Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Nhập môn

Bài tổng quan

Tứ Hóa Trong Tinh Điển: Định Nghĩa, Tác Động Và Hóa Lộc Các Sao

Tử Vi Nam Phái - Nhập môn16/09/202620 phút đọc11 lượt đọc
Tứ Hóa Trong Tinh Điển: Định Nghĩa, Tác Động Và Hóa Lộc Các Sao

Tứ Hóa không phải là một tinh diệu, mà là hiện tượng biến hóa đi theo thứ tự cố định Lộc, Quyền, Khoa, Kị như bốn mùa. Hóa Lộc thuộc Mộc như mùa xuân sinh sôi, Hóa Quyền thuộc Hỏa đới Thổ như mùa hè mãnh liệt, Hóa Khoa thuộc Kim như mùa thu thâu liễm, Hóa Kị thuộc Thủy như mùa đông ẩn tàng. Mỗi hóa có thể đổi hẳn tính chất chủ tinh đứng cùng. Với Hóa Lộc, Thiên Cơ hợp kinh doanh nhưng không thành cự phú, Thiên Đồng sống thoải mái mà phát muộn, Liêm Trinh giằng co giữa tình và lý, Thái Âm kiếm tiền ung dung, Tham Lang dễ vướng thị phi tửu sắc. Vũ Khúc phải đổ mồ hôi mới đắc tài. Riêng Thái Dương chủ quý không chủ phú, nên tiền bạc đến từ địa vị chứ không từ buôn bán.


Định Nghĩa Chữ Hóa

Lộc, Quyền, Khoa, Kị đều có chữ "Hóa" ở trước. Hóa là chuyển biến, chuyển động, chuyển hóa. Cho nên Tứ Hóa không thể xem là một tinh diệu, và Tứ Hóa chỉ là hiện tượng biến hóa. Ví dụ Liêm Trinh đứng cùng Hóa Lộc — Hóa Lộc có thể làm biến hóa khí chất của Liêm Trinh.

Cũng như năng lượng mặt trời tạo ra bốn mùa xuân hạ thu đông, Tứ Hóa lấy thứ tự xuân hạ thu đông, vì vậy chúng đi theo thứ tự Lộc, Quyền, Khoa, Kị, không thể đặt lộn lại thành Kị, Khoa, Quyền, Lộc.

Hóa Lộc

Hóa Lộc thuộc Mộc, ví như mùa xuân hướng ra khắp bốn phía mà phát triển. Xuân là mùa sinh sôi nảy nở, vậy thì Hóa Lộc tượng trưng mùa xuân cũng sinh sôi nảy nở như thế.

Xuân tượng vạn vật đều phát triển, mọi sự tốt tươi, nên Hóa Lộc cũng mang tính hòa hài, tiêu đi những tranh chấp, chế hóa tai nạn.

Sách viết: "Hóa Lộc, thực lộc bất khuyết, phát triển thuận lợi" — vậy nên đặc tính cơ bản của Hóa Lộc là phát triển. Người có Hóa Lộc không nhất định là thông tuệ, chỉ có khả năng hòa hài phát triển, cũng không nhất định là người tài hoa.

Hóa Quyền

Hóa Quyền thuộc Hỏa đới Thổ, ví như mùa hè, như lửa bốc, tính chất mãnh liệt. Mùa hè ngũ hành thuộc Hỏa, vạn vật đến hè thì xanh tốt, vinh vượng.

Mùa xuân mới chỉ là mầm mống, nếu không đủ sức sống tất nhiên bị đào thải; còn tồn tại được tức là sức phải mạnh. Bởi thế Hóa Quyền chủ về tự tin và làm việc đắc lực. Làm việc đắc lực đi đôi với vất vả, gian khổ, cho nên Hóa Quyền cũng tượng trưng cho tình trạng vất vả, chiến đấu. Ngoài ra, Hóa Quyền đôi lúc trở thành tự phụ vì tự tin tầm quá cao.

Mùa hè ánh nắng chói chan, quang minh, do đó tính tình Hóa Quyền chính trực. Hóa chủ lễ, cho nên Hóa Quyền khi đối xử tỏ ra lịch lãm, khuôn phép; tuy nhiên cũng lại dễ xung động.

