Bài tổng quan
Từ học giả đời Thanh đến phát kiến nhị phân của Leibniz
Hoài Nam Tử đời Hán từng ghi rằng người ta nằm trong bụng mẹ mười tháng còn ngựa mười hai tháng, một cách giải thích vạn vật bằng con số y hệt tinh thần bát quái. Nhưng phải đợi đến đời Thanh, khi các nhà Nho buộc phải nhìn thẳng vào thực tế, người ta mới lần lượt gạt bỏ những thuyết huyền bí ấy. Rồi ở tận nước Đức xa xôi, một triết gia toán học nhận được từ tay một giáo sĩ dòng Tên tấm bản đồ 64 quẻ của Phục Hi, và nhận ra trong đó chính là...
Đời Thanh: quét sạch huyền bí, quay về thực tế
Qua đời Thanh, dân tộc Trung Hoa cực khổ trăm chiều: mới đầu bị người Mãn ức hiếp, sau lại bị người Âu coi như miếng thịt, tha hồ cắt xén, chia xẻ, cho nên các triết gia của họ không thể tĩnh tọa suy luận về Thái Cực, Thái Hư, tâm tính được nữa, mà bắt buộc phải nghĩ đến thực tế.
Do đó triết học đời Thanh có những biến chuyển lớn: đạo học suy tàn, Nho vẫn giữ địa vị cũ nhưng thiên về thực dụng, khảo cứu, rồi canh tân cho hợp thời. Dịch học cũng theo trào lưu tư tưởng mới, lần lần quét sạch những thuyết huyền bí khó tin.
Hồi đầu đời Thanh, Hoàng Tôn Hi viết cuốn Dịch Học Tượng Số Luận rất có giá trị; Hoàng Tôn Viêm viết cuốn Dịch Đồ Thư Biện Hoặc; rồi Mao Kỳ Linh viết cuốn Hà Đồ Lạc Thư Nguyên Xuyến, không còn tin Hà Đồ với Dịch có quan hệ gì với nhau nữa. Tới khi Hồ Vị cho ra cuốn Dịch Đồ Minh Biện, đem lai lịch của Hà Đồ và Dịch ra phân tích minh bạch, bảo đồ là đồ, dịch là dịch, không liên can gì với nhau, thì mới quét bỏ được những giải thích lầm lẫn của Tống Nho.
Giữa đời Thanh, Huệ Đống và Trương Huệ Ngôn chuyên nghiên cứu Dịch học đời Hán, dùng phương pháp quy nạp, hơi có tính cách khoa học. Nhưng người nghiên cứu Chu Dịch một cách thâm thúy, phát minh được ít nhiều, là Tiêu Tuần: ông căn cứ vào quái, hào, giải thích từng chữ để làm sáng tỏ phép hào biến, nói được những điều chưa ai nói. Nên kể thêm Lý Quang Địa, đời Khang Hi, dùng toán học phương Tây để giải thích Dịch, dùng lý hóa để tính phương vị của quái, hào – theo Tào Thăng, đó là một phát minh lớn.
Hiện nay và ở Việt Nam
Trong mấy chục năm gần đây, các nhà xuất bản ở Hương Cảng và Đài Bắc vẫn thường in sách viết về Dịch, nhưng không thể theo dõi được hết, chỉ thấy ba cuốn đáng chú ý: Chu Dịch Tân Giải của Tào Thăng; Chu Dịch Cổ Kinh Kim Chú của Cao Hanh (nhà Khai Minh thư điếm ấn hành) – hai nhà này đều theo chủ trương khảo chứng, "dùng Chu Dịch để chứng minh Chu Dịch", dùng các quẻ khác để giải thích các hào của hai quẻ Càn, Khôn; và Dịch Học Tân Luận của Nghiêm Linh Phong (nhà Chính Trung thư cục ấn hành, 1973), chú trọng về việc hiệu đính.
Dịch học quả là một khu rừng mênh mông, ai muốn theo đường nào thì theo; cổ kim chưa hề có tác phẩm nào gây ra nhiều suy luận như vậy cho đời sau.
