Bài tổng quan
Tôn Tử, Tôn Tẫn và nghệ thuật thắng mà không cần đánh
Người giỏi dùng binh thì không cần đánh mà khuất phục được kẻ thù, không cần tấn công mà lấy được thành. Hai ông họ Tôn, cách nhau mấy thế hệ, cùng để lại những điều mà hàng nghìn vạn người cầm quân vẫn còn học…
Mục lục · 6 phần
- 01Hai bộ binh thư, hai ông họ Tôn và một mạch nối chặt chẽ
- 02Toàn quốc vi thượng: không cần đánh mà khuất phục
- 03Biết người biết ta, trăm trận trăm thắng: năm điều phải biết
- 04Chín phép cơ mưu quyền biến của nhà binh
- 05Mười điều Tôn Tẫn dạy: chính nghĩa, tinh binh, thế trận và lòng dân
- 06Hai nghìn năm trăm năm vẫn còn nguyên sức sống
Hai bộ binh thư, hai ông họ Tôn và một mạch nối chặt chẽ
Binh pháp Tôn Tử là bộ binh thư nổi tiếng của Trung Hoa thời xưa, do Tôn Vũ thời Xuân Thu viết, hoàn thành vào cuối thời Xuân Thu, cách đây khoảng 2500 năm. Bộ binh thư gồm mười ba thiên, nội dung phong phú về mưu lược và triết lý dụng binh, là một tuyệt tác bất hủ về quân sự, đồng thời là bộ binh thư đầu tiên của Trung Hoa và cũng là tác phẩm lý luận quân sự ra đời sớm nhất thế giới. Về tư tưởng quân sự, chiến thuật và chiến lược, nó trở thành tổng hợp cho cả hệ tư tưởng quân sự Trung Hoa cổ và ảnh hưởng lớn đến tư tưởng quân sự của Trung Hoa lẫn thế giới.
Binh pháp Tôn Tẫn ra đời sau, do Tôn Tẫn thời Chiến Quốc viết. Tôn Tẫn là cháu đời thứ tư của Tôn Vũ, và hai bộ binh thư có tính nối tiếp rất hợp lý, khoa học. Đó là bộ binh thư mang triết lý sâu sắc, chứa nhiều nội dung phong phú về chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng, giá trị quân sự ngang với Binh pháp Tôn Tử. Cả hai bộ đều ảnh hưởng lớn đến quân sự, chính trị, văn học, văn hóa, triết lý, mưu lược kinh tế, y học, thiên văn và địa lý của Trung Hoa, và đến nay vẫn lôi cuốn người đọc.
Tôn Vũ và Tôn Tẫn đều là những nhà tư tưởng quân sự nổi tiếng, đều dấn thân vào chiến trận của thời Xuân Thu, Chiến Quốc. Từ kinh nghiệm trận mạc phong phú, hai ông đúc ra hàng loạt quy luật quân sự. Cả hai đều sống vào thời kỳ nghiên cứu triết học duy vật đã đạt thành tựu nhất định; những tư tưởng triết học ấy trang bị cho đầu óc nhà binh và được họ vận dụng sáng tạo vào chiến tranh, nên tư tưởng quân sự đương thời phát triển mạnh. Hai bộ binh thư trở thành tổng hợp tư tưởng và sách lược quân sự của cả một giai đoạn lịch sử. Binh pháp Tôn Tử còn truyền sang Nhật Bản, Anh, Pháp, Đức, Nga…, được đông đảo nhà quân sự trong và ngoài nước đánh giá cao. Tư tưởng và triết lý của hai bộ đã chỉ đạo hàng trăm nghìn cuộc chiến từ xưa đến nay, trang bị cho hàng nghìn vạn nhà quân sự, nhà chỉ huy, đồng thời thuyết phục, lôi cuốn bao nhà triết học, chính trị, thương gia, và sức ảnh hưởng ấy không hề giảm cả trong thời hiện đại hóa ngày nay.
Toàn quốc vi thượng: không cần đánh mà khuất phục
Trong muôn vàn cách thắng, người xưa xếp cách thắng mà không đổ máu lên hàng đầu.
Phàm dụng binh chi đạo, toàn quốc vi thượng, phá quốc thứ chi.
