Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Khuyên Thiện

Bài tổng quan

Ba cách thống nhất thiên hạ của Dương Kiên, Triệu Khuông Dận, Hốt Tất Liệt

Đạo Học - Khuyên Thiện03/10/202611 phút đọc1 lượt đọc
Ba cách thống nhất thiên hạ của Dương Kiên, Triệu Khuông Dận, Hốt Tất Liệt

Một vị tướng mượn chén rượu để thu lại binh quyền của bạn đồng đội, một vị khác dựng nghiệp nhờ tám năm lặng lẽ sửa mình, một vị hãn học đạo trị nước của chính người mình sắp cai trị. Ba người, ba con đường, và một câu hỏi chung: làm sao giữ được lòng người…


Dương Kiên: tám năm sửa mình để bốn tháng diệt Trần

Năm 581, Tùy Văn Đế Dương Kiên đoạt chính quyền Bắc Chu, lập nhà Tùy. Qua tám năm gian khổ vun đắp, nhà Tùy ngày càng mạnh và cuối cùng diệt Nam triều nhà Trần, chấm dứt ba trăm năm chia cắt Nam Bắc kể từ cuối Tây Tấn.

Một bậc minh quân trong thời cần có minh quân

Dương Kiên sinh trong một gia đình danh tiếng. Cha là Dương Trung, công thần nổi tiếng của Bắc Chu, con gái ông là hoàng hậu của Chu Tuyên Đế, nên ông giữ nhiều chức quan trọng như đại tư mã. Khi Chu Tuyên Đế băng hà, Chu Tĩnh Đế tám tuổi nối ngôi, Dương Kiên với danh đại thừa tướng nắm thực quyền, khuynh đảo triều chính, rồi ép cháu ngoại nhường ngôi, tự ngồi vào ngai, đổi quốc hiệu thành Tùy.

Từ lâu ông đã mang hoài bão thống nhất Nam Bắc, nhưng sau khi đoạt ngôi chưa vội diệt Trần mà trước hết thực hiện hàng loạt chính sách chấn chỉnh quan lại và lo việc nước, để tạo điều kiện cho việc thống nhất. Đúng lúc đó, Trần Thúc Bảo ở Nam triều tự xưng là vị thiên tử vô lo, suốt ngày mơ mộng quanh cung tần mỹ nữ, hoang dâm vô độ, làm Nam triều ngày càng yếu, tạo cơ hội cho Dương Kiên. Ông là người thực dụng, lên nắm quyền là thanh trừ ngay kẻ không cùng phe, tăng cường chính quyền, tích cực chuẩn bị vật chất cho việc diệt Trần. Sau tám năm chuẩn bị nhà Tùy giàu mạnh, chỉ trong bốn tháng diệt xong nhà Trần, thành toàn thắng, thống nhất đất nước.

Cải cách từ ruộng đất, bộ máy đến sổ hộ khẩu

Nam mạnh bắc yếu là tình thế được tính trước để lấy phương nam thống nhất phương bắc. Từ khi lập triều, dưới Tùy Văn Đế đã thi hành nhiều cải cách tiến bộ. Trước hết là chế độ chia đều ruộng đất: đàn ông từ mười tám tuổi trở lên được chia một trăm mẫu, trong đó hai mươi mẫu là ruộng tư truyền được cho đời sau, kích thích nông dân. Lại có quy định nộp sản vật thay cho phu dịch để sức lao động ổn định, không thiếu hụt, nông nghiệp lên, kinh tế phát triển nhanh.

Bước hai là cải cách bộ máy quan lại, đặt chế độ ba tỉnh sáu bộ. Ba tỉnh gồm Thượng thư tỉnh, Môn hạ tỉnh, Nội sử tỉnh. Sáu bộ gồm Lại, Lễ, Binh, Hình, Hộ, Công. Chế độ ấy tồn tại hơn một nghìn năm, đến tận đời Thanh. Bước cuối là kiểm tra dân số trên quy mô chưa từng có để bảo đảm thu thuế, việc làm đánh vào bọn quý tộc cường hào hay khai thụt nhân khẩu kiếm lợi, nên số thuế thu được tăng nhiều, đáp ứng nhu cầu của quốc gia. Nhờ vậy chính quyền Tùy vững hơn, kinh tế nhanh chóng khởi sắc, làm cơ sở cho việc bắc phạt thành công.

Triệu Khuông Dận: chén rượu tước binh quyền và lòng người

Năm 960, đại tướng hậu Chu là Triệu Khuông Dận phát động binh biến Trần Kiều, cướp chính quyền hậu Chu, lập nên nhà Tống, tức Tống Thái Tổ. Sau mười ba năm gian khổ, ông lấp đầy con sông chia cắt hai miền Nam Bắc, kết thúc thời mười nước tồn tại qua năm đời suốt hai trăm năm, và thống nhất đất nước một lần nữa.