Hóa Khoa

Hóa Khoa thuộc Kim. Thu là mùa của thâu liễm, với ý nghĩa nội liễm hàm súc, mang ý vị văn chương và trí tuệ, tài hoa tiềm ẩn mà không lộ, bởi vậy nên tâm cơ không gian trá.

Hóa Khoa tượng cho Thu Kim, trong ngũ thường là chữ Nghĩa. Bởi vậy người có Hóa Khoa thường liêm khiết, một lòng một dạ, khuynh hướng bảo thủ nên ít khi hoạnh phát, nhưng được kính nể.

Hóa Kị

Hóa Kị trong ngũ hành là Thủy, tượng về sự tuyệt diệt của vạn vật trong thời kỳ phải ẩn tàng. Hóa Kị ví như mùa đông: bề ngoài cây cối trơ trụi, nhưng bên trong là sức sống mãnh liệt để tạo biến đổi, thay thế, đợi mùa xuân tới bung ra. Hóa Kị là lúc phải chịu cuộc thanh toán triệt để, thoát thai hoán cốt. Vì phải biến hóa nên thông minh, linh sảo.

Mùa đông ngũ hành thuộc Thủy. Thủy chủ về trí tuệ. Mùa đông chủ về ẩn tàng. Trí tuệ mà ẩn tàng thì ý nghĩ khó đoán ra, bởi vậy người có Hóa Kị thường hay mưu, đôi lúc gian trá, đầu óc quyền biến vô thường. Thủy chủ động, nên thường xuyên xoay chuyển; xoay chuyển quá độ thành ra bội phản.

Tác Động Của Tứ Hóa

Tứ Hóa tác dụng rất lớn đối với các chủ tinh, đến mức có thể làm biến đổi luôn tính chất của chủ tinh mà chúng đứng cùng. Thái Dương đi với Hóa Quyền khác hẳn Thái Dương đứng với Hóa Khoa hay Hóa Lộc. Trên lá số có tứ hóa cố định.

Nhưng tiểu hạn mỗi năm cũng phải tính cả ảnh hưởng phụ của tứ hóa do hàng can của năm tiểu hạn. Như vậy, người Trung Quốc họ tính luôn cả lưu tứ hóa.

Hóa Lộc trong khoa Tử Vi kể như một sao trọng yếu về tiền bạc: dù nó đứng với sao nào thì tính chất tài lộc vẫn thế, chỉ thay đổi theo mức độ hơn kém nhiều ít.

Sao tiền bạc còn có Lộc Tồn nữa. Được Lộc Tồn đi cùng thì thành ra "điệp Lộc" hay "song Lộc", tiền bạc thêm sức lưu thông để phấn phát; nếu chỉ có Hóa Lộc không thôi thì chỉ là tích súc.

Hóa Quyền mang tính chất quyền lực. Quyền lực đi đôi với địa vị, có địa vị rồi mới có quyền lực — địa vị ở đây xin đừng hiểu đơn thuần như chức vị.

Hóa Quyền ở đại hạn, hay Hóa Quyền ở tiểu hạn, hoặc Hóa Quyền ở Mệnh cung mà được thêm Hóa Quyền lưu theo tiểu hạn thì càng tốt.

Hóa Quyền ngoài tính chất quyền lực còn có tác dụng gây chí phấn đấu, tạo tính tích cực và tính ổn định. Ví dụ Thiên Cơ vốn là sao hiếu động, không ổn định, nhưng một khi gặp Hóa Quyền thì tình trạng động trên giảm hẳn mà thành ra linh hoạt, phát huy với kế hoạch rõ ràng.

Hóa Quyền cũng đem đến khả năng quản lý vững chắc. Hóa Quyền hợp với Hóa Lộc, Hóa Khoa. Hóa Quyền đứng cùng Hóa Kị thì dễ bị chiêu oán, ganh ghét.

Trường hợp có thêm những sao khác để biến ra quyền uy tuyệt đối, thì dù kẻ ganh ghét, oán hận cũng chẳng làm gì được lại khác.

Hóa Khoa cơ bản có tính chất là danh dự và thanh vọng. Vì thế Hóa Khoa cần Văn Xương, Văn Khúc để thành cái thế "Khoa danh đồng hội" — bảng vàng ghi tên, nhất là đối với xã hội xưa chuộng khoa bảng.

