Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Nhập môn

Bài tổng quan

Vòng Tướng Tinh Và Vòng Bác Sĩ: Hai Vòng Sao Lưu Động Trên Lá Số

Tử Vi Nam Phái - Nhập môn16/09/202619 phút đọc9 lượt đọc
Vòng Tướng Tinh Và Vòng Bác Sĩ: Hai Vòng Sao Lưu Động Trên Lá Số

Ngoài chính tinh, lá số còn có những vòng sao an theo quy luật riêng. Vòng Tướng Tinh gồm Tướng Tinh cùng các sao Phan Án, Tuế Dịch, Tức Thần, Tai Sát, Thiên Sát, Chỉ Bối, Nguyệt Sát, Vong Thần. Vòng Bác Sĩ, còn gọi là vòng Lộc Tồn, gồm mười hai sao. Bác Sĩ cần Tả Hữu, Xương Khúc, Khôi Việt mới phát huy tính tốt. Lực Sĩ chủ quyền nhưng phải đi cùng Hóa Quyền mới thành quyền. Thanh Long mang tin vui, Tiểu Hao chủ hao tổn nhỏ, Tướng Quân can trường cần Hóa Khoa để khỏi tự đắc, Tấu Thư chủ văn mặc và tài ăn nói. Phi Liêm chủ vạ miệng, Hỉ Thần hàm ý kéo dài, Bệnh Phù chủ đau yếu, Đại Hao gặp Đào Hoa thì hao vì tửu sắc. Phục Binh và Quan Phủ khép vòng bằng âm mưu và thị phi.


Vòng Tướng Tinh

Sách Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư không hề nhắc đến vòng sao Tướng Tinh. Nhưng nhiều sách Tử Vi bên Trung Quốc có ghi vòng Tướng Tinh này. Khoa Tử Vi qua Việt Nam chịu ảnh hưởng của Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư nên không dùng vòng sao này. Tuy nhiên, vì trong vòng Tướng Tinh có Hoa Cái, Đào Hoa (Hàm Trì) và Kiếp Sát, nên cũng cần hiểu qua về vòng sao này ra sao.

Trước hết là cách an sao Tướng Tinh. Tướng Tinh thuộc sao của niên chi, tính theo thế tam hợp:

Dần Ngọ Tuất, Tướng Tinh an ở Ngọ.
Thân Tí Thìn, Tướng Tinh an ở Tí.
Tị Dậu Sửu, Tướng Tinh an ở Dậu.
Hợi Mão Mùi, Tướng Tinh an ở Mão.

Tướng Tinh đi theo chiều thuận như vòng Thái Tuế, lần lượt đến Phan Án, Tuế Dịch, Tức Thần, Hoa Cái, Kiếp Sát, Tai Sát, Thiên Sát, Chỉ Bối, Hàm Trì, Nguyệt Sát, Vong Thần.

Chỉ có ba sao của vòng Tướng Tinh xuất hiện trong lá số Tử Vi Việt là: Đào Hoa (Hàm Trì), Hoa Cái, Kiếp Sát. Vị trí của chúng y hệt vị trí an bài qua vòng Tướng Tinh, nghĩa là Đào Hoa ở bốn cung Tí Ngọ Mão Dậu, Hoa Cái ở bốn cung Thìn Tuất Sửu Mùi, Kiếp Sát ở bốn cung Hợi Tí Dần Thân.

Phan Án có hai ý nghĩa cơ bản. Một là làm tăng thanh thế, tác dụng giống như Bát Tọa, chỉ khác ở điểm Phan Án có lưu niên trong khi Bát Tọa thì không — bởi vậy Thai Tọa làm tăng thanh thế cho cả một đời, còn Phan Án chỉ tăng thanh thế cho một năm. Hai là gần cận người cao sang quyền thế, hay nói khác đi là dễ gặp quý nhân. Phan Án rất hợp với Thiên Khôi, Thiên Việt; có Khôi Việt đứng bên thì được quý nhân chiếu cố, nhưng chỉ là hữu danh vô thực, kiểu nhân sĩ tư vấn vớ vẩn.