Đây là câu nguyên văn trong thiên Mưu công của Binh pháp Tôn Tử, ý nói Tôn Tử rất nhấn mạnh việc dùng chính trị để thắng địch, luôn tốt hơn dùng vũ lực. "Toàn quốc vi thượng" nghĩa là không cần chiến tranh mà buộc đối phương khuất phục là thượng sách. Ngược lại "phá quốc thứ chi" là dùng vũ lực buộc đối phương đầu hàng, là hạ sách. Vì vậy Binh pháp Tôn Tử luôn nhấn mạnh dùng mưu trí để thắng địch là thượng sách, dùng vũ lực tấn công để giành chiến thắng là hạ sách.
Tôn Tử đề cao việc dùng chính trị thu phục đối phương hơn nhiều so với dùng vũ lực. Ông nói người giỏi dùng binh thì không cần đánh mà thu phục được kẻ thù, không cần tấn công mà lấy được thành, không cần tiến hành chiến tranh mà lấy được nước, và tất sẽ nắm được thiên hạ. Ông đề cao mặt trận chính trị hơn mặt trận quân sự vì cho rằng chiến tranh gây đau khổ nhất cho muôn dân, và là việc hệ trọng nhất của một đất nước, quan hệ đến sự tồn vong của dân tộc. Tư tưởng nhìn xa trông rộng ấy đã chỉ đạo hàng trăm nghìn nhà chỉ huy, nhà chính trị, giúp họ không cần động binh mà đã thống lĩnh thiên hạ.
Biết người biết ta, trăm trận trăm thắng: năm điều phải biết
Câu nói nổi tiếng nhất của binh thư hóa ra chứa trong mình cả một bảng kiểm gồm năm điều.
Câu "biết địch biết ta, trăm trận trăm thắng" cũng ở thiên Mưu công. Ý tưởng sáng suốt ấy đã khơi gợi cho bao tướng sĩ và được vận dụng chỉ đạo cho bao cuộc chiến. Nội dung cụ thể của sách lược biết địch biết ta gồm năm điều: thứ nhất phải biết đạo, thứ hai phải biết trời, thứ ba phải biết đất, thứ tư phải biết tướng, thứ năm phải biết pháp.
Đạo ở đây là trên dưới đồng lòng, muôn người như một, có vậy nhân dân mới bất chấp gian khổ hy sinh mà tham gia chiến đấu hay phục vụ chiến đấu. Tôn Tử muốn nói nhân tố quyết định thắng bại là tính chất cuộc chiến phi nghĩa hay chính nghĩa, vì chỉ cuộc chiến chính nghĩa mới tạo được sự đồng lòng nhất trí từ trên xuống dưới, từ lãnh đạo đến thường dân. Tóm lại phải để nhân dân, tướng sĩ và triều thần hiểu rõ tính chất và mục đích của chiến tranh.
Trời là nghiên cứu thiên thời để nắm điều kiện có lợi, tránh ngoại cảnh bất lợi, như tiết trời, khí hậu, giờ khắc. Đất là nghiên cứu địa hình, địa lợi, xem thuận lợi và khó khăn ra sao đối với cuộc chiến. Tướng là nắm chắc yếu tố nhân hòa, mấu chốt là người làm tướng phải có trí tuệ, có uy tín, nhân đức, dũng cảm và nghiêm minh. Pháp là phải có lý luận nghiêm minh, tuân thủ pháp luật, thưởng phạt phân minh. Tóm lại phải nắm chắc thiên thời, địa lợi, nhân hòa và biết địch biết ta thì nắm chắc phần thắng.
Chín phép cơ mưu quyền biến của nhà binh
Cơ mưu của người cầm quân không nằm ở một chiêu độc, mà ở chỗ biết đổi chiêu cho khớp với thế đang đứng.
Trước cuộc chiến phải có kế hoạch tác chiến tỉ mỉ, chu đáo, và phải bảo đảm yếu tố bất ngờ, tấn công lúc địch không phòng bị. Phải nắm chắc nguyên tắc công thủ: nếu ta yếu, địch mạnh thì dùng lối phòng thủ; ngược lại nếu ta mạnh, địch yếu thì dùng lối tấn công, để vừa bảo toàn lực lượng của ta vừa tiêu diệt lực lượng địch. Phải biết dùng phép nghi binh, hư mà thực, thực mà hư, nhờ đó bao tướng lĩnh khi lâm vào thế bế tắc đã biến nguy thành an.