Còn xã hội thương nghiệp thì Thái Âm Hóa Khoa, hay Vũ Khúc Hóa Khoa, hoặc Thiên Phủ Hóa Khoa cũng tạo nên thanh vọng. Trong xã hội thương nghiệp, những tài tinh Vũ Khúc, Thái Âm, Thiên Phủ đứng bên Hóa Khoa đẹp hơn Xương Khúc.

Hóa Khoa ở một vị thế nào đó, hoặc một sự kết hợp với các sao khác, có thể chỉ là hư danh hoặc tự mãn mà thôi.

Hóa Kị trong khoa Tử Vi có tính chất khá phức tạp: Hóa Kị có hai mặt tốt và xấu rõ rệt, và khi gây tác dụng cũng ác liệt. Ví dụ Thái Dương dễ gây tiếng tăm, nổi đình nổi đám, nhưng đứng cùng Hóa Kị thì chuyện ganh ghét, đố kị cũng thật ghê gớm.

Hóa Lộc Thiên Cơ

Thiên Cơ là sao mang tính phù động. Dù gặp Hóa Lộc, tính chất động ấy vẫn nguyên vẹn. Lộc là sao tiền bạc, tiền bạc cần chuyển động luân lưu. Cho nên Thiên Cơ được Lộc kể là tốt.

Có Lộc đóng Mệnh hay Tài Bạch cho người Thiên Cơ khả năng kinh thương cao. Ở thời đại này, Cơ Lộc khả dĩ phục vụ trong những việc liên hệ đến kinh doanh, tài chánh, với bổng lộc cao không nhất thiết phải chính mình đứng chủ kinh doanh.

Điểm chú ý: Cơ Lộc không phải là số cự phú, không thể tuyệt đối độc lập, cần dựa vào thế lực hậu trường, đầu cơ thế lực, nghe ngóng cơ hội.

Thiên Cơ bản sắc biến động, bởi vậy có những trường hợp Cơ Lộc nói lên một sự thay đổi mới, nhờ cơ hội mới mà phấn phát hơn.

Cơ Lộc gặp Tả Phụ thường được kiêm chức. Lại thêm Hóa Quyền, Hóa Khoa thì chức vị mở đường cho sự hanh thông trong tương lai.

Thiên Cơ Hóa Lộc tối kị gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh. Hỏa Linh tất làm tăng tính phù động của Thiên Cơ, nhờ Hóa Lộc khả dĩ phấn phát nhưng rất mau tiến vào thất bại.

Cơ Lộc bị Không Kiếp cũng thế, càng trèo cao càng ngã đau. Mở ra năm bảy tiệm, đùng một cái vỡ nợ vì thiếu hoặc vì căng ra quá mà đứt vỡ.

Cơ Lộc cùng gặp một lúc cả hung lẫn sát tinh vây bọc thì nên giữ thái độ "bất cảm vi thiên hạ tiên" — đứng xuống hàng hai để tránh xung sát, đưa đến kết quả bất toàn.

Thiên Cơ Hóa Lộc mà Cơ đi cùng Thái Âm bén nhạy hơn trong công chuyện làm ăn. Thiên Cơ Hóa Lộc mà đi với Thiên Lương dễ gặt hái tín nhiệm khi vào kinh doanh. Thiên Cơ Hóa Lộc mà Cơ đứng cùng Cự Môn, không bị hung sát tinh, có thể làm giàu nhưng thường không bền.

Hóa Lộc Thiên Đồng

Thiên Đồng là phúc tinh, ngụp lặn trong lãnh vực tinh thần. Thiên Đồng đứng cùng Hóa Lộc thường dễ được cuộc sống vật chất thoải mái với con người tri túc; Đồng Lộc đi với nhau không đưa đến phú quý. Cái tri túc giống như một con người đã trải trăm cay ngàn đắng, nay có cuộc sống đầy đủ, bình ổn.

Bởi lẽ trên, Thiên Đồng Hóa Lộc phát muộn: tuổi về già mới an định hoặc phấn phát lên, còn tuổi trẻ gian lao vất vả và thành bại vô thường.

Thiên Đồng Hóa Lộc bị Không Kiếp hay các sát diệu khác thì gian lao vất vả hơn, lúc già sự an định hay phấn phát chỉ tương đối.

Vì Thiên Đồng chủ về tình tự, nên hay gặp cái vui đột nhiên, ví dụ đánh canh bạc được kha khá, mua số đề trúng vừa vừa.

