Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Nhập môn

Bài tổng quan

Vòng Tràng Sinh: Mười Hai Giai Đoạn Của Sinh Mệnh Trong Tử Vi

Tử Vi Nam Phái - Nhập môn16/09/202619 phút đọc19 lượt đọc
Vòng Tràng Sinh: Mười Hai Giai Đoạn Của Sinh Mệnh Trong Tử Vi

Vòng Tràng Sinh mô tả sinh mệnh qua mười hai giai đoạn nối tiếp nhau, từ khởi sinh đến tàn lụi rồi thai nghén vòng mới. Tràng Sinh là lúc mở đầu, mang tính trường cửu và đầy đặn. Mộc Dục tích lũy nhưng được đoán định qua tác dụng đào hoa. Quan Đới là tuổi trưởng thành, Lâm Quan là lúc ra đời phấn đấu, Đế Vượng là đỉnh cực thịnh mà cũng nhiều nguy cơ nhất. Suy, Bệnh, Tử cho thấy sinh lực yếu dần, dù sao Bệnh không có nghĩa là mắc bệnh. Mộ không phải đoạn tuyệt mà là tiềm tàng, hay về tích lũy của cải. Tuyệt là giai đoạn xấu nhất, còn Thai và Dưỡng mở ra hy vọng mới. Chiều thuận nghịch của sao Mộ đến nay vẫn là chỗ tranh luận, khi đối chiếu với cách an theo số Tử Bình.


Vòng Tràng Sinh

Vòng Tràng Sinh là quá trình phát triển của sinh mệnh, chia ra làm mười hai giai đoạn. Vòng Tràng Sinh đứng mỗi cung một "sao". Theo các sách Trung Quốc thì số nam đi theo chiều thuận, số nữ đi theo chiều nghịch. Khoa Tử Vi Việt thì Dương Nam Âm Nữ đi theo chiều thuận, còn Âm Nam Dương Nữ đi theo chiều nghịch.

Vòng Tràng Sinh có một khúc mắc, ấy là sao Mộ (hay giai đoạn phát triển Mộ): chỉ khi tính theo chiều thuận thì Mộ mới đóng ở Thìn Tuất Sửu Mùi — là cung Mộ khố — mà thôi; còn theo chiều nghịch thì sao Mộ không đóng ở bốn cung đó.

Vậy thì Thìn Tuất Sửu Mùi vốn vẫn là tứ Mộ, hay còn phải có thêm sao Mộ nữa? Nếu bắt buộc phải có sao Mộ đóng vào Thìn Tuất Sửu Mùi, thì chuyện thuận nghịch của vòng Tràng Sinh sẽ không còn tồn tại nữa, và vòng này chỉ có một chiều thuận duy nhất cho cả nam lẫn nữ, dương hay âm.

Có câu phú:

Phu cung đóng ở miền tứ Mộ
Gia Hồng Loan ấy số khóc chồng.

Dịch từ câu "Sở ái giả, Hồng Loan tứ Mộ liệt Phu quân chi vị", sẽ phải luận đoán thế nào? Hồng Loan ở Thìn Tuất Sửu Mùi, hay là Hồng Loan đứng cùng sao Mộ? Muốn gỡ được nút rối này thì chỉ có một con đường: chấp nhận vòng Tràng Sinh đi theo một chiều duy nhất, như cách vòng Thái Tuế vẫn đi.

Rõ ràng câu phú trên chỉ nói đến chỗ đứng Thìn Tuất Sửu Mùi của sao Hồng Loan, vì ở Thìn Tuất Sửu Mùi, Hồng Loan thường gặp Cô Thần, Quả Tú. Mà Cô Thần, Quả Tú thì không bao giờ đứng ở các cung Tí Ngọ Mão Dậu, trong khi nếu Tràng Sinh đi nghịch thì Mộ lại nằm ở Tí Ngọ Mão Dậu.

Tràng Sinh

Tràng Sinh là giai đoạn mở đầu của nhân sinh. Nó không phải là giai đoạn mà sinh mệnh lực mạnh mẽ nhất, nhưng lại là giai đoạn mà sinh mệnh lực được nung đúc, chứa chất đầy đặn nhất. Cung nào trong lá số có sao Tràng Sinh thì mang tính trường cửu, tích lũy và đầy đặn.