Tuế Dịch được xem như một loại lưu niên Thiên Mã, tính chất cũng là một. Lưu Lộc mà có Tuế Dịch thì cũng kể như Lộc Mã giao trì; vào Mệnh, Tài Bạch, Quan Lộc hay Thiên Di đều chủ về sự tấn tài tấn lộc.

Tuế Dịch gặp Lộc Tồn cố định trên lá số thì lại không kể là Lộc Mã giao trì, chỉ khi gặp lưu Lộc mới kể. Nếu lưu Lộc đứng cùng, đối xung với Lộc cố định mà lại thêm cả Tuế Dịch nữa, thì gọi là hiện tượng "động", đưa đến việc phải đi xa hoặc thay đổi công việc lâu dài.

Tức Thần mang ý nghĩa thiếu xung động, trì trệ, nằm ỳ một chỗ. Tức Thần vào cung Phúc Đức thì tâm tư tiêu cực, dễ bi quan, luôn nghĩ đến thất bại nên kém nỗ lực phấn đấu.

Tức Thần không nên cùng đứng với sao Thiên Cơ ở Mệnh hay Phúc Đức, vì hễ làm việc mà thấy hơi khó là bỏ cuộc. Tức Thần hợp với sao Thiên Lương; đứng cùng Thiên Lương thì giỏi tùy hòa mà thành ra đắc lực.

Tức Thần gặp Hàm Trì (Đào Hoa) thì dễ thuận chịu theo sự an bài của mệnh vận, nhất là đối với duyên tình, thiếu ý chí mạnh mẽ, gặp sao nào hay theo sao đó.

Tai Sát về cơ bản mang tính chất tai nạn, thường đem đến hung hiểm; cần phối hợp với các sao khác để đo trình độ hung hiểm ấy nặng nhẹ ra sao.

Tai Sát bao giờ cũng đóng ở cung Tí Ngọ Mão Dậu. Nếu nó gặp Đào Hoa, Mộc Dục hoặc Văn Xương Hóa Kị, mà lưu niên lưu nguyệt lại thấy luôn các sát tinh, kị tinh xung hội, thì hẳn nhiên là có tai họa vì tình — bị gái lừa, trai gạt, hoặc bị đánh đập vì ghen tuông.

Tai Sát vào cung Tật Ách làm tăng thêm sự trầm trọng của hung hiểm. Tai Sát chỉ gây hung hiểm khi nó đến cung nào mà toa rập cùng các hung sát tinh khác; trường hợp cung đó vốn cát tường thì Tai Sát vô lực.

Thiên Sát có tính chất ngược với Thiên Đức. Thiên Đức đem lại thuận lợi cho quan hệ với người trên — bố mẹ hoặc người có chức vị hơn mình — còn Thiên Sát lại gây khó khăn cho những quan hệ ấy. Thiên Sát ở Mệnh hay ở vận hạn thì khó được cấp trên nâng đỡ, hoặc bị người thân ghét bỏ.

Chỉ Bối là sao hay bị người khác nói xấu, cùng chất với Phi Liêm. Chỉ Bối đi cặp với các văn tinh Hóa Khoa, Xương Khúc thì hay bị người ghen ghét vì tài học mà đặt điều phỉ báng.

Nếu Chỉ Bối đứng cùng Phi Liêm thì tình trạng bị dèm pha càng nặng nề hơn, gặp Thiên Cơ cũng vậy. Chỉ Bối đứng cùng Thiên Lương Hóa Lộc thì là người vì tham lợi mà việc gì cũng làm. Chỉ Bối kỵ đóng ở Mệnh cung, Huynh Đệ và Nô Bộc.

Nguyệt Sát có tính chất na ná Thiên Sát, nhưng tai ách của nó thường đến một cách âm thầm. Nguyệt Sát ảnh hưởng mạnh với số nữ hơn là nam mạng.

Nguyệt Sát phải có sự trợ lực của sao đứng cùng thì mới gây rắc rối mạnh. Nguyệt Sát vào cung Tật Ách là có bệnh khó phát hiện rõ ràng. Nguyệt Sát gặp Văn Khúc, Văn Xương Hóa Kị cũng có thể gặp họa trên đường tình ái.