Thiên Đồng Hóa Lộc có được thêm Lộc Tồn xung chiếu hay tam hợp chiếu thì tài khí vượng hẳn, đột nhiên biến đổi từ nghịch sang thuận. Có cả Tả Hữu, Khôi Việt nữa càng hay, cơ hội trợ lực càng nhiều và phấn phát không nhỏ.

Thiên Đồng Hóa Lộc tối kị đồng cư với Không Kiếp, cũng đột biến nhưng mà từ thuận sang nghịch, dễ dàng vỡ nợ. Trường hợp vừa có Tả Hữu, Khôi Việt lại vừa có cả Không Kiếp thì sao? Tả Hữu, Khôi Việt không thể địch lại Không Kiếp.

Thiên Đồng Hóa Lộc cũng đừng nên hội với Đào Hoa, nhất là Đào Hoa rồi còn thấy cả Xương Khúc nữa thì phiền — sớm muộn rồi sẽ thành phong lưu đãng tử. Không thiếu tiền nhưng tiền bao nhiêu rơi vào rượu chè, đĩ bợm hết. Nói khác đi, đây là số công tử con nhà giàu, hoặc là người làm cái nghề "ăn chơi". Có số này nên mở quán rượu, nhà nhảy, nhà tắm hơi hợp cách. Có điều là không bao giờ giữ được của.

Thiên Đồng Hóa Lộc, Đào Hoa, Xương Khúc vào cung Tật Ách thì trai gái dễ mắc bệnh phong tình. Thiên Đồng Hóa Lộc đóng cung Thê thì trước đằm thắm, sau nhạt tình.

Hóa Lộc Liêm Trinh

Liêm Trinh mang sắc thái xung đột giữa cảm tình và lý trí. Liêm Trinh tình cảm hơn Phá Quân. Liêm Trinh lý trí hơn Tham Lang. Khi đoán về Liêm Trinh đứng cùng Hóa Lộc, cần phải coi các sao phụ làm tăng phần lý trí hay cảm tình của Liêm Trinh trước đã.

Nếu Liêm Trinh có Đào Hoa, Hóa Khoa kèm bên thì phần cảm tình nặng. Nếu Liêm Trinh gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh, Phụ Bật đồng độ thì phần lý trí nặng.

Liêm Trinh Hóa Lộc mà phần tình cảm nặng thì vấn đề tích tụ tài sản khó hơn. Liêm Trinh Hóa Lộc mà phần lý trí nặng là con người duy lợi, với nhiều thủ đoạn kiếm tiền.

Như vậy, Liêm Trinh Hóa Lộc hợp với các cung Mệnh, Tài, Quan. Đóng vào cung Phúc thì thành ra ý hướng chỉ ham hưởng thụ, phá của hơn là làm ra của.

Trường hợp Liêm Trinh Hóa Lộc đứng thế hãm mà gặp các sao Sát, Hỏa, Linh, Không, Kiếp thì lại khiến cho vì tiền bạc mà hệ lụy — ví dụ có bạn phản, đam mê cờ bạc thuốc sái, sắc tình để bị phá sản.

Liêm Lộc lạc hãm đóng cung Tật Ách. Liêm Trinh chủ phế bệnh và thận bệnh. Khi tâm thần bất giao còn gây ra thần kinh bệnh.

Liêm Trinh Hóa Lộc vào cung Phụ Mẫu không nhất định là cha mẹ giàu có, mà nhất định là quan hệ tình cảm với bố mẹ đầy đặn.

Liêm Lộc đóng cung Phối thì Phu Thê đắc lực cùng nhau gây cơ nghiệp. Liêm Trinh Hóa Lộc vào cung Bào hay cung Nô thì anh em hay bạn bè đắc lực, nếu không ở thế hãm.

Liêm Lộc phải nhất diện, đảo không nên đứng với vừa cát tinh vừa hung tinh, gây thành tình trạng xung đột giữa cảm tình với lý trí trong cách xử thế, vì vậy mà lắm khuyết điểm.

Liêm Trinh Hóa Lộc không nên hội xung với Vũ Khúc Hóa Kị (ví dụ nguyên cục Vũ Kị gặp đại hạn Liêm Lộc) gây ra hao tài tốn của vì tình cảm, hoặc vì tranh chấp tiền bạc mà mất cảm tình.