Một vị tướng ham đọc, ham nghĩ xa

Triệu Khuông Dận là danh tướng hậu Chu, võ nghệ cao cường, dũng cảm thiện chiến, chỉ vài năm đã được đề bạt làm thống soái cấm quân. Dáng người oai phong, lòng can đảm và trí hiểu biết hơn người. Ông từng theo Chu Thế Tông nam chinh bắc chiến. Chu Thế Tông là vị vua ưa hành động, ôm chí thống nhất Nam Bắc, và Khuông Dận cũng có hoài bão ấy.

Sau khi được tướng sĩ "khoác áo hoàng bào" suy tôn làm vua, ông hiểu sâu một điều: muốn thống nhất bên ngoài thì trước tiên phải thống nhất bên trong. Thế là ông "mượn chén rượu tước binh quyền", trong bữa tiệc dùng chén rượu để thu lại binh quyền của các công thần, tập trung binh quyền vào tay hoàng đế, chuẩn bị về quân sự cho đại nghiệp. Ông kế thừa cải cách của hậu Chu, thưởng cho người khai khẩn đất hoang, khuyến khích nông dân về quê làm ruộng, dùng thuế ruộng thấp để giảm gánh nặng cho nông dân, kích thích sản xuất, chuẩn bị vật chất cho việc thống nhất. Ông theo chủ trương của Triệu Phổ, tăng cường cấm quân, độc quyền chấp chính, diệt tận gốc mối họa binh biến. Quân sự, chính quyền, tài chính đều tập trung cao độ vào hoàng quyền, thấy được tầm nhìn xa về chính trị.

Đánh Nam trước, Bắc sau

Ông không chỉ trực tiếp dự hàng trăm trận mà còn ham đọc sách, có khi ra trận còn mang theo một xe sách, nên có tài thao lược trị nước dùng binh. Ông rút bài học từ phương án "bắc trước nam sau" của Chu Thế Tông, theo sáng kiến của Triệu Phổ đổi thành "nam trước bắc sau, dễ trước khó sau, đánh từng nước một". Khi ấy tình thế là phía nam yếu, phía bắc mạnh, nên sau khi lấy được phương nam sẽ lấy đó làm hậu phương lớn để lên đánh phương bắc. Thực tế đã chứng minh tính đúng đắn. Ông lấy phương nam làm căn cứ chiến lược, lần lượt phá hậu Thục, Nam Hán, Nam Đường và các nước khác, mười ba năm rong ruổi sa trường, đến khi mất chỉ còn liên minh người Khiết Đan ở phía bắc, còn lại các nước đều bị chinh phục. Có lần vì muốn nhanh chóng thống nhất, ông trái phương án, thân chinh đánh Bắc Hán nhưng không thành, đành quay lại phương án cũ, rồi mới chuyển bại thành thắng.

Cách trị nước để được lòng người

Tống Thái Tổ là bậc vua văn võ song toàn, không chỉ tinh thông binh pháp mà còn thuộc lòng đạo lý trị nước. Ông sùng bái nhân nghĩa của Khổng Tử, hiểu sâu đạo lý "người nhân không có đối thủ", có nhân nghĩa mới được lòng dân, nên ban hàng loạt chính sách an dân. Ông khoan hồng với quần thần và bại tướng của các nước đã mất, giữ lại một số quan cũ, cho họ cuộc sống tương đối khá, làm yên lòng người mất nước. Ông giữ kỷ luật quân đội rất nghiêm: quân đến đâu không được quấy nhiễu dân, không được cướp tài sản, không được giết người vô tội, nên rất được dân tin yêu.

Từ loạn An Sử, nước Trung Hoa đã rơi vào cảnh mười nước phân tranh trong năm đời, mỗi nước một chỗ, cản trở nặng nề kinh tế, chiến tranh liên miên, dân khổ, nhất là các nước nhỏ, kinh tế yếu hay bị cướp phá, nên dân hai miền đều chung một khát vọng thống nhất. Phía bắc có Bắc Hán, Liêu, phía nam có mười nước, Bắc Tống bị kẹp ở giữa, trước sau đều là địch, tình thế rất nguy, buộc phải chủ động mở chiến tranh để tự bảo vệ. Thái Tổ thuận theo nguyện vọng của dân, tiếp nối công của Sài Vinh nhà hậu Chu đã thống nhất một số nước phía bắc. Vì được lòng dân nên ông được dân phương nam ủng hộ, họ tích cực sản xuất, bảo đảm đủ lương thực làm hậu thuẫn cho đại nghiệp.

Thái Tổ dốc hết sức cho việc thống nhất Nam Bắc, đến lúc mất ý chí ấy càng thêm, nhưng chỉ thống nhất được hơn nửa lãnh thổ, đặt nền cho Tống Thái Tông Triệu Quang Nghĩa đánh bại Bắc Hán sau này. Bắc Tống thái bình hưng thịnh được bốn năm thì năm 979 Triệu Quang Nghĩa đánh bại Bắc Hán, từ đó anh em họ Triệu qua mười bảy năm gian khổ đã kết thúc thời phân liệt dài, thống nhất đất nước.

