Bài tổng quan
Chòm sao tôn trăng, bóng người phân tán, cá tính Bảo Ngọc
Một người con gái nhảy giếng, một người lao đầu vào cột, một người thắt cổ, một người cắt tóc đi tu. Nhìn từng người là một số phận riêng, nhìn chung lại giống những mảnh của cùng một tấm gương. Còn chàng công tử vừa chạm tay vào phấn sáp đã bị cha cho là đồ tửu sắc, vì sao lại ném phăng viên ngọc…
Hàng trăm nhân vật, hai điểm sáng ở giữa
Cả bộ truyện có hàng trăm nhân vật, nhưng người đọc đi đến cuối vẫn thấy hai cái tên nổi lên, từ đầu chí cuối: Bảo Ngọc và Đại Ngọc. Cách bố cục này vừa tập trung vào điển hình, vừa tản ra rất độc đáo.
Để làm nổi nhân vật điển hình, nhiều đoạn dùng thủ pháp "chòm sao tôn nguyệt": quanh vầng trăng đặt thật nhiều ngôi sao nhỏ. Đoạn Đại Ngọc vào kinh đô, đoạn Bảo Ngọc chịu đòn đều được làm bằng kỹ xảo ấy. Việc nêu bật nhân vật chủ yếu và nhân vật đặc biệt cũng vậy: Nguyên Xuân thăm nhà, già Lưu vào vườn Đại Quan, Thám Xuân lo chuyện tiền nong, Phượng Thư giúp việc phủ Ninh đều dùng thủ pháp hướng tâm, để các nhân vật phụ làm nền cho nhân vật trung tâm.
Đoạn Phượng Thư giúp việc phủ Ninh được mọi người cho là tuyệt vời nhất. Bằng lối so sánh đối chọi, nó phơi bày hết mức cái tài giỏi, sắc sảo và thích chơi trội của Vương Hi Phượng.
Phép xếp thành nhóm và phép chia một người thành nhiều bóng
Có những gương mặt trong truyện không đứng riêng, mà giống một mảnh được cắt ra từ cùng một tấm áo.
Chia nhân vật theo nhóm là một thủ pháp độc đáo khác. Tần Khả Khanh, Tình Văn, Diệu Ngọc, chị ba Vưu, Uyên Ương, Kim Xuyến đều có hình bóng Đại Ngọc. Sử Tương Vân, Bảo Cầm, Tập Nhân, Bình Nhi, Hương Lăng lại gần gũi với Bảo Thoa. Lý Hoàn, Vương phu nhân và Nguyên Xuân là cùng một loại, còn sự sắc sảo của Thám Xuân rất giống Phượng Thư.
Về phía đàn ông, Liễu Tương Liên, Tần Chung, Chân Bảo Ngọc, Giả Lan và Giả Bảo Ngọc cùng một loại hình tượng. Bắc Tĩnh Vương, Giả Chính, Giả Kính là một loại; còn Giả Thuỵ, Giả Liên, Giả Trân, Giả Vân, Giả Dung, Giả Hoàn thì thuộc cùng một bọn.
Phép phân nhóm này còn gọi là phép xếp theo hệ phái. Trong giới nghiên cứu tìm ẩn ý của Hồng lâu mộng, nó được gọi là phép phân tả, phép phân thân: người viết giấu nhân vật chủ yếu vào một số người. Cách nói này bắt đầu từ cuốn "Hồng lâu mộng tỏa ẩn" của Vương Mộng Nguyễn và Thẩm Bình Am. Trong đó viết rằng sự tích Đổng Tiểu Uyển rất nhiều, là người đàn bà lấy hai đời chồng; một mình Đại Ngọc nhất định không tả hết được, nên người viết phải phân tả thành sáu người. Nghĩa là Lâm Đại Ngọc ẩn bóng Đổng Ngạc phi, rồi phân thân thành sáu người gồm Tần Khả Khanh, Tình Văn, Diệu Ngọc, Tiết Bảo Cầm và Tiết Bảo Thoa. Còn trong cuốn "Hồng lâu giải mộng", nhóm Hoắc Quốc Linh lại đề xuất Lâm Đại Ngọc là phản ảnh của Trúc Hương Ngọc, và căn cứ chủ yếu của họ cũng là phép phân thân nêu trong "Hồng lâu mộng tỏa ẩn"; họ cho rằng Đại Ngọc là hợp thân của Giả Nguyên Xuân, Tần Khả Khanh, Diệu Ngọc, Tình Văn.