Vong Thần mang tính chất phá hoại bất ngờ: công việc đang trôi chảy thì đột nhiên bị phá, hoặc do đối thủ gây ra, hoặc do hoàn cảnh thay đổi làm mất tiền của, hao tổn tài lộc.

Vong Thần là chuyện thất bại đến bất ngờ, nhưng cũng còn mang ý nghĩa lãng phí; nếu nó đứng cùng Thiên Hình, Đại Hao hay Địa Không, Địa Kiếp thì thành ra con người thiếu khả năng quản thủ tiền bạc.

Vòng Bác Sĩ

Vòng Bác Sĩ cũng có tên gọi khác là vòng Lộc Tồn, vì Bác Sĩ đứng cùng một cung với Lộc Tồn. Vòng này gồm mười hai sao, mỗi sao an vào một cung trên lá số: Bác Sĩ, Lực Sĩ, Thanh Long, Tiểu Hao, Tướng Quân, Tấu Thư, Phi Liêm, Hỉ Thần, Bệnh Phù, Đại Hao, Phục Binh, Quan Phủ.

Vòng này an theo hai chiều thuận nghịch âm dương, cũng như vòng Tràng Sinh: Tử Vi Việt an theo chiều thuận đối với Dương Nam Âm Nữ, và nghịch đối với Âm Nam Dương Nữ.

Có câu quyết về sao Bác Sĩ rằng: "Bác Sĩ thông minh, Lực Sĩ quyền". Câu này chưa đủ, không hẳn là như thế. Bác Sĩ phải có Tả Hữu thì mới phát huy được đặc tính tốt kể trên.

Bác Sĩ gặp Xương Khúc mới thông minh; hội Khôi Việt mới vinh dự được người đề bạt; đồng cung với Phụ Bật mới có người thưởng thức, nâng đỡ.

Nếu không có Phụ Bật, không Xương Khúc, không Khôi Việt thì Bác Sĩ trở nên vô dụng. Có thuyết cho rằng lưu niên Bác Sĩ đi cùng Xương Khúc có thể hóa giải được cái xấu do sao Hóa Kị mang đến.

Bác Sĩ đóng ở cung Phúc Đức mà gặp Cô Thần, Quả Tú thì cô đơn, trầm lặng, ít người thân thích và không ưa giao du. Bác Sĩ thuộc Thủy.

Lực Sĩ

Lực Sĩ chủ về quyền lực, đóng vào cung có Mệnh theo sinh niên thì tác dụng khác hẳn. Ví dụ sinh năm Ngọ mà Mệnh lập tại cung Ngọ thì gặp Lực Sĩ.

Không phải cứ có Lực Sĩ là có quyền. Lực Sĩ là một tạp diệu, nó chỉ phụ giúp cho những sao chính ở cấp trên để thể hiện tính chất. Như Vũ Khúc Hóa Lộc, Hóa Quyền mà được thêm Lực Sĩ là chứng triệu nắm quyền tài chánh. Như Thiên Cơ, Thiên Lương mà đứng bên Lực Sĩ là chứng triệu nắm quyền về kế hoạch.

Lực Sĩ bởi vậy cần đi bên Hóa Quyền mới thành quyền thật sự. Nếu Hóa Quyền ấy phụ giúp cho Phá Quân, Thái Dương, Tham Lang, Vũ Khúc thì càng tốt.

Lưu niên Lực Sĩ cũng cần lưu niên Hóa Quyền; nếu lưu niên Lực Sĩ lại đứng đối xung với Lực Sĩ cố định, thêm sao Hóa Quyền nữa thì sức mạnh càng tăng hơn.

Lực Sĩ kị hội ngộ hung sát tinh, nhất là sao Kình Dương, căn cứ vào câu phú: "Kình Dương ngộ Lực Sĩ, Lý Quảng bất phong" — Mệnh hạn thấy Kình Dương, Lực Sĩ thì giống như tình cảnh Lý Quảng ngày xưa bị giáng chức. Lực Sĩ thuộc Hỏa.

Thanh Long

Có câu quyết: "Thanh Long hỉ khí, Tiểu Hao tiền". Sao Thanh Long thường mang tin vui. Thanh Long cùng Hồng Loan, Thiên Hỉ chủ về tin mừng hôn nhân, tin mừng sinh con.