Ở nước ta chưa có ai có thể gọi là nhà Dịch học được. Ngoài bốn bản dịch Kinh Dịch của Ngô Tất Tố (Mai Lĩnh xuất bản, 1943), của Nguyễn Mạnh Bảo (dịch giả tự xuất bản), của Nguyễn Duy Tinh (Trung tâm Học liệu xuất bản, 1968) và của cụ Phan Bội Châu (Khai Trí xuất bản, 1969 – bản này có giá trị nhất), mới chỉ có ít tập nhận xét hay tìm hiểu Kinh Dịch của: Nguyễn Uyển Diễm, Một Nhận Xét Về Kinh Dịch (Vũ Đất, Hà Nội, 1953); Bửu Cầm, Tìm Hiểu Kinh Dịch (Nguyễn Đỗ xuất bản, 1957); Nguyễn Hữu Lương, Kinh Dịch Với Vũ Trụ Quan Đông Phương (Nha Tuyên Úy Phật giáo ấn hành, 1971); Nguyễn Duy Cần, Dịch Học Tinh Hoa (Tủ sách Thu Giang, 1973); Lê Chí Thiệp, Kinh Dịch Nguyên Thủy (Khai Trí, 1973).
Phụ lục: Dịch học ở phương Tây
Alfred Douglas, trong cuốn The Oracle of Change (1972), đã kê và giới thiệu vắn tắt tất cả các bản dịch Kinh Dịch ra ngôn ngữ phương Tây từ trước tới nay theo chỗ ông biết – mới chỉ có bảy bản, so với số bản dịch Đạo Đức Kinh thì kém xa.
Bản đầu tiên là của các nhà truyền giáo dòng Tên (Jésuites): Régis, Antiquissimus Sinarum Liber (Paris, 1834). Bản thứ hai của Mục sư McClatchie, A Translation of the Confucian Yi King, or the Classic of Changes (Thượng Hải, 1876), lạ lùng ở điểm người dịch muốn đem khoa thần thoại học tỉ giáo để tìm hiểu những bí mật của Kinh Dịch. Bản thứ ba của De Harlez, Le Yih-King (Bruxelles, 1889), là một bản dịch cổ đáng chú ý nhưng theo tiêu chuẩn ngày nay thì không đáng tin.
Bản thứ tư của James Legge, The Texts of Confucianism, Pt. II, the Yi King (Oxford, 1899), dịch sát và kỹ lưỡng bản Kinh Dịch in năm 1715 đời Khang Hi; nhưng Legge không coi Kinh Dịch là một sách bói, không tin môn bói Dịch, chú thích của ông cũng sơ sài, không nói gì về cách bói cả.
Bản thứ năm của Richard Wilhelm, I Ging: das Buch der Wandlungen (Jena, 1924), dịch ra tiếng Đức, rồi C. F. Baynes lại dịch tiếng Đức ra tiếng Anh, nhan đề The I Ching or Book of Changes (London, 1950) – bản dịch đầy đủ nhất, được nhiều người thích nhất, có lời giới thiệu rất hay và lời mở đầu sâu sắc của Tiến sĩ C. G. Jung, nhưng cách sắp xếp rắc rối, tốn công cho người đọc.
Bản thứ sáu của Blofeld, The Book of Change (London, 1965), là một bản dịch mới đáng đọc, nói kỹ về cách bói, nhưng không dịch những lời chú thích trong phần Truyện. Bản thứ bảy của Siu, The Man of Many Qualities: A Legacy of the I Ching (Cambridge, Mass., 1968), là một bản dịch mới riêng về phần kinh của Văn Vương và Chu Công; dịch giả trích dẫn trên 700 chỗ trong văn học thế giới để giải thích phần kinh đó, và luận về cách bói với những ý tưởng mới mẻ, hấp dẫn.
Ngoài ra còn hai bản sơ sài nhưng chú trọng đến việc bói: chính cuốn The Oracle of Change của Alfred Douglas (Penguin Books, 1972), phần đầu giới thiệu qua loa nguồn gốc và tư tưởng Kinh Dịch rồi chỉ cách bói, phần sau dịch Thoán từ, Hào từ với ít lời giải thích theo quan niệm Nho gia; và Le Livre de la Terre et du Ciel của J. Lavier (Édition Tchou, Paris, 1968) – tác giả là giáo sư dạy khoa châm cứu ở Đài Loan, cho rằng Kinh Dịch tuy là công trình của Phục Hi, Văn Vương, Chu Công, Khổng Tử, nhưng lại là "cuốn sách thiêng của Đạo Lão truyền thống". Lavier tìm ý nghĩa cổ nhất của một số danh từ như Thái Ất, đạo, âm dương, quái, càn, khôn..., rồi dịch Thoán từ và Hào từ theo quan niệm Đạo gia – như quẻ Càn, hào 2 ông viết "con rồng hiện lên, người ta thấy nó", hào 5 "con rồng bay". Ông còn bói thử cho một thiếu nữ hỏi về hôn nhân, được quẻ Lôi Trạch Quy Muội biến ra quẻ Địa Trạch Lâm, rồi khuyên nàng đợi một cơ hội khác vì quẻ báo mới đầu tốt, sau biến xấu.