Chính nhờ hợp tả và phân tả mà hình ảnh điển hình của Giả Bảo Ngọc và Lâm Đại Ngọc càng được tôn lên. Đặc biệt, phép phân tả bù đắp được chỗ thiếu của một vài nhân vật trung tâm khi thời gian dài, không gian rộng, bối cảnh lớn mà khó phản ánh đầy đủ tư tưởng chủ đề; nhờ vậy tính tư tưởng của văn chương tăng mạnh. Sự chống đối của nữ giới được chia ra qua nhiều người: Tình Văn lật hòm quần áo, Uyên Ương chống cuộc hôn nhân, Tứ Kỳ lao đầu vào cột, Kim Xuyến nhảy xuống giếng, chị ba Vưu thắt cổ, Tần Khả Khanh tự tận, Diệu Ngọc trốn đi tu. Nó sâu sắc hơn việc một mình Lâm Đại Ngọc đốt thơ cắt đứt mối tình.
Về phía nam giới, ngoài chuyện Giả Bảo Ngọc xuất gia vào cửa thiền, còn có Liễu Tương Liên cắt tóc đi tu, Phan Hựu An tuẫn tình hợp mộ… Chủ đề chống phong kiến của cả bộ truyện vì thế càng rõ nét. Đó là chỗ dụng tâm gian khổ của Tào Tuyết Cần khi dùng phép phân tả, đồng thời là giá trị nghệ thuật quan trọng của bộ truyện.
Mỗi người đều có mặt khuất, nên mới giống người thật
Một nhân vật chỉ có một màu thì dễ nhớ, nhưng không ai tin họ từng sống.
Nhân vật trong Hồng lâu mộng được điển hình hoá nhưng không bị công thức hoá, và đó là một nguyên nhân quan trọng khiến việc tả người thành công. Cá tính của họ không cứng nhắc như đúc khuôn: tính cách của từng người là sự phức tạp của con người xã hội đã được thống nhất lại, nên ai cũng đạt tới mức như đang sống. Xã hội rất phức tạp, cho nên nhân vật điển hình tuy cá tính phải rõ nét, vẫn không thể quá đơn thuần, nếu không sẽ thành công thức và cứng đờ. Tào Tuyết Cần và Cao Ngạc dùng thủ pháp tương phản, tương thành để cá tính hiện lên rõ như thật.
Vương Hi Phượng thâm hiểm, đanh đá, ác độc, nhưng cái ác ấy chỉ bộc lộ với những ai xâm phạm lợi ích của nàng: anh chồng Giả Liễn giấu giếm cưới chị hai Vưu làm vợ bé, Giả Liễn vụng trộm với vợ của Bào Nhị, Giả Thuỵ chặn đường trêu ghẹo nàng. Với hạng người ấy nàng không mềm tay, đó là ý thức tự bảo vệ trong một xã hội phức tạp. Ngược lại, trước sự phản kháng của Tình Văn và lần khám xét vườn Đại Quan, Phượng Thư lại bình thản, không ra oai tác quái. Khi Thị Thư, a hoàn của Thám Xuân, ra mắng vợ Vương Thiện Bảo, Phượng Thư chỉ cười mà nói:
Con bé này giỏi thật! Thực là chủ nào thì tớ nấy!
Tiết Bảo Thoa nhân hậu, nhưng cũng bị vạch ra bộ mặt giả dối. Khi Kim Xuyến nhảy xuống giếng, Vương phu nhân còn hối hận rơi lệ, vậy mà Bảo Thoa vẫn trách Kim Xuyến: sao lại có gan lớn như vậy, có gan như vậy cũng chẳng qua là hồ đồ, chẳng tiếc làm gì. Câu "cũng chẳng tiếc làm gì" làm lộ nguyên hình nàng.
Giả Bảo Ngọc vừa khẳng định phản kháng con đường kinh bang tế thế bằng việc làm quan, vừa mang bộ mặt công tử con nhà quý tộc ham chơi, hiếu sắc, không chịu học. Giả Mẫu vừa có mặt ăn uống chơi bời của một quý phu nhân phong kiến thực thụ, vừa có mặt hiểu việc nghĩa của người đàn bà gia tộc lớn: khi nhà họ Giả bị tịch thu, bà dốc vốn liếng cứu tế mọi nhà, nên mới nói "cho của thừa, Giả Mẫu hiểu nghĩa lớn".