Trái lại, Liêm Lộc sẽ tốt hơn nếu gặp Tham Lang Hóa Tinh, làm cho Tham Hỏa bạo phát. Nhưng phải coi chừng Không Kiếp, vì có cả Không Kiếp tất bạo phát với bạo bại đi đôi — bạo phát do may mắn, rồi bạo bại lại do rủi ro; trí tuệ và tài năng không tham dự bao nhiêu.

Liêm Trinh Hóa Lộc hay hơn hết là thấy Lộc Mã giao trì. Nguyên cục Liêm Lộc tới vận giao trì Lộc Mã dễ làm giàu, với điều kiện không bị Kình Dương, Đà La, Linh Tinh, Hỏa Tinh, Địa Không, Địa Kiếp nhảy vô phá.

Hóa Lộc Thái Âm

Thái Âm là tài tinh, Hóa Lộc chủ về tiền tài. Như vậy Thái Âm với Hóa Lộc kể là đồng khí; Hóa Lộc tăng cường lực lượng cho Thái Âm, với điều kiện Thái Âm phải đứng ở miếu địa. Hóa Lộc được Thái Âm miếu khiến cho thuận toại về tiền bạc mạnh hơn.

Nếu Thái Âm đứng thế hãm, thường chỉ mãn nguyện trên tinh thần chứ không trên thực chất, nghĩa là phong lưu vui sướng mà không có nhiều tiền.

Hóa Lộc Thái Âm khác với Hóa Lộc Thiên Đồng ở điểm không bị đột biến rơi vào nghịch cảnh. Nói khác đi, Đồng Lộc thường gian truân hơn Âm Lộc.

Hóa Lộc Thái Âm lúc khá giả, tính trên con số thì không hơn thiên hạ, nhưng tâm tình, cung cách hưởng thụ hơn hẳn Đồng Lộc, ngay cả lối kiếm tiền cũng ung dung thanh thản hơn.

Thái Âm là sao tiền bạc. Vũ Khúc cũng là sao tiền bạc, nhưng Thái Âm chủ tĩnh, thiên về tiềm tàng kiếm tiền bằng kế hoạch, cho nên không sôi nổi bôn ba như Vũ Khúc.

Khi Thái Âm đóng hãm cung, lại kèm bên sát diệu hoặc đứng cùng Không Kiếp, thì dù có Hóa Lộc, kế hoạch cũng thường bị hư, hoặc chỉ nói thôi mà chẳng làm — vẽ rồng vẽ rắn, thực tế chỉ là số không, tính giỏi mà không xong.

Thái Âm Hóa Lộc đương nhiên cung Phúc có Cự Môn Hóa Kị, bởi vậy Âm Lộc không bao giờ được đặt vào tình cảnh đột biến từ nghịch sang thuận để hoạnh tài (được bạc hay trúng số).

Cũng như Đồng Lộc, Âm Lộc không nên đứng cùng Đào Hoa, Thiên Riêu, Xương Khúc, sẽ vì mê đắm sắc tình mà bê trễ làm ăn. Âm Lộc vào cung Tật Ách đứng thế hãm thì hay mắc bệnh trên bộ phận tiêu hóa, tì vị và ruột.

Hóa Lộc Tham Lang

Tham Lang giỏi về giao tế thù ứng, thủ đoạn tròn chặn, đối với người thường sẵn sàng giúp đỡ những ân huệ nhỏ. Tham Lang không có tài lãnh đạo nhưng có tài quy tụ. Tham Lang đi cùng Hóa Lộc thì khả năng giao tế càng tốt hơn, nhất là giao tế để tìm ra cơ hội kiếm tiền.

Tham Lang Hóa Lộc có Đào Hoa, Thiên Riêu, Đại Hao, Mộc Dục kèm bên thì chuyển ra con người đam mê tửu sắc, khách quen của vũ trường, hoan trường, thường do rượu chè trai gái mà mắc thị phi.

Tham Lang Hóa Lộc đứng cùng Tả Hữu thì bạn bè đông mà toàn bạn bè được việc. Nhưng Tham Lang Hóa Lộc đứng cùng Kiếp Sát, Thiên Hư, Tai Sát, Chỉ Bối, Âm Sát thì chỉ gặp toàn tiểu nhân phản bội, kéo bè kết đảng.