Đặc biệt nhất là cuốn The Symbols of Yi King của Z. D. Sung, không phải một bản dịch mà chỉ ghi lại những sự trùng hợp ngẫu nhiên giữa một số quẻ với các môn học như đại số, vật lí, thiên văn, luận lí. Chẳng hạn ông cho hào dương (vạch liền) là A, hào âm (vạch đứt) là B, rồi đổi tám quẻ đơn ra: Càn thành AAA (A³), Khôn thành BBB (B³); ba quẻ có hai hào dương một hào âm – Đoài, Li, Tốn – cộng lại thành 3A²B; ba quẻ có một hào dương hai hào âm – Chấn, Khảm, Cấn – cộng lại thành 3AB². Cộng cả tám quẻ lại, ông được đúng công thức khai triển đại số (A + B)³ = A³ + 3A²B + 3AB² + B³ – kể ra cũng tài tình.
Phát kiến của Leibniz
Nhưng theo Nguyễn Hiến Lê, hai phát kiến nổi danh nhất của học giả phương Tây về Kinh Dịch không nằm trong số các bản dịch kể trên.
Leibniz, triết gia kiêm toán học gia Đức (1646-1716), là người đầu tiên nghĩ ra phép nhị tiến (numération binaire) về số học, thay cho phép thập tiến – nghĩa là chỉ dùng hai số 1 và 0, chứ không dùng mười số từ 0 đến 9. Theo phép nhị tiến thì cứ thêm một con số 0 là nhân với 2, chứ không phải với 10 như trong phép thập tiến. Ngày nay các máy điện tử đều dùng nguyên tắc đó của Leibniz: hễ luồng điện vô, đèn bật thì là 1, tắt điện thì là 0 – bật tắt, bật tắt, chỉ có hai "thể" đó thôi.
Leibniz đăng sáng kiến của ông trên một tờ báo năm 1679. Trong khoảng từ 1679 đến 1702, ông thư từ với một nhà truyền giáo dòng Tên ở Trung Hoa, và nhờ nhà truyền giáo này mà ông biết được 64 quẻ Kinh Dịch, thấy người Trung Hoa chỉ dùng hai vạch dương và âm mà vạch được các quẻ, cũng như ông chỉ dùng số 1 và số 0 mà viết được mọi số. Ông xin vị truyền giáo đó một bản đồ Phương Vị 64 quẻ của Phục Hi, suy nghĩ, tìm tòi, và thấy rằng nếu thay con số 0 vào vạch âm, con số 1 vào vạch dương, thì 64 quẻ đúng là 64 con số từ 0 đến 63 trong phép nhị tiến của ông.
Chẳng hạn quẻ Bác, ở bên quẻ Khôn trên vòng tròn (nhìn từ trong ra ngoài), đổi ra đúng là số 1 trong phép nhị tiến, nếu không kể năm con số 0 đứng trước. Quẻ Tỉ, ở bên cạnh quẻ Bác, đổi ra thành 000010, đúng là số 2. Cứ như vậy, trên hàng đầu ở giữa hình là các số 0 đến 7, hàng nhì là 8 đến 15... tới quẻ Càn ở cuối hàng thứ 8 là số 63.
Muốn biết quẻ thứ 50 trên hình là quẻ gì, cứ chia liên tiếp cho 2 rồi ghi lại số dư, kể từ dưới lên: 50 : 2 = 25, không dư, ghi vạch âm; 25 : 2 = 12, dư 1, ghi vạch dương; 12 : 2 = 6, không dư, vạch âm; 6 : 2 = 3, không dư, vạch âm; 3 : 2 = 1, dư 1, vạch dương; và còn lại 1, vạch dương. Kết quả được quẻ Thủy Trạch Tiết – đúng là quẻ thứ 50, tức quẻ thứ 3 trên hàng thứ 7 ở giữa hình. Ngược lại, muốn đổi một số nhị tiến thành số thập tiến, chỉ cần nhân mỗi chữ số với 2 lũy thừa theo vị trí của nó, kể từ phải qua trái, rồi cộng lại: số 110010 sẽ ra đúng số 50.
Nguồn: Nguyễn Hiến Lê, Kinh Dịch – Đạo của người quân tử, Chương III – Phụ lục.