Phải vận dụng quy luật biến hóa của tự nhiên, như thủy hỏa âm dương, ngày đêm dài ngắn, trăng tròn trăng khuyết, để nghiên cứu, phân tích sự thay đổi lực lượng của đối phương, từ đó quyết định chiến thuật, và trong tác chiến phải biết tránh chỗ mạnh, đánh vào chỗ yếu của địch. Phải biết nhử địch vào thế trận và tập kích vu hồi. Nguyên tắc chung là dùng kế ứng biến, trong đó có chín cách hành sự: địch đóng quân trên cao thì không tấn công; địch nương vào đồi núi, tường thành cao ở phía sau thì không đánh từ chính diện; địch giả vờ thua thì đừng truy đuổi; địch đang hăng thì đừng đánh; địch cho quân ra nhử thì không đánh chúng; địch tháo chạy phải chặn ngay; khi bao vây địch phải để một cửa cho chúng chạy; địch lâm thế cùng quẫn thì không cố bức.
Nhà binh phải luôn biết làm công tác chính trị, tư tưởng để giữ vững tinh thần, nhuệ khí tướng sĩ. Phải biết dùng kế ly gián, phản gián, tức dùng tình báo để nắm tình hình đối phương, mua chuộc triều thần của họ để gây chia rẽ, mua chuộc gián điệp của họ cho quay về tung tin giả… tóm lại là dùng đủ thủ đoạn để ly gián, đánh lừa mà giành thắng lợi. Và phải coi trọng địa hình địa vật, nguyên tắc chung là lợi dụng nơi có địa thế hiểm yếu làm căn cứ. Tư tưởng quân sự trong Binh pháp Tôn Tử vì vậy rất coi trọng phương pháp phân tích toàn diện, biến hóa và sống động, và ảnh hưởng lớn đến sự hình thành tư tưởng quân sự truyền thống của Trung Hoa.
Mười điều Tôn Tẫn dạy: chính nghĩa, tinh binh, thế trận và lòng dân
Ông cháu cùng một họ nhưng mỗi người đứng ở một phía của bàn cờ: người trước giỏi giữ, người sau giỏi tiến.
Điều thứ nhất, nhấn mạnh chính nghĩa. Tôn Tẫn cho rằng một cuộc chiến phải có tính chính nghĩa mới có thể thắng, nếu không thì trước sau cũng thất bại. Ông cũng nhấn mạnh hiếu chiến sẽ mất nước, lợi dụng chiến tranh để đục nước béo cò sẽ chuốc lấy nhục. Vì vậy quan điểm của ông là phản đối chiến tranh, và khi phải đánh thì đánh để bảo vệ chính nghĩa.
Điều thứ hai, chủ trương tinh binh: phải bảo đảm có binh tài tướng giỏi. Ông coi đây là nhân tố chủ yếu quyết định thắng bại, vì chiến tranh thời xưa là cuộc đối chọi giữa người với người chứ không phải giữa vũ khí. Ông nêu một nguyên tắc chung: tín, trung, cảm; làm vua phải tin tướng, làm tướng phải trung với vua, làm lính phải dũng cảm.
Điều thứ ba, coi trọng thế bị, tức chuẩn bị mọi mặt. Nhà binh phải đủ bốn nguyên tắc trận, thế, biến, quyền: trận là bố trí binh lực; thế là sức mạnh lực lượng của quân ta; bị là mọi sự chuẩn bị chu đáo; biến là linh hoạt biến hóa; quyền là cân nhắc, tính toán, so sánh mọi giá trị liên quan đến cuộc chiến. Khi dụng binh phải giỏi bố trí thế trận, đó là yếu tố chủ yếu quyết định thắng bại.
Điều thứ tư, coi trọng tướng nghĩa: tướng sĩ phải có nhân nghĩa, đó là yếu tố hàng đầu của quân đội. Kẻ làm tướng không thể bất nghĩa, vì bất nghĩa thì không nghiêm, không nghiêm thì mất uy, tướng không có uy thì quân không phục. Đạo làm tướng phải có đức, có tín, có trí.
Điều thứ năm, chú trọng mưu lược. Nhà binh phải nắm chắc quy luật chung và quy luật đặc thù, vận dụng quy luật cực thì phản mới nắm được chỗ yếu và chế ngự được chỗ mạnh của địch. Điều thứ sáu, lợi dụng mâu thuẫn: nhà binh phải nắm tính chất và quan hệ của các cặp đối lập như tập trung thắng phân tán, thực thắng hư, nhiều thắng ít, nhanh thắng chậm, để khi tình thế xuất hiện thì lập tức tận dụng, chẳng hạn lấy thế tập trung của ta đánh địch đang phân tán, lấy cái nhanh thần tốc của ta thắng quân địch cơ động chậm.