Bình Nhi hiền thục, chính trực nhưng vẫn không sửa được cái nết nô tì thuận theo ý chủ. Uyên Ương cương quyết không làm vợ bé nhưng lại tuẫn tiết theo chủ. Diệu Ngọc đã trốn vào cửa thiền đi tu mà vẫn vương vấn đa tình với Bảo Ngọc. Giả Chính là người bảo vệ xã hội phong kiến điển hình, nhưng dạy con rất nghiêm và hiếu kính với mẹ, ít ai sánh kịp. Công tử phong lưu Tiết Bàn thậm chí nổi lòng dâm với Liễu Tương Liên, nhưng khi gặp cướp được Liễu cứu mạng, lại kết nghĩa anh em và nguyện đối xử với nhau theo nghĩa. Tập Nhân trung thành với chủ nhưng có tính xấu giả dối: nàng quỳ trước Vương phu nhân nói lo cho Bảo Ngọc, rằng chỉ cần người khác nói ra một tiếng xấu thì phẩm hạnh thanh danh một thời của cậu hai sẽ mất hết, trong khi bản thân từ lâu đã ngầm thử cuộc mây mưa với Bảo Ngọc.
Vì cá tính không công thức, nhân vật gây cho người đọc ấn tượng tự nhiên như thật. Đó cũng là một nét thành công của Tào Tuyết Cần và Cao Ngạc.
Cá tính phản nghịch của Giả Bảo Ngọc từ lúc hai tuổi
Một đứa trẻ chưa biết nói cho tròn câu đã chọn đúng thứ khiến người lớn nổi giận, và cả đời sau của cậu chỉ là bước tiếp con đường ấy.
Tạo hình nhân vật là hạt nhân thành bại của một bộ truyện, và tạo hình cá tính lại là hạt nhân của hạt nhân. Trong lịch sử văn học Trung Hoa, bộ Sử ký là mẫu mực khắc hoạ cá tính, còn cá tính nhân vật của Hồng lâu mộng là một kiệt tác đứng sau Sử ký và Tam quốc diễn nghĩa. Cá tính là tinh hoa của hình tượng nhân vật, trong đó Giả Bảo Ngọc và Lâm Đại Ngọc là hình tượng bất hủ; sở dĩ họ sống động như thật là nhờ tính cách được cá tính hoá rõ nét, thoát khỏi thói xấu "muôn người cùng một khuôn mặt".
Mâu thuẫn chủ yếu của truyện là giữa kẻ thống trị phong kiến và người bị thống trị, giữa kẻ chống phong kiến và người bảo vệ nó, và những cuộc đấu đá trong nội bộ bọn thống trị. Tào Tuyết Cần rất giỏi tả cá tính giữa những xung đột gay gắt: Bảo Ngọc bị đòn, Đại Ngọc đốt thơ đều là những chiêu tuyệt.
Cá tính của Bảo Ngọc chủ yếu là phản nghịch với lễ giáo phong kiến. Ngay từ đầu truyện đã nói rõ: mới hai tuổi, khi người ta để cậu "lấy vật đoán chí hướng", cậu chẳng lấy gì mà chỉ quờ lấy phấn sáp, trâm vòng. Chẳng trách lão gia Giả Chính giận dữ, nói sau này chỉ là đồ tửu sắc. Lời Lãnh Tử Hưng giới thiệu với Giả Vũ Thôn cũng đã vạch rõ tính cậu. Chính cậu hồi nhỏ từng nói:
Xương thịt của con gái là nước kết thành, xương thịt của con trai là bùn kết thành. Tôi trông thấy con gái thì người tôi nhẹ nhàng khoan khoái; trông thấy con trai thì như bị phải hơi dơ bẩn vậy.
Về sau còn nhiều tình tiết điển hình làm tăng cá tính ấy. Lần đầu gặp Đại Ngọc, cậu dứt phăng viên bội ngọc mà Giả Mẫu cho là bản mệnh của cậu, để lại ẩn bút cho chuyện chống đối "lương duyên vàng ngọc" sau này. Bài từ "Tây giang nguyệt" ở đầu truyện nói rõ nghĩa, vạch ra tổng cương cá tính của cậu:
Ngoài mặt mặc dù thanh tú, trong lòng rác rưởi chứa đầy.