Hốt Tất Liệt: người ngoại tộc mượn phép Hán để giữ đất Hán

Năm 1279, Hốt Tất Liệt diệt Nam Tống, kết thúc thời phân liệt dài hơn ba trăm năm, thống nhất Liêu, Hạ, Kim, Tống, tuyên bố chấm dứt thời kỳ chia cắt triền miên ở Trung Hoa.

Một vị hoàng đế học đạo trị nước của người Hán

Hốt Tất Liệt tức Nguyên Thế Tổ, sống từ 1215 đến 1294, tại ngôi ba mươi bốn năm từ 1260. Ông là người hoài bão lớn, khi còn làm phiên vương đã có chí "làm việc lớn để có thiên hạ", nên bí mật nghiên cứu văn hóa Hán, kính trọng Nho sĩ người Hán như bậc thầy, chăm học "đạo trị nước" của Nho học, làm nền cho tư tưởng "dùng phép Hán" sau này. Hoàng hậu cũng nghiêng về lối trị của người Hán, càng khuyến khích ông quyết tâm dùng cách ấy.

Từ khi lên ngôi, ông ban hàng loạt chính sách "lấy phép Hán trị người Hán" để hòa hai tộc Mông Hán: giữ lại các Nho thần của vương triều Trung Nguyên, mở trường học, khôi phục việc chấn chỉnh quan lại, khuyến khích nông và thương, đổi thói du mục của người Mông, sửa đường sá, thủy lợi, khích lệ thủ công nghiệp, lập đồn điền. Các chính sách ấy được người Hán ủng hộ. Về triều chính, ông cải cách các quy định cũ, theo pháp luật Hán, lập bản đồ hành chính theo tỉnh, tăng quyền trung ương quản địa phương. Theo Kinh Dịch, ông đổi quốc hiệu từ "Đại Càn Nguyên" thành "Đại Nguyên", đặt đại đô ở Bắc Kinh, dựa trên pháp luật người Hán để dựng chính quyền cai trị các tộc ở Trung Nguyên. Hàng loạt chính sách ấy xúc tiến hòa hợp các tộc, kinh tế vùng Trung Nguyên khởi sắc, làm nền vững cho việc thống nhất.

Dẹp loạn trong nhà rồi mới đánh ngoài

Sau khi anh là Mông Ca mất, Hốt Tất Liệt nối ngôi đại hãn, nhưng em trai còn nhỏ là A Lý Bất Ca không chịu, cũng xưng đại hãn đóng ở Hòa Lâm để đối địch, nên xảy ra cảnh huynh đệ tương tàn tranh ngôi. Năm 1264 Hốt Tất Liệt đánh bại em, củng cố ngôi vị. Cùng lúc tướng người Hán chiếm cứ Tế Nam nổi loạn, ông dẫn đại quân dẹp yên. Nội loạn đã dứt, tạo điều kiện thuận lợi cho việc diệt Tống.

Nam Tống mục nát mở cửa cho ngoại tộc

Huy Tông và Khâm Tông của Bắc Tống bị quân Kim bắt, con thứ chín của Huy Tông là Triệu Cấu lên ngôi ở Nam Kinh, lập Nam Tống, sau dời đô về Lâm An, tức Cao Tông. Triều Nam Tống từ khi lập đến khi mất qua chín đời vua. Triệu Cấu an phận thủ thường, tin dùng tiểu nhân, nghe phái chủ hòa, giết tướng Nhạc Phi thuộc phái chủ chiến, quỳ gối đầu hàng Kim, dân vô cùng phẫn nộ. Mấy đời vua sau đều hủ bại bất tài, không thu lại được đất đã mất, thêm thuế má phu dịch nặng nề, mâu thuẫn xã hội gay gắt, nông dân khắp nơi nổi dậy. Đến cuối Nam Tống, Lý Tông, Độ Tông ngày càng hồ đồ, hoang dâm, tin tiểu nhân, triều đình sa đọa, cuối cùng bị quân Nguyên diệt. Sự mục nát bên trong triều Nam Tống là cơ hội tốt để nhà Nguyên thống nhất.

Vì sao một tộc thiểu số giữ được cả đất nước

Nhà Nguyên khởi từ các dân tộc ở vùng biên giới tây bắc, nhanh chóng giàu mạnh, không những diệt Nam Tống mà thống nhất cả Trung Hoa, đồng hóa thành công các tộc, mở rộng bờ cõi rộng chưa từng có. Công lớn thuộc về Hốt Tất Liệt, nhờ giỏi "dùng phép Hán" nên được đông đảo người Hán ủng hộ. Trong lịch sử, tộc thiểu số thống nhất được Trung Hoa chỉ có hai triều là Nguyên và Thanh, vì hai triều ấy thực hiện tốt chính sách dân tộc. Công của Hốt Tất Liệt cũng tạo điều kiện cho Khang Hy nhà Thanh dựng đất nước thái bình hưng thịnh.

Nguồn: Dương Lực, Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 3, thuật lại có lược bớt.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Khuyên Thiện