý muốn. Phạm trù tự do nói con người có thể chủ động, trong điều kiện nhất định có thể điều khiển sự vật. Hai mặt này vừa đối nhau vừa thống nhất. Nhà Phật phát triển mạnh phạm trù tự do, nói cảnh giới bên kia của sự tu là đại tự tại, đại tự do, viên dung vô ngại; nhưng nhấn quá mức thì tách tự do ra khỏi tất nhiên.
Gom lại, triết học nhà Phật tuy có phần đi cực đoan về tâm, vẫn chứa nhiều ý tưởng biện luận quý, và dù tích cực hay tiêu cực đều có ảnh hưởng sâu rộng, thúc đẩy giới học giả suy ngẫm về thế giới nội tâm, như việc bàn về tâm tính của Lý học Tống Minh.
Tâm lý và đạo đức: Duy thức, hạt giống và ngũ giới
Nếu muôn vật chỉ hiện ra qua tâm, thì người ta phải học cách nhìn vào tâm cho kỹ.
Trọng tâm của triết học nhà Phật là nghiên cứu thế giới bên trong con người chứ không phải nguồn gốc thế giới bên ngoài. Duy thức luận là hệ thống tiêu biểu, lấy Pháp tướng tông làm nơi truyền. Quan điểm chính là phủ nhận thế giới bên ngoài tồn tại độc lập, cho rằng vạn vật đều chỉ là thức; cảnh không rời thức, cảnh nương thức mà còn. Trên nền duyên khởi, Duy thức luận đưa ra thức A lại da, tức thuyết chủng tử, nghiên cứu quy luật suy nghĩ của tâm thức, đó là cốt lõi của học thuyết này. Việc nhà Phật nghiên cứu tâm lý, dù đứng trên lập trường riêng, vẫn chứa nhiều điều quý có thể tiếp thu. Ví dụ nhất niệm tam thiên của Thiên Thai tông cho rằng một ý niệm chính là hình ảnh thu nhỏ của ba nghìn cảnh giới, một niệm bao gồm tất cả cảnh giới và sự vật. Duy thức luận ẩn chứa quy luật của toàn bộ thông tin tâm lý và diễn biến ý nghĩ, rất đáng nghiên cứu. Nhìn từ góc độ triết học, tâm lý học nhà Phật còn thúc đẩy giới triết học Trung Hoa chuyển ánh nhìn từ thế giới bên ngoài vào thế giới bên trong.
Lý luận đạo đức nhân quả báo ứng tuy là tín ngưỡng, nhưng trên thực tế có tác dụng ngăn điều ác, khuyên điều thiện, ảnh hưởng tốt đối với luân lý của con người. Quan niệm bi khổ thúc đẩy sự phát triển của luân lý Trung Hoa. Ngũ giới của nhà Phật gồm cấm sát sinh, trộm cắp, phóng túng, nói bậy và uống rượu, có nhiều điểm giống ngũ thường của Nho gia là nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Tinh thần tự mình giác ngộ rồi giúp người giác ngộ, cứu độ chúng sinh của nhà Phật cũng cùng hướng với lòng lợi người của Nho gia. Lòng thương xót của nhà Phật, nhân ái của Nho và nhún nhường hòa nhã của Đạo hợp thành một sức mạnh xã hội, góp phần xây đạo đức luân lý Trung Hoa.
Màu chùa, nét tượng và con chữ thấm hơi Phật
Ảnh hưởng của nhà Phật với văn học, nghệ thuật Trung Hoa rất lớn. Văn chương, tiểu thuyết, thơ ca, điêu khắc, hội họa, thư pháp, âm nhạc, vũ đạo đều thấm nhuần hơi Phật. Chùa chiền, miếu mạo vàng son khắp nơi tuy thuộc tôn giáo nhưng cũng là biểu tượng của nghệ thuật. Những pho tượng tinh xảo, sống động, những bức tranh trên tường, trên hành lang phong phú rực rỡ. Nghệ thuật ở ba hang động Vân Cương, Long Môn, Đôn Hoàng như những bảo tháp nghệ thuật phương Đông, thúc đẩy điêu khắc, hội họa, kiến trúc của Trung Hoa tiến bộ.
Đại tạng kinh như một biển văn bao la tươi đẹp, là nguồn cảm hứng cho văn học. Tây du ký, Hồng lâu mộng mang tư tưởng nghiệp nhân quả báo của nhà Phật; truyện Chúc phúc của Lỗ Tấn mượn lý luận tam thế luân chuyển, thiện ác quả báo; Quách Mạt Nhược lấy Niết bàn đặt tên cho tác phẩm. Những quan niệm bi khổ, thương xót, phổ độ chúng sinh còn thấm vào rất nhiều tiểu thuyết, tản văn. Từ vựng nhà Phật cũng làm giàu tiếng Trung Hoa: tịnh hóa, khổ độ, từ bi, giác ngộ, chân tâm, nhân duyên, thanh quy, giới luật, siêu phàm nhập thánh, buông dao đồ tể, lập địa thành Phật, bể khổ vô biên. Thơ từ có ý cảnh đẹp, trí tưởng tượng phong phú, mong cầu một kiếp sau. Về múa, thời cận đại người ta lấy cảm hứng từ điêu khắc, bích họa Đôn Hoàng mà sáng tạo ra Vũ đạo thiền định rất riêng.
Gom lại, nhà Phật góp phần quan trọng vào sự phát triển của tôn giáo, triết học, tư tưởng, văn hóa, văn học nghệ thuật và cả y học Trung Hoa. Bởi vậy, đạo Phật là một bộ phận tạo thành văn hóa truyền thống nơi này, và muốn nghiên cứu văn hóa Trung Hoa thì không thể bỏ qua Phật học.
Nguồn: Dương Lực, Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 4, thuật lại có lược bớt.