Đần độn học hành lười biếng, việc đời chẳng biết dở hay.
Việc làm ngang trái tính ương gàn, quản chi miệng người chê trách!
Tiếp đó, truyện chú tâm tả cậu chống lại những lời giáo huấn quen thuộc của cha về "kinh bang tế thế theo đường làm quan": cậu không đọc sách kinh bang tế thế mà đọc "Tây sương ký", và có bị đòn cũng không chịu sửa. Việc cậu đồng tình với các nô tì là nội dung quan trọng của cá tính chống đối ấy; nỗi đau thương trước cái chết của Tình Văn và Kim Xuyến phản ánh cá tính tiến bộ của cậu. "Bài văn tế cô phù dung" làm để tế vong hồn Tình Văn lấy thiên "Ly tao" của Khuất Nguyên làm mẫu, là một bài trường ca khóc. Với danh nghĩa tưởng nhớ một nữ tì, thực ra nó là bài hịch lên án xã hội phong kiến. Bảo Ngọc ca ngợi Tình Văn:
Chất thì cao quý, vàng ngọc cũng thua; thân lại trắng trong, tuyết băng khôn sánh.
Tinh thần sáng suốt, át cả mặt trời, ngôi sao; nét mặt vui tươi, hơn hẳn trăng soi, hoa nở.
Nhất là những câu "Trộm nghĩ, từ lúc nữ nhi xuống cõi trần", "Nào ngờ bay quá cao chim độc ghen ghét", rõ là tiếng kêu bất bình trước cái chết của Tình Văn. Tấm lòng nàng cao hơn trời, giáng xuống trần thế mà chim ác không để nàng được bay cao. Bài văn tế ấy chính là lưỡi dao đâm vào cõi trần ô trọc.
Cá tính chống đối của Bảo Ngọc hình thành lâu dài, dần dần. Cái chết của Kim Xuyến, chị ba Vưu, Tình Văn, Tư Kỳ khiến cậu từng bước chạm vào bản chất của xã hội phong kiến; "Bài văn tế cô gái phù dung" là cái mốc đầu tiên trong sự phát triển ấy. Cái chết của Lâm Đại Ngọc tuyên bố tình yêu gỗ đá của cậu đã bị huỷ diệt, càng tạo thêm cá tính chống đối.
Rồi một loạt cảnh suy vong nối nhau: Nguyên phi qua đời, Thám Xuân bị gả đi xa, vườn Đại Quan lạnh lẽo, phủ Ninh bị khám xét, và sự suy vong của "con sâu trăm chân, chết mà không ngã" nơi các gia tộc phong kiến. Giả Bảo Ngọc thấy rõ nấm mồ của xã hội ấy, tính cách phản kháng của cậu càng thành thục. Vì thế, dù đã có cô vợ Bảo Thoa xinh tươi, hiền thục, cậu vẫn rời nơi trần thế, xuất gia để kết thúc mối duyên trần. Chuyện này tuy là tiêu cực, nhưng cũng phản ánh sự căm ghét cõi trần ô trọc. Trong thời đại lịch sử ấy, một công tử con nhà quý tộc gặp nạn, cả đời không ăn nhập với thời thế; cậu chọn con đường như vậy, ngày nay cho là tiêu cực, nhưng trong điều kiện lúc đó là một sự chống đối câm lặng, cũng là đỉnh điểm của cá tính chống đối.
Cá tính tự do của Giả Bảo Ngọc còn biểu hiện ở chỗ lấy câu nói "không nói lời bậy bạ" của Lâm Đại Ngọc làm cơ sở cho tình yêu tâm đầu ý hợp; còn việc xuất gia chính là cắt đứt hoàn toàn với con đường làm quan của xã hội phong kiến. Cá tính ấy hình thành trong một bối cảnh xã hội: nó đại biểu cho thời kỳ cuối của xã hội phong kiến, lúc mầm mống tư tưởng dân chủ tư bản manh nha, nên có nguồn gốc xã hội và là điều tất yếu của lịch sử.
Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 2 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.