Như Mệnh cung gặp Tràng Sinh thì sinh mệnh lực mạnh mẽ; cung Huynh Đệ có Tràng Sinh thì anh em thân thiết, đắc lực, bạn bè tri kỷ; cung Phụ Mẫu có Tràng Sinh thì được hưởng phúc lộc của mẹ cha, được sự giúp đỡ của quý nhân; Tràng Sinh vào cung Tài Bạch thì tài sản tích tụ dần dần...

Chỉ riêng có Thiên Mã mà gặp Tràng Sinh thì lại vất vả ngược xuôi, vì Thiên Mã vốn chủ "động". Cho nên mới có câu phú:

Mã ngộ Tràng Sinh chung thân bôn tẩu.

Nghĩa là hễ có Mã hoặc có Tràng Sinh một trong hai thì vừa đủ, còn nếu cả Mã lẫn Tràng Sinh cùng gặp nhau thì lại là thái quá.

Mộc Dục

Mộc Dục là giai đoạn thứ hai của nhân sinh. Người sinh ra trước hết cần được tắm rửa cho sạch đi những huyết ô của bào thai. Tính chất Mộc Dục vẫn tiếp tục mang ý nghĩa tích lũy, nhưng lại được đoán định qua tác dụng đào hoa. Khi Mộc Dục đi theo chiều thuận của Tràng Sinh thì sẽ nằm ở Tí Ngọ Mão Dậu, cặp cùng sao Đào Hoa đóng tại đó, làm thành cách Đào Hoa Mộc Dục. Còn nếu theo chiều nghịch thì Mộc Dục sẽ nằm ở Thìn Tuất Sửu Mùi, không còn gặp sao Đào Hoa nữa. Đào Hoa đứng bên Mộc Dục thì tính dục vượng thịnh đến mức dâm đãng.

Như vậy, vòng Tràng Sinh phải có cả chiều nghịch lẫn chiều thuận, chứ không thể chỉ đi một chiều thuận. Nếu cứ theo chiều thuận mà thôi thì Đào Hoa sẽ luôn luôn gặp Mộc Dục, khiến đàn bà con gái thành ra mất nết hết còn gì. Trong khi đó, khi Mộc Dục vào Thìn Tuất Sửu Mùi thì chất đào hoa của nó bị triệt tiêu.

Mộc Dục không phải là chính Đào Hoa, chỉ được coi như "thiên đào hoa" mà thôi, bởi vậy chất đào hoa của nó có phần bất lương, bất chính.

Mộc Dục gặp Lộc Tồn, Hóa Lộc thì chất đào hoa biến thành tài lộc, có thể nhờ người khác phái mà phấn phát. Ví dụ nam mạng có Mộc Dục gặp Lộc thì đi buôn bán quần áo, phấn son, hoặc làm ca kịch sĩ... rất hợp.

Mộc Dục gặp Đào Hoa, Thiên Riêu, Thiên Hình, Hồng Loan, Thiên Hỉ thì chỉ phát triển thêm chất đào hoa mà thôi. Mộc Dục gặp Xương Khúc Hóa Kị thì vì tình mà hết cả sự nghiệp. Mộc Dục gặp Tham Lang Hóa Kị thì trăng hoa, chim vợ người, cướp chồng người. Mộc Dục đứng cùng Long Trì thì cần cẩn thận tai nạn sông nước. Mộc Dục đứng ở Mệnh cung mà vô chính diệu thì học hành dở dang. Mộc Dục gặp Đào Hoa, Thiên Riêu, Hoa Cái thì là người đam mê sắc dục.

Quan Đới

Quan Đới là giai đoạn thứ ba, giai đoạn của bắt đầu trưởng thành. Quan Đới nghĩa đen là mũ mão, thắt lưng. Khi luận đoán thì Quan Đới là sự trưởng thành; đứng ở cung nào cũng đều mang tính chất chín chắn, phát triển.

Quan Đới vào cung Quan Lộc tượng trưng cho hy vọng phát triển sự nghiệp; vào cung Phúc Đức là đầu óc tư tưởng đã thành thục. Quan Đới đứng cùng các sao thuộc bộ Không và Hoa Cái thì có khuynh hướng triết lý.

Quan Đới vào các cung Phụ Mẫu, Huynh Đệ, Nô Bộc thì trợ giúp thêm cho các sao tốt đã sẵn có ở các cung này. Quan Đới gặp Long Trì, Phượng Các, Thiên Tài, Văn Xương, Văn Khúc thì tăng thêm sự thông minh và tài nghệ.

Quan Đới đứng cùng Thái Tuế, Địa Kiếp thì lại thành ra gia nhân của nhà quyền thế. Quan Đới mà gặp nhiều sát tinh, bại tinh thì biến thành cái tròng lọng, hay một sợi dây câu thúc, khiến con người khổ sở vì công danh.

Lâm Quan

Lâm Quan là giai đoạn thứ tư, khi đã trưởng thành rồi thì tất phải ra đời phấn đấu — xã hội xưa, việc xuất sĩ được gọi là "lâm quan" (ra làm quan) phục vụ. Lâm Quan gặp Đào Hoa thì ưa phục vụ người khác phái, công việc liên quan đến người khác phái thường đưa đến phát đạt.

Thất Sát, Phá Quân đứng cùng Lâm Quan tạo thành tâm lý thích làm nhiều công chuyện khác nhau, lắm nghề. Lâm Quan gặp Thiên Cơ, Thiên Đồng thì công việc thường bị thay đổi. Lâm Quan gặp được Khôi Việt thì là người có chức vụ tương đối cao. Lâm Quan có tính hay khoe khoang và ăn nói kiểu cách. Lâm Quan gặp các hung sát tinh thì dễ gặp rắc rối, phiền lụy vì công việc, chức vụ.

Đế Vượng

Đế Vượng là giai đoạn cực thịnh của sinh mệnh lực; nó đã lên đến tột đỉnh, và khi đến đây rồi thì chỉ còn một nước tiếp theo là suy thoái. Đây là giai đoạn khỏe nhất mà cũng nhiều nguy cơ hơn hết.

Đế Vượng vào cung Quan Lộc là tốt nhất, nếu có thêm Tả Hữu càng hay. Đế Vượng đứng cùng Tham Lang, Hỏa Tinh, Linh Tinh thì bạo phát bạo tàn. Tử Vi có Đế Vượng thì tăng hẳn sự tôn quý.

Thiên Phủ, Thái Dương, Thái Âm cũng vậy, với điều kiện Thái Dương phải đắc địa cho người sinh ban ngày, Thái Âm đắc địa cho người sinh ban đêm, và Thiên Phủ miếu vượng — có Đế Vượng thì khả năng lãnh đạo càng tăng thêm.

Suy

Suy là giai đoạn của sinh mệnh lực chuyển từ vượng đến nhược. Nó vào cung Phụ Mẫu khiến cho quan hệ thân thiết với cha mẹ trở thành nhạt xa. Vào Mệnh, Thân cung thì chí phấn đấu không bền. Vào cung Tài Bạch thì thiếu lòng tự tin. Vào cung Quan Lộc thì không hăng hái với việc lập công danh, chỉ an phận. Suy ở lưu niên, lưu nguyệt tác dụng mạnh hơn Suy cố định trên lá số. Suy đóng cung Phúc Đức thì dòng họ phân ly, sơ tán.

Suy mà đóng ở Mệnh, Thân cũng làm cho con người cùn nhụt chí phấn đấu, làm việc đầu voi đuôi chuột. Vào cung Tài Bạch thì cái tính tự tin tìm kiếm tiền bạc thiếu mạnh mẽ, không thể kinh doanh buôn bán. Vào cung Quan Lộc thì chuyện công danh, quyền chức dễ bị đẩy qua thế yếu.

Bệnh

Bệnh là cung giai đại biểu cho một giai đoạn phát triển trong quá trình nhân sinh. Vượng rồi suy, suy rồi bệnh. Nhưng không phải Bệnh mang cái nghĩa là đã suy đến cùng cực.