Thanh Long gặp Khôi Việt, Thiên Quý, Thiên Quan, Thiên Phúc thì chủ thăng chức. Thanh Long còn có khả năng hòa giải hung họa do Bạch Hổ gây ra, như quan tụng, tang sự.

Thiên Phủ, Thanh Long, Hóa Khoa mà đóng vào cung Tài Bạch thì lấy được vợ giàu, hoặc gặp hỉ sự mà phát tài.

Khoa Tử Vi Việt còn đưa thêm nhiều tác dụng khác của Thanh Long: Thanh Long ở Mệnh mà không bị sát tinh thì có tài biến hóa công việc. Thanh Long gặp Lưu Hà giống như rồng vào biển khơi, có lợi cho thi cử, công danh. Thanh Long bị Đà La, Hóa Kị, Khốc Hư, Không Kiếp hãm lại thì thành ra con người hèn nhát.

Thanh Long đứng cùng Hóa Kị ở Thìn Tuất Sửu Mùi thì như rồng ẩn trong mây, có thể dễ xoay chuyển thời cơ. Thanh Long thuộc Thủy.

Tiểu Hao

Tiểu Hao chủ về hao tổn, mất mát. Tiểu Hao gây cho tâm ý điều hối hận, tiếc thương. Tiểu Hao kị gặp Văn Khúc và Hóa Kị; nếu thấy những sao này hội tụ vào Mệnh, Tài Bạch hoặc Phúc Đức thì cả cuộc đời hay mất mát những đồ vật đã mua sắm, nhất là hay lơ đễnh để mất những đồ vật lặt vặt.

Tiểu Hao đi cùng Phi Liêm thì mua sắm mà chẳng suy tính, mua rồi mới hối tiếc. Khoa Tử Vi Trung Quốc đối với sao Đại Hao thì đưa ra hai lập luận riêng biệt, trong khi khoa Tử Vi Việt lại bàn luận song Hao làm một thể (sẽ nói tới khi bàn về sao Đại Hao). Tiểu Hao thuộc Hỏa.

Tướng Quân

Có câu quyết: "Tướng Quân uy vũ, Tấu Thư phúc". Do hai chữ "uy vũ" này, Tướng Quân rất cần gặp Hóa Khoa, nhất là Tử Vi Hóa Khoa, Thái Dương Hóa Khoa, Vũ Khúc Hóa Khoa hay Văn Xương Hóa Khoa.

Những sao trên mà đóng ở cung Quan Lộc thì càng thêm phong quang, vinh dự. Tướng Quân đứng cùng Hóa Kị sẽ đưa đến tình trạng vì có thời đắc ý mà dương dương tự đắc, dẫn đến bị người khác hiềm thù, ghét bỏ.

Tướng Quân có tính chất can trường; nếu đứng cùng Thiên Tướng đắc địa thì gọi bằng cách "lưỡng Tướng", có quyền tất hiển hách. Tướng Quân đứng cùng Thiên Hình, Quốc Ấn, Thiên Mã, Thiên Khốc thì hợp với võ nghiệp. Số nữ mà có Tướng Quân hay Thiên Tướng thì tính hay ghen và thích đoạt quyền chồng. Tướng Quân thuộc Mộc.

Tấu Thư

Tấu Thư là sao mang phúc trạch đến. Nhưng đồng thời nó cũng liên quan đến văn mặc, từ chương, ăn nói, hùng biện. Tấu Thư đứng ở cung Phúc Đức, Quan Lộc thì giỏi về viết lách. Nhưng đứng cùng Hóa Kị thì lại thiên về công kích, phê bình.

Tấu Thư đóng ở Mệnh bên cạnh Hồng Loan thì số nữ ăn nói thật có duyên. Tấu Thư có tài về từ tụng; đi cùng Khôi Việt, Hóa Khoa thì dễ thắng trong việc tranh cãi mà không gây oán hận.

