Bài tổng quan
Thứ tự xem đất, cách xét nước ở hướng và bí quyết thành môn
Cuộc đất có núi ôm nước tụ đã đẹp, nhưng người xưa còn dặn phải xem theo một thứ tự, bước nào trước bước nào sau, đảo thứ tự là sai. Một bến quê sơn Tý hướng Ngọ từng khiến cả nhà đỗ đạt thăng quan, rồi chưa đầy hai năm sau gia cảnh sa sút. Cái cửa nước nhỏ bé ấy rốt cuộc là gì…
Thứ tự xem một cuộc đất
Thẩm Trúc Nhưng nêu một trình tự cho người xem đất, bước nào trước, bước nào sau:
- Xem núi và nước của cuộc đất có hoàn mỹ không.
- Đối chiếu lệnh tinh với nguyên đán bàn của họ Tưởng (tức tinh bàn vận Năm, Ngũ Hoàng vào trung cung) để xem sinh khắc ra sao. Cách nói thông thường gọi đây là "Tiểu Huyền Không".
- Bố lệnh tinh của sơn và hướng, tìm xem có đáo sơn đáo thủy không (các hình đồ "Thiên Tâm Chính Vận" của họ Hoa nói chính điều này).
- Phân biện linh thần, chính thần trong bàn ra sao; rồi xem vận tinh bay vào bàn thì thành môn thế nào, vì thành môn cũng đổi theo vận.
- Vận dụng phép lập hướng "tiêu thủy" để xét xem kiêm được hay không kiêm được.
- Cuối cùng mới vận dụng phân kim để định chuyện thu sơn xuất sát. Làm đúng thứ tự thì mới không sai.
Có người thấy thế quá khó: vừa phải đáo sơn đáo hướng, vừa phải có vượng khí của thành môn đưa tới, rồi còn chiếu theo tiết khí để thu sơn thoát sát, vậy có cách nào giản tiện hơn không? Đáp rằng long thật huyệt thật thì nên có vượng tinh ở hướng; nhưng cũng có thể dùng một thành môn tốt, chỉ cần việc tu sửa, xây dựng làm vào lúc lệnh tinh đương vượng.
Lập hướng: nhận long, định vận, rồi xét nước
Phép lập hướng bắt đầu bằng việc nhận rõ mạch đến thuộc cuộc nào trong ba nguyên thiên, địa, nhân; tiếp theo định vận nào trong ba nguyên thượng, trung, hạ. Sau đó mới xét xem nên kiêm Tham Lang hay kiêm Tả Phụ, và nước ở hướng đến đi thế nào (tức hướng tinh của hướng), chứ không phải chữ của hướng trên địa bàn hay vận tinh. Sao ở hướng còn phải khác sao ở sơn: ví dụ vận 1 (Nhất Bạch), sao ở sơn nên là sao đương lệnh của thượng nguyên đáo tọa sơn, còn sao ở hướng nên là sao đã suy đáo cửa nước thì mới tốt. Vận nào cũng như thế.
Vận 1 và vận 9 lập hướng rất khó, lại không kiêm được. Vận 1 có thể miễn cưỡng dùng Tý Ngọ; vận 9 chỉ có hướng chính Canh là tốt nhất. Vận 9 là cuối của hạ nguyên, cuối của địa nguyên, nếu kiêm sai thì khó tránh vì tạp loạn mà suy thoái. Còn hướng Canh đúng chuẩn thì sau Cửu Tử có Nhị Hắc, là hỏa gặp thổ; nếu phương Kiền ở hướng có nước là Nhất Bạch thủy, thì không những có chỗ khống chế mà còn thông với sinh khí của thượng nguyên, cho nên cát.
Bạch Hạc Minh bổ sung: vận 1 và vận 9 không có tuyến vị vượng sơn vượng hướng, nên mới nói lập hướng rất khó. Ví dụ vận 9, sơn Giáp hướng Canh nếu gặp nước ở Kiền thì đại cát: sao Cửu ở bàn vận 9 là vượng tinh đáo hướng nên đại cát, còn sao Nhất ở bàn vận 9 là sinh khí của Nhất Bạch nên cũng luận là cát.
Chữ của hướng cần can của nước
Chính sơn chính hướng lưu chi thượng, quả yếu tạo hình trượng.
Lời kinh ấy nói chi của hướng phải cần can của nước, và can của hướng phải cần chi của nước, có vậy mới đúng phép. Cho nên sơn hướng Tý Ngọ Mão Dậu cần nước của Kiền Khôn Cấn Tốn tới hay đi; sơn hướng Ất Tân Đinh Quý cần nước của Dần Thân Tỵ Hợi tới hay đi. Đó gọi là thuần thanh, không lai tạp.