Điều thứ bảy, giành thế chủ động. Người thiện chiến trước hết tìm cách đưa đối phương vào thế cùng quẫn và giành quyền chủ động cho quân mình, như trận Quế Lăng nổi tiếng, Tôn Tẫn dùng kế bắt sống Bàng Quyên mà thắng. Điều thứ tám, giành thế chủ công. Không giống Tôn Tử giỏi phòng thủ, Tôn Tẫn giỏi tấn công; ông nhấn mạnh "tất công bất thủ", nghĩa là chủ tấn công chứ không phòng ngự, tư tưởng chiến lược lấy tiến công làm chính.
Điều thứ chín, phải nắm rõ tình hình binh lính. Ông ví tướng, sĩ và nhà vua như mũi tên, cây cung và người bắn cung: binh lính là mũi tên, tướng lĩnh là cây cung, nhà vua là người bắn, và chỉ khi xử trí tốt mối quan hệ ấy mới chắc thắng. Điều thứ mười, phải biết phép hành soán: trong chiến tranh cái quý là sự đoàn kết, phối hợp giữa quân và dân, nên phải khéo huy động sức dân, dựa vào đạo lý mà thuyết phục, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ, và nắm chắc khả năng huy động sức người sức của đến đâu. Khi dân với quân cùng sức đồng lòng thì vô địch thiên hạ.
Hai nghìn năm trăm năm vẫn còn nguyên sức sống
Có hai ngã rẽ cho cùng một đích: người lấy cứng thắng mềm, người lấy mềm thắng cứng.
Hai bộ binh thư là kinh điển quân sự ra đời sớm nhất ở Trung Hoa, nội dung vừa uyên thâm vừa quảng bác, chạm tới chính trị, mưu lược, triết lý, thiên văn, địa lý. Vì vậy chúng không chỉ có giá trị quân sự mà còn gợi mở nhiều cho chính trị, kinh tế, triết lý, mưu lược, y học. Suốt 2500 năm chúng ảnh hưởng rộng khắp trong và ngoài nước, vượt qua biên giới truyền ra thế giới, thành tài sản quý về mưu lược quân sự của nhân dân.
So với Lão Tử: cứng thắng mềm và mềm thắng cứng
Binh pháp Tôn Tử là bộ chuyên đề quân sự, còn Lão Tử là bộ tổng hợp về triết học tự nhiên và tư tưởng chính trị, tuy không phải sách quân sự chuyên đề nhưng chứa tư tưởng quân sự phong phú. Cả hai đều rất quý, chỉ khác đôi chút về chiến lược, chiến thuật. Binh pháp Tôn Tử chịu ảnh hưởng tính dương cương mạnh bạo của Chu Dịch nên trọng tấn công, lấy cương thắng nhu. Lão Tử chịu ảnh hưởng tính âm nhu mềm dẻo của Chu Dịch nên thiên về phòng thủ, ưa kế mềm dẻo, chủ trương lấy nhu thắng cương, lấy thủ làm công, lấy lui làm tiến, cuối cùng lấy yếu thắng mạnh.
Dù chủ tấn công hay chủ phòng ngự, mỗi bộ đều thể hiện chiến lược, chiến thuật rất linh hoạt, hợp từng hoàn cảnh cụ thể, nên trong tình huống thuận lợi hay bất lợi đều nêu những bài học thực tế vô cùng quý. Hai bộ vừa ưu tú vừa bổ trợ nhau. Binh pháp Tôn Tử tuy là bộ chuyên đề, luận binh pháp toàn diện và nêu nổi bật các kế tấn công, vẫn rất coi trọng phòng thủ và đúc không ít chiến thuật phòng thủ sâu sắc, như: người giỏi dụng binh sẽ không đánh địch khi chúng mới hùng hổ kéo đến, mà đợi khi chúng mệt mỏi chán chường rút về mới xuất quân. Ngoài ra còn nhiều kinh nghiệm quý về coi trọng toàn cục, coi trọng điều tra nghiên cứu, như câu "biết địch biết ta, trăm trận trăm thắng", một tư tưởng quân sự đã và đang ảnh hưởng lớn đến các thế hệ sau.
Nguồn: Dương Lực, Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa, tập 2, thuật lại có lược bớt.