Tấu Thư đứng cùng bộ Cơ Cự Đồng Lương thì làm "đao bút lại" đắc lực. Tấu Thư đứng cùng Bạch Hổ thì từ tụng, ngôn luận đanh thép. Tấu Thư có thêm Xương Khúc thì ăn nói thuyết phục hay — Tấu Thư nói giỏi, người nghe theo ngay là vì vậy. Tấu Thư thuộc Kim.

Phi Liêm

Có câu thuyết rằng: "Phi Liêm khẩu thiệt, Hỉ Thần diên". Vậy thì Phi Liêm chủ về cái vạ miệng. Bởi thế, khi Phi Liêm gặp Thiên Hình thì dễ xảy ra kiện tụng. Sách Trung Quốc có hai sao Phi Liêm, mà cả hai đều chung một tính chất — như vậy là thừa, một sao Phi Liêm là đủ.

Có nhiều sách Tử Vi Việt cho rằng Phi Liêm chủ sự vui vẻ, nhanh nhẹn — điều này sai. Rồi lại nói Phi Liêm gặp Bạch Hổ ví như cọp mọc cánh, gặp Long Phượng như rồng phượng bay lên cao — càng sai nữa. Vì chữ "Phi" ở đây không mang nghĩa bay, mà mang nghĩa một loại côn trùng mối mọt.

Phi Liêm trước sau chỉ là cái họa nhỏ, gây thành chuyện khẩu thiệt, tranh tụng. Phi Liêm không nên gặp Hóa Kị, Văn Khúc vì sinh lắm chuyện. Có câu phú: "Đào Hoa ngộ Phi Liêm, Nguyễn Tịch tấn triều vi túy khách" — Đào Hoa gặp Phi Liêm thì chính là con sâu rượu vậy. Phi Liêm thuộc Hỏa.

Hỉ Thần

Hỉ Thần không phải chỉ là dấu hiệu của vui mừng qua nghĩa chữ. "Hỉ Thần diên" trong câu quyết ý nói tình trạng kéo dài, lần khần, không dứt khoát. Nó cũng là mừng vui với điều kiện gặp các sao khác — như Mệnh cung đứng cùng Văn Xương thì cuộc đời dễ vui, có những may mắn nho nhỏ như người khác lo cả cho mình, ví dụ vợ quán xuyến, anh em phù trì.

Nhưng nếu Hỉ Thần gặp Văn Khúc ở Mệnh thì những chuyện mừng vui thường bị hoãn, kéo dài, việc hôn nhân cứ lần lữa, càng nặng nếu thấy luôn cả Hóa Kị. Hỉ Thần gặp Phượng Các thì đem đến tin vui cho mưu sự, thi cử.

Hỉ Thần Hoa Cái tốt ghê
Khẩu thiệt thường đoán mọi bề đảm đang.

Hỉ Thần thuộc Hỏa.

Bệnh Phù

Bệnh Phù chủ về bệnh, đau yếu. Bệnh Phù tuyệt đối không nên đứng cùng Hóa Kị ở Mệnh cung và Tật Ách cung. Bệnh Phù gặp Đào Hoa, Thiên Riêu ở Tật Ách thì suy nhược vì sắc dục quá độ.

Bệnh Phù gặp Thiên Cơ, Tham Lang thì có bệnh về gan. Bệnh Phù gặp Liêm Trinh, Hóa Kị thì bệnh về thận. Bệnh Phù lại có thêm Thiên Hình thì thường đưa đến giải phẫu. Bệnh Phù vào cung Tài Bạch thì buôn bán ngành dược có lợi. Bệnh Phù cùng Thiên Hình, Hóa Kị thì gặp phong, ung nhọt. Bệnh Phù cùng Địa Kiếp, Địa Không ở cung Tật Ách thì mọi đàng huyết hư. Bệnh Phù thuộc Thổ đới Mộc.

Đại Hao

Theo lý luận của các sách Trung Quốc thì Đại Hao có hai sao: một an theo năm sinh, một an theo lưu niên. Đại Hao an theo năm sinh mang nhiều tính chất đào hoa, còn an theo lưu niên thì chỉ thuần túy là hao tán mà thôi.