Sơn hướng Kiền Khôn Cấn Tốn kiêm Dần Thân Tỵ Hợi, nếu không có nước của Tý Ngọ Mão Dậu tới đi mà có nước của Ất Tân Đinh Quý tới đi thì cũng dùng được; Tý Ngọ Mão Dậu kiêm Ất Tân Đinh Quý cũng như vậy. Địa nguyên sơn hướng Giáp Canh Nhâm Bính thì cần nước của Thìn Tuất Sửu Mùi tới đi, và sơn hướng Thìn Tuất Sửu Mùi cũng vậy. Còn Thìn Tuất Sửu Mùi kiêm Kiền Khôn Cấn Tốn thì có thể dùng nước của Tý Ngọ Mão Dậu tới đi. Phàm phép xem nước không luận chuyện tới hay đi (lai khứ) mà luận nguyên vận.
Bạch Hạc Minh giải thích thêm: ngồi sơn thiên nguyên thì cần thu nước thiên nguyên (quái thiên nguyên gồm Tý Ngọ Mão Dậu, Kiền Khôn Cấn Tốn); ngồi sơn địa nguyên thì cần thu nước địa nguyên (Thìn Tuất Sửu Mùi, Giáp Canh Nhâm Bính); ngồi sơn nhân nguyên thì cần thu nước nhân nguyên (Dần Thân Tỵ Hợi, Ất Tân Đinh Quý). Như sơn Tý hướng Ngọ mà phương Khôn có ao nước: Tý thuộc quái thiên nguyên, Khôn cũng thuộc quái thiên nguyên, sơn và nước cùng quái thiên nguyên nên luận là quẻ thuần thanh.
Hai loại Tham Lang và nước chảy theo thuận nghịch
Có hai loại Tham Lang. Một loại là vận khởi Tham Lang: vận 1 thì Nhất Bạch vào trung cung, tức Tham Lang vào trung cung, Nhị tới Kiền tức Cự Môn tới Kiền; đó là phép vận dụng ái tinh. Loại kia thực chất là dùng kiêm hướng thế quái của hai mươi bốn sơn gắn với nạp giáp, xen với khởi tinh Tham Lang; các thầy địa lý tầm thường thường nhầm đem ra lập hướng tiêu thủy. Bạch Hạc Minh nói rằng hai loại Tham Lang ấy tương ứng hai hình đồ: hạ quái và khởi tinh.
Hai mươi bốn sơn khởi song song nên phải phân biệt sơn hướng. Lấy Giáp Canh Nhâm Bính, Kiền Khôn Cấn Tốn và Dần Thân Tỵ Hợi làm mạch xuất dương; lấy Ất Tân Đinh Quý, Tý Ngọ Mão Dậu và Thìn Tuất Sửu Mùi làm mạch xuất âm. Lấy dương thả ra ở nước, lấy âm thả ra ở sơn: đó là cuộc thuận tử. Nếu dương thả ra ở sơn, âm thả ra ở nước thì là cuộc nghịch tử. Những loại một sơn hai dụng như vậy, tức bốn mươi tám cuộc khởi song song, là phép dùng âm mà dương tới chầu, dùng dương mà âm tới chầu. Họ Tưởng chú rất rõ, nhưng không nói khẩu quyết nên dễ sinh ngờ. Bạch Hạc Minh nhắc rằng mạch xuất dương, mạch xuất âm, cuộc thuận tử, cuộc nghịch tử chỉ đơn thuần nói chuyện phi tinh bố theo chiều thuận hay chiều nghịch.
Làm sao định sơn cho khỏi sai
Hỏi: định sơn thế nào để khỏi sai lầm? Đáp rằng phải phân biệt cho được:
- quẻ thế (thế quái) với ra khỏi quái (xuất quái);
- đáo sơn đáo hướng với thượng sơn hạ thủy;
- đáo sơn đáo hướng với phản ngâm phục ngâm;
- thông suốt với bế tắc, rỗng với thực, thuận với nghịch.
Nếu đại địa tản mạn, cuộc đất bó hẹp thì có phát phúc được không? Không được. Mấu chốt của họa phúc là ở suy vượng cát hung: long thật huyệt kết đúng phép thì xuất bậc đế vương; nếu phạm hung thì giống như số của Hạng Võ; hoặc đáng lẽ sinh ra thánh hiền mà phạm hung thì cả đời dở dở ương ương. Gần đây người ta chọn đất táng, nếu không phạm lỗi xuất quái thì cũng phạm lỗi thượng sơn hạ thủy hoặc phản ngâm phục ngâm; một khi kiếp vận tới thì tai họa như hồng thủy, làm sao không sợ.
Bạch Hạc Minh tóm lại hai đoạn trên: một đoạn nói xem phong thủy nên dùng hai lần là hạ quái và khởi tinh, đó là phong thủy Huyền Không; đoạn sau chỉ là tiểu luận.
Thành môn: nơi vượng tinh đổ khí vào huyệt
"Thủy giao Tam Bát" tức là chỉ thành môn. Thẩm Trúc Nhưng lấy ví dụ sơn Tốn hướng Kiền, bốn bề có núi bao quanh, chỉ khuyết một chỗ ở phương Tý, và cửa nước cũng ở Tý. Cuộc đất này có thể dùng bí quyết thành môn. Cách làm như sau:
- Vận 1: ái tinh là Lục, Lục là Kiền dương nên không dùng.
- Vận 2: ái tinh là Thất, Thất là Dậu âm; lấy Thất vào trung cung bay nghịch thì Nhị tới Tý, vượng tinh đáo thành môn.
- Vận 3: ái tinh là Bát, Bát là Cấn dương nên không dùng.
- Vận 4: ái tinh là Cửu, Cửu là Ngọ âm; lấy Cửu vào trung cung bay nghịch thì Tứ tới Tý, vượng tinh đáo thành môn.
- Vận 6: ái tinh là Nhị, Nhị là Khôn dương nên không dùng.
- Vận 7: ái tinh là Tam, Tam là Mão âm; lấy nó thu vào tiểu thủy, hợp thành chỗ ngả ba sông để làm nước của thành môn.
Định hướng lập huyệt phải lấy thành môn làm trọng, vì thành môn là chỗ then chốt để khí vào trong huyệt. Nếu sao ngũ hành Huyền Không sinh vượng bố tới thành môn thì cát: chỗ ấy tiêu trừ được sao suy, thậm chí chuyển họa thành phúc. Nếu thành môn xoay tới sao suy tử thì không tránh khỏi hung.
Có người hỏi thành môn cát thì vận phát được bao lâu. Đáp: long thật huyệt đang vượng thì vận phát, hết vận thì suy. Chỉ phát trong thời hạn vượng sơn vượng hướng; ra khỏi vận mà gặp vượng sơn vượng hướng thì nên tu sửa bia mộ trong thời gian ấy, để đón khí thay thế. Còn nếu ra khỏi vận mà gặp sơn hướng bất lợi, không tu sửa được thì hậu vận không tốt (ví dụ vận 2 dùng thành môn thì cát, sang vận 3 thì âm dương lẫn lộn).
Ông kể chuyện Trưng Hàn Côn vốn thông Loan Đầu nhưng không thông Lý Khí, đầu vận 1 chọn một cuộc đất sơn Tý hướng Ngọ ở một bến quê. Hồ nước phương Đoài lấp lánh, tròn sáng như gương; trước huyệt có một ngọn núi nổi lên rất kỳ đặc. Sau khi táng, người trong nhà đỗ đạt thăng quan, tài đinh đều vượng, đó là nước Tốn đúng hợp cách thành môn. Sang vận 3, chưa đầy hai năm gia cảnh sa sút. Nghe chuyện này có thể hiểu bí quyết thành môn ứng nghiệm thế nào.
Thành môn là hai quẻ bên cạnh sao đầu hướng
Có người hỏi: thầy tôi giảng thuyết Tam Hợp là cách dùng thần sát, nói như danh ngôn chí lý; lại có điều từ đời Tống người ta đều dùng thủy pháp. Lý ấy có căn cứ không? Thẩm Trúc Nhưng đáp: nghìn lời vạn chữ về thủy pháp chẳng dính tới thành môn. Thành môn là hai quẻ bên cạnh của sao đầu hướng. Như hai quẻ bên hông sơn hướng của thiên nguyên long, trong hào thiên nguyên mà thấy nước sáng, đó là thành môn: hợp thời thì cát, trái thời thì hung.
Long thật huyệt thật mà sơn hướng bất lợi, nhưng thành môn lại gặp cát tinh thì vẫn táng được; chỉ có điều khi vận tinh của thành môn thoái lui thì gia cảnh cũng suy theo. Còn sơn hướng gặp đúng vận vượng mà thành môn cũng cát thì là tốt thêm tốt.
Ông bình luận cách nói của phái Tam Hợp: các hội cuộc như Thân (nhân), Tý (thiên), Thìn (địa); Tỵ (nhân), Dậu (thiên), Sửu (địa); Dần (nhân), Ngọ (thiên), Tuất (địa); Hợi (nhân), Mão (thiên), Mùi (địa), tuy cho thấy họ biết lý thành môn nhưng chưa rành cách vận dụng. Như sơn Tý hướng Ngọ lấy hai quẻ Tốn Khôn làm thành môn; họ lại nhầm với "chi long" (Tý làm chi long) nên thu "chi thủy" Thân Thìn, mạch từ phương Tý chuyển qua Thân rồi bế ở Thìn. Mà sơn Tý hướng Ngọ thấy nước Thân Thìn là phạm lai tạp, long khí không thuần. Nếu biết dùng thì phải nói:
- Hướng Ngọ lấy Tốn Khôn làm thành môn; hướng Bính lấy Mùi Thìn làm thành môn; hướng Đinh lấy Thân Tỵ làm thành môn.
- Tỵ Dậu Sửu: sơn Dậu hướng Mão lấy hai quẻ Tốn Cấn làm thành môn.
- Dần Ngọ Tuất: sơn Ngọ hướng Tý lấy hai quẻ Kiền Cấn làm thành môn.
- Hợi Mão Mùi: sơn Mão hướng Dậu lấy hai quẻ Kiền Khôn làm thành môn.
Người đời sau lại chen thêm Khôn Nhâm Ất vào, thật quá sai.
Nguồn: Nguyễn Vũ Anh, Thẩm Thị Huyền Không Học – Phong Thủy Trong Bối Cảnh Kiến Trúc Hiện Đại.