Tham Lang không có Hóa Lộc mà gặp những sao trên thì thị phi, phản bội nhẹ hơn. Tham Lang được Hỏa Tinh, Linh Tinh đồng cư hay xung chiếu gọi là Tham Hỏa, Tham Linh; thêm Hóa Lộc thì hoạnh tài, tiền bạc vào tay bất ngờ, và được mất đều mau chóng. Tham Hỏa hay Tham Linh rất sợ gặp Không Kiếp, phải đề phòng đột nhiên phá bại — phú quý chỉ như đóa hoa đàm mà thôi.

Bản chất Tham Lang ưa cạnh tranh (đánh bạc cũng là một tâm tính ưa cạnh tranh). Tham Lang Hóa Lộc vào cạnh tranh dễ có lợi. Thêm sát tinh thì cạnh tranh gian khổ hơn; công việc sắp thành gặp đột biến, phải gắng công một lần nữa rồi mới được như ý nguyện. Về sát tinh thì Đà La mạnh nhất, rồi đến Kình Dương, Không Kiếp.

Tham Lang Hóa Lộc đứng cùng sát tinh: đang thắng chuyển bại, nhưng mặt khác lại đang bại chuyển thắng. Bởi vậy ở tình trạng thất cơ lỡ vận thì nên liều; đã ăn nên làm ra rồi thì phải hết sức thận trọng.

Tham Lang Hóa Lộc ở Mệnh, ở Tài Bạch thì tốt đẹp hơn ở Quan Lộc. Vào Quan Lộc thì chức nghiệp thăng giáng luôn.

Tham Lang Hóa Lộc đóng cung Thê, cung Phu không mấy hay; nếu gặp cả Đào Hoa, Xương Khúc ở đấy thì người phối ngẫu không trung trinh. Nhưng nếu lại thấy cả sao Thiên Hình hay Tuần Triệt thì phải đoán là người phối ngẫu ở trong giới nghệ sĩ, hoặc có công việc dính líu đến hoan trường, chứ không nhất định là bất trung bất trinh.

Tham Lang Hóa Lộc vào Tật Ách, về già hay suy kiệt; số nữ thường mắc bạch đới, đường kinh lộn xộn.

Hóa Lộc Vũ Khúc

Vũ Khúc là tài tinh, gặp tài tinh Hóa Lộc thì xông xáo, nhiệt tâm phấn đấu, kết quả đắc tài. Đồng Lộc, Âm Lộc thường có may mắn thừa hưởng; riêng Vũ Lộc phải đổ mồ hôi của chính mình.

Vũ Khúc Hóa Lộc không bị Sát Kị Hình Hao, lại có Tả Hữu, Khôi Việt, Thai Tọa, Quang Quý, thì thông qua chức quyền mà có tiền.

Vũ Khúc gặp Sát Kị Hình Hao thì sự thành công trên tiền bạc phải kinh qua vất vả gian tân, nhất là đối với nữ mạng.

Tài tinh rất ngại Không Kiếp. Vũ Khúc Hóa Lộc cũng thế. Vũ Khúc Hóa Lộc bị Không Kiếp đồng hội, quá trình làm ăn tiền bạc bất ngờ hao tán, làm mất luôn thăng bằng dự đoán của mình; gặp Văn Khúc Hóa Kị cũng vậy.

Có câu phú:

Văn Khúc Vũ Khúc rất hay
Gặp Khoa Quyền Lộc là tay anh tài.

Câu này có lẽ là Văn Xương chứ không phải Văn Khúc, vì Vũ Khúc không hợp với Văn Khúc, nhất là Văn Khúc đi cùng Hóa Kị.

Văn Khúc gặp Vũ Khúc biến Vũ Khúc thành hư phù, hữu danh vô thực: có chức nhưng không quyền hành, có tiền lương cao, lộc to lời lớn nhưng không bền lâu. Với Văn Xương thì không vậy.

Vũ Khúc không sợ Hỏa Tinh, Linh Tinh, Kình Dương, Đà La; trái lại những sao này còn trợ lực cho ý chí phấn đấu của Vũ Khúc. Tất nhiên phải gặp nghịch cảnh, gặp khó khăn thì mới cần trợ lực, nhưng kết quả là thành, chỉ mất nhiều công sức thôi, không bị phá hao như Văn Khúc Hóa Kị gây ra.

Vũ Khúc Hóa Lộc, Tham Lang đứng chung, tuy không được Hỏa Tinh, Linh Tinh vẫn phát đạt (như đã nói ở chương trên). Trường hợp gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh thì bạo phát bạo bại khi đối đầu Sát Kị, Hình Hao, kể cả gặp trên vận hạn.

Vũ Khúc Hóa Lộc đóng cung Tật Ách làm giảm đi những hung hiểm của bệnh tật. Vũ Khúc Hóa Lộc đóng cung Phối, nhất là Vũ Tham, đưa đến tình trạng cuộc sống vợ chồng đột nhiên sinh biến; nếu thấy luôn những tinh diệu đào hoa thì ắt hẳn có kẻ thứ ba xâm nhập.

Hóa Lộc Thái Dương

Thái Dương chủ quý không chủ phú, nên dù gặp Hóa Lộc thì tiền bạc không đến từ cuộc phấn đấu kinh doanh mà đến từ địa vị xã hội, như người xưa nói "tiền quý hậu phú".

Tính chất Thái Dương là phát tán, tựa ánh dương quang chiếu tỏa, chứ không thâu liễm góp nhặt. Hóa Lộc đứng bên càng khiến cho phát tán tăng cường.

Thái Dương Hóa Lộc cùng một lúc phải được cả Khôi Việt, Phụ Bật, Xương Khúc thì mới toàn hảo, cục diện mới lớn lao. Chỉ độc Thái Dương Hóa Lộc thôi thì dễ bị ganh ghét đố kị, dễ trở thành cô lập, tứ diện thọ địch, khó bề phát triển mạnh.

Trường hợp Thái Dương Hóa Lộc gặp Địa Không, Địa Kiếp thì tình trạng cô lập trở nên tuyệt đối, lại phát sinh ý đồ lỗi lạc vượt hẳn thiên hạ trong tình cảnh nhiễu nhương tao loạn, nhất là Thái Dương hãm địa (Hợi, Tuất) với điều kiện không gặp sao Hóa Kị.

Vì tính chất Thái Dương phát tán, nếu đứng vào cung làm cho sự phát tán rực rỡ quá — ví dụ Tỵ hay Ngọ — thì địa vị rõ ràng khiến người chói mắt mà sinh bực bội, ngứa mắt. Cách "Nhật lệ trung thiên" hữu chuyên quyền chi quý mang khuyết điểm này; đôi khi rực rỡ bên ngoài quá mức lại chỉ là hữu danh mà vô thực.

Mặt trời ban mai, mặt trời hoàng hôn, quang huy phát tán không quá mạnh, khiến con mắt người đời thoải mái hơn mà không bị đố kị cô lập; quyền chức vẫn cao, tiền vẫn đến chẳng ai hay. Trường hợp này, Thái Dương không cấp thiết cần Tả Hữu, Xương Khúc, Khôi Việt nữa.

Thái Dương ở Hợi Tuất là Thái Dương phản mục, thất huy, nhưng vẫn có trong nó ánh sáng tiềm ẩn khả dĩ âm thầm xây dựng quyền lực, địa vị bằng tựa vào địa vị — nói nôm na là số cận quý để gây cơ dựng nghiệp.

Chuyên quyền chi quý của cách "Nhật lệ trung thiên" đưa đến kết quả chức lớn, quyền trọng, rút cục không tiền. Thái Dương Hóa Lộc vào cung Tật Ách, nếu ở Tỵ, Ngọ, Thìn, hay bị chứng nhức đầu.

Hóa Lộc Cự Môn

Cự Môn là ám diệu — nếu hung thì thành lao lực, nếu cát thì thành lao tâm. Có Hóa Lộc đứng bên, tính chất "ám" diệu ấy không thay đổi.

Bởi thế, Cự Môn Hóa Lộc mới cần Tả Hữu, Khôi Việt để mà giảm bớt gian lao. Xương Khúc chỉ làm tăng tài trí chứ không làm giảm gian lao.

Cách "Ngọc ấn trong đá" càng rất cần Hóa Lộc để làm giàu. Cự Môn Hóa Lộc khi thành công phải khiêm tốn thì mới bớt tai họa do người đời ghét mà đánh phá.

Cự Lộc hội được với Thái Dương Hóa Quyền ví như gấm thêm hoa, làm ăn với người nước ngoài thành công. Đời nay giao thương quốc tế phồn thịnh nên số Cự Lộc, Thái Dương Hóa Quyền rất hợp thời.


Nguồn: Tử Vi Tinh Điển – Vũ Tài Lục

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Nhập môn