Lý luận này rườm rà, không cần thiết. Vì Đại Hao gặp Đào Hoa (Hàm Trì) thì sự hao tổn đã mang tính chất đào hoa rồi; Đại Hao đi cùng Liêm Trinh, Tham Lang, Xương Khúc hoặc các sao Hóa Kị cũng đều vì tửu sắc mà hao tổn.

Đại Hao ở Mệnh mà Thiên Hư ở cung Phụ Mẫu thì không được hưởng của cải mẹ cha. Đại Hao ở cung Tử Tức mà Tài Bạch có Thiên Hư thì con cái phá của.

Sách Tử Vi Trung Quốc đưa ra nguyên tắc: "Đại Hao không nên có hàng xóm là Thiên Hư". Ở cung vận hạn nào thấy Hao với Hư đứng chung thì sự hao tổn càng tăng thêm.

Khoa Tử Vi Việt có cái nhìn khác về "song Hao" mà không thấy ở các sách Trung Quốc, không rõ xuất xứ từ đâu. Về ngũ hành sở thuộc, cả hai sao Hao đều là Hỏa.

Song Hao đắc địa ở Mão Dậu, Dần Thân; hãm địa ở Tí Ngọ — sự phân biệt hãm/đắc này không thấy ghi trên các sách Trung Quốc. Mệnh có song Hao thì dáng dấp nhỏ nhắn, bộ tiêu hóa không khỏe mạnh.

Mệnh có song Hao, theo cách nhìn của Việt Nam, thì tính tình khôn ngoan, ưa hưởng thụ, dễ đam mê cờ bạc, tửu sắc. Hao gặp Tuyệt đồng cung là người khôn ngoan nhưng không trung thực (chỉ riêng Đại Hao mới vậy).

Song Hao gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh thường mắc nghiện thuốc sái. Song Hao đi cùng Phá Quân dễ làm ăn túng thiếu. Song Hao ở Mão Dậu gọi bằng cách "chúng thủy triều Đông", như trăm con sông đổ về biển Đông, làm ăn tiền bạc có lúc dồi dào như nước; thêm Cự Cơ ở Mão Dậu thì càng tốt nữa. Cách này tuyệt đối không hề thấy sách Tử Vi nào của Trung Quốc đề cập.

Song Hao gặp Thiên Hình, Địa Kiếp vào vận hạn thì bị mất trộm. (Cách "chúng thủy triều Đông" đã nói ở phần đầu sách này, nhưng mang ý nghĩa khác hẳn.)

Sách còn ghi lại những câu phú về song Hao như sau:

Mão Dậu Cự Cơ rất hay
Công danh vinh hiển lại tay hoang tàn
Gặp song Hao là làng quán thế.

Lao đao sớm một tối ba
Đại Hao Hóa Kị đồng gia mệnh vì.

Lưỡng Hao Cự Vũ Hóa Quyền
Chiếu sai trấn thủ giặc phiên bên ngoài.

Lưỡng Hao chiếu thủ Điền Tài
Tán nhiều tụ ít mấy ai nên giàu.

Song Hao Tị Hợi nhi ngộ Sát Hình
Giáp Canh dương nữ thủ cách yếu bần.


(Người dương nữ mệnh đóng Hợi, tuổi Giáp Canh, mà gặp song Hao thủ Mệnh đứng cùng sát tinh và Thiên Hình thì nghèo hoặc yếu.)

Hao ngộ Tham Lang tài sinh dâm tình ư tình đệ.


(Tham Lang gặp Hao ở Mệnh thì dâm ngầm.)

Lưỡng Hao thiết kị ư Điền Tài.


(Hai sao Hao không nên đóng vào các cung Tài, Điền.)

Tài Phúc nhi phùng Hao Kiếp cô bần.


(Cung Tài, cung Phúc mà xuất hiện Hao, Kiếp thì thường cô đơn và nghèo.)

Thân cư Tài Bạch lại kiến song Hao, Lộc Quyền, Kiếp Hỏa tất thành thương nghiệp.


(Thân ở Tài Bạch có song Hao, Lộc Quyền và Kiếp Hỏa thì buôn bán hoành phát, nhưng cũng phải đề phòng hoạnh phá.)

Phục Binh

Phục Binh đứng cùng Thiên Riêu ở Mệnh là người quyền thuật, âm mưu, nhiều thủ đoạn. Đứng một mình thì chỉ xảo trá vặt vãnh mà hay phản bội. Bởi thế mới có nguyên tắc: Tướng Quân ở Mệnh, Phục Binh ở Thiên Di là hay, vì nội Tướng ngoại Binh; ngược lại nội Binh ngoại Tướng thì chí không lớn mà hay man trá, hoặc làm việc bằng mẹo vặt.

Nếu Phục Binh hay Phục Binh Thiên Riêu mà đứng cùng nhiều sao bất lợi cho Mệnh cung, thì lại là nạn nhân của thủ đoạn quyền thuật người khác. Phục Binh gặp Đà La thì mọi chuyện mưu tính cứ kéo dài không xong.

Phục Binh gặp Linh Tinh, Địa Kiếp dễ rơi vào phiền lụy, mắc bẫy. Phục Binh gặp Quan Phủ chiếu xung thì có rắc rối khẩu thiệt, quan tụng. Phục Binh gặp Bệnh Phù đồng cung hoặc chiếu xung thì bệnh tật triền miên.

Sách còn ghi lại những câu phú về Phục Binh như sau:

Đào Hồng Riêu Hỉ trong ngoài
Lại gia Binh Tướng gái trai ngang tàng.

Đào Hoa Thai Hỉ trong cung
Phá Quân Tướng Phục chiếu xung ở ngoài
Có chị em gái theo trai
Say mê đến nỗi hoang thai bỏ mình.


(Ở cung Bào huynh.)

Trong thời Tướng Phá Phục Binh
Ngoài thời Hoa Cái liên minh Đào Hồng
Bản cung đối chiếu tinh tường
Anh em có kẻ tư thông hẳn là.


(Ở cung Đào.)

Vợ chồng nay thuận mai hòa
Phục Binh Hóa Kị đóng tòa phối cung.

Bình Hình gặp Hóa Kị xung
Đêm ngày cư xử ra lòng bạc đen.

Khốc Hư ngộ Dưỡng không đành
Tướng Binh xung phá hẳn danh hoang thai.


(Ở cung Tử Tức.)

Tử cung Thai Tướng Phục Binh
Vợ chồng ắt hẳn tư sinh thừa nào.

Gian tà Kiếp Sát Phục Binh
Khúc Xương Thái Tuế mưu sinh tảo tần.


(Ở cung Tài Bạch.)

Cự Kị nên tránh đò sông
Phục Binh Hình Việt mắc vòng gươm đao.


(Ở cung Tật Ách.)

Phục Binh Thái Tuế Thiên Hình
Cùng người tranh cạnh tâm tình chẳng vui.


(Ở cung Phối.)

Phúc cung có kẻ chiến chinh
Tướng Binh Đế Tuyệt đóng thành ba phương.

Tướng Binh Tử Tuyệt phải là
Có người tử trận phương xa thửa nào.


(Ở cung Phúc Đức.)

Sao Phục Binh trong khoa Tử Vi Việt phong phú hơn hẳn.

Quan Phủ

Vòng Thái Tuế cũng có một sao Quan Phủ — đây là nói về Quan Phủ của vòng Bác Sĩ. Quan Phủ vĩnh viễn sẽ đứng cùng Kình Dương hay Đà La. (Như vậy thì vòng Tràng Sinh lại tiếp tục có nghi vấn về nghịch thuận, vì nếu đi thuận thì chỉ có thể đứng cùng Đà La mà thôi.)

Quan Phủ chủ về khẩu thiệt, thị phi; không nên gặp thêm Hóa Kị hoặc Thiên Hình, sẽ càng thêm rắc rối, nhất là đối với vận hạn. Không gặp Hình, Kị thì tự nó vô lực. Có câu phú:

Quan Phủ Thái Tuế một miền
Đêm ngày chầu chực cửa công mỏi mòn.

Căn cứ vào câu phú trên thì gặp Thái Tuế còn nặng hơn gặp Hình, Kị. Quan Phủ thuộc Hỏa.


Nguồn: Tử Vi Tinh Điển – Vũ Tài Lục

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Nhập môn