Bệnh vào Mệnh cung không thể bảo rằng người ấy mắc bệnh, sẵn sàng mắc bệnh. Nó chỉ nói lên cái lực sinh mệnh không vững vàng. Vào cung Phụ Mẫu, Huynh Đệ thì duyên phận với người thân bất túc. Vào cung Tài Bạch thì ý chí tìm tiền bạc nhược, thiếu đầu óc thực tế; nếu gặp Hóa Kị cùng các sát tinh khác thì do bệnh tật mà hao tổn tiền tài. Vào cung Quan Lộc, trường hợp có cả Thiên Lương, thì nên theo đuổi nghề thuốc (thầy lang, y tá), chứ vào những ngành cần một cá tính quyết liệt thì không mấy hay.

Sao Bệnh cố định ảnh hưởng không nặng bằng ảnh hưởng vào vận hạn, lưu niên. Bệnh đóng ở cung Tật Ách thì sức khỏe kém.

Tử

Tử không thể giảng theo lối văn chương thông thường mà cho là sự chết chóc. Bệnh đến độ cùng cực là Tử — một giai đoạn yếu nhược hoàn toàn của sinh mệnh.

Tử vào cung Phụ Mẫu, Huynh Đệ thì thân thuộc sơ ly; nếu nó gặp Kị, Hình ở cung này thì không được cả sự che chở, nuôi dưỡng của bố mẹ.

Tử đứng ở cung Phúc Đức thì con người tâm ý tiêu cực, không bao giờ thành chủ động, an phận, tùy thuộc. Tử đóng cung Tài Bạch thì cái lòng ham kiếm tiền nguội lạnh, có khuynh hướng dành dụm cất giấu hơn là xoay xở phát triển.

Tử vào Mệnh cung thì tính thâm trầm, kín đáo, pha ít nhiều bi quan, dễ buồn. Cũng như các sao khác thuộc vòng Tràng Sinh, Tử ảnh hưởng vào vận hạn, lưu niên, lưu nguyệt, lưu nhật mạnh hơn.

Mộ

Ba sao trọng yếu của vòng Tràng Sinh là: Tràng Sinh, Đế Vượng và Mộ, gọi tắt bằng Sinh - Vượng - Mộ. Sinh là sinh ra và lớn lên, Vượng là cường tráng thành thục, Mộ là tiềm tàng.

Vậy thì không có nghĩa là chôn đi, sinh mệnh hoàn toàn đoạn tuyệt. Mệnh, Thân cung không nên đứng vào chỗ có sao Mộ, vì sự khai triển thành công sẽ khó khăn, vất vả hơn.

Mộ vào cung Tài Bạch lại hay, vì dễ tích súc của cải hơn; dù số nghèo cũng không đến nỗi khổ, số giàu thì bền. Hóa Lộc đóng ở cung Mộ thì tiền bạc thiếu linh động phát triển.

Đến đây lại gặp phải một nghi vấn: các lý thuyết gia nêu ra nguyên tắc rằng Lộc Tồn không bao giờ đóng vào cung Mộ. Nếu Tràng Sinh đi theo chiều nghịch thì đương nhiên Mộ vào cung Tí Ngọ Mão Dậu, mà Lộc Tồn lại có mặt ở đây đối với các tuổi Ất, Đinh, Kỷ, Tân và Quí. Như vậy, cung Mộ Thìn Tuất Sửu Mùi không liên quan gì đến các sao Mộ của vòng Tràng Sinh hay sao?

Nếu áp dụng đúng nguyên tắc này thì vòng Tràng Sinh chỉ có một chiều đi thuận mà thôi. Nhưng rành rành sách Tử Vi Đẩu Số lại ghi vòng Tràng Sinh đi theo cả hai chiều thuận và nghịch, tùy theo Dương Nữ hay Âm Nam, hoặc tùy theo Nữ mạng, Nam mạng.

Qua kinh nghiệm thực tế thì tất cả những cung Mệnh nào đóng vào tứ Mộ, cuộc đấu tranh cho sự thành đạt thường khó khăn vất vả hơn — như các cách Tử Phá, Tham Vũ, Thiên Phủ, Thiên Tướng...

Tuyệt

Tuyệt là giai đoạn xấu nhất. Tử với Mộ dù sao cũng còn có sinh cơ, nhưng Tuyệt là tuyệt diệt. Cho nên Tuyệt đóng ở cung Phụ Mẫu, Huynh Đệ hay Phu Thê đều kể là tuyệt đối xấu. Tuy nhiên đây chỉ là tạp diệu mà thôi, còn cần phối hợp với các sao khác ở những cung này để quyết đoán, không chỉ căn cứ vào riêng một sao Tuyệt.

Tuyệt vào cung Tật Ách có tốt như Triệt, Tuần hay không? Căn cứ theo đúng nghĩa "tuyệt" của nó thì không, mà trái lại. Tuyệt vào Quan Lộc và Tài Bạch khiến ý chí kém cỏi, ưa nản lòng, thiếu hăng hái chiến đấu.

Các sách Trung Quốc không thấy nói đến cách "Tuyệt Hỏa" — tức Tuyệt gặp Hỏa Tinh. Nhưng Tử Vi Việt thì có: Tuyệt gặp Hỏa Tinh mà Mệnh cung đóng ở Hợi, lại là con người quật khởi, hiên ngang. Vận gặp cách này thì dễ xoay chuyển thời cơ, như con ngựa Đích Lư của Lưu Bị nhảy qua Đàn Khê lúc sắp cùng khốn mà lại vượt lên được.

Tuyệt Hỏa đi cùng Thất Sát thì thành ra người tàn nhẫn — phải chăng vì tâm ý bị dồn nén đến cùng độ mà phản công mạnh trở lại? Có câu phú:

Cung Tỵ Sát ấy là đẹp quá
Nếu chẳng may Tuyệt Hỏa cùng ngồi
Ấy phường tàn nhẫn đó thôi
Ấy phường khát máu tanh hôi sá gì.

Thai

Sau khi tuyệt diệt thì đến một sinh mệnh khác khai mở. Nhưng Thai đại biểu cho sự yếu nhược, non nớt, chưa có một sức mạnh nào cả. Vậy nên Thai đóng ở Mệnh cung thì ý chí lực còn non kém. Nhưng đồng thời nó cũng đại biểu cho một hy vọng.

Theo sách vở Trung Quốc, Thai đứng cùng Nhật Nguyệt, Thiên Lương ở cung Tài Bạch, Quan Lộc thì chỉ vào một kế hoạch lâu dài để phát triển cơ nghiệp. Tử Vi Việt lại luận về sao này nhiều hơn.

Thai đóng ở cung Tử Tức mà gặp thêm nhiều quý tinh thì con đông, dễ đẻ dễ nuôi; nếu gặp nhiều sát tinh thì ngược lại. Thai đóng ở Mệnh mà gặp Khôi Việt, Hồng Loan thì là bậc văn chương.

Thai đi cùng Kình Dương, Đà La, Linh Tinh, Hỏa Tinh thì lại ra ngu dốt. Cung Phu Thê có Đào, Thai thì vợ chồng dễ đưa đến tình trạng ngoại hôn. Số nữ mà Mệnh cung hay Phu cung có Thai, Đào thì tiền dâm hậu thú. Đại hạn, tiểu hạn có Thanh Long, Thiên Hỉ thì dễ đạt được ước nguyện về con cái.

Sách còn ghi lại những câu phú về sao Thai như sau:

Thai phùng Sát Dục tu phòng sản phụ.


(Số nữ ở cung Tật Ách hay Tử Tức có Thai gặp Kiếp Sát, Mộc Dục thì sinh đẻ khó khăn.)

Nữ mệnh Thai Đào phùng Kiếp gián đoạn tử cung.


(Số nữ có Thai, Đào, Kiếp Sát thì có điều không ổn về bộ phận sinh đẻ.)

Thai tinh ngộ Thái Âm cung Tử
Tất là con cầu tự mới sanh.

Thai phùng Tả Hữu Hợi cung
Nam nhân ắt có con dòng thiếp thê.


(Ở cung Tử Tức.)

Tử cung Thai ngộ Hỏa Linh
Đào thai những giống yêu tinh muộn phiền.

Thai phùng Đào Hỉ vận này
Vợ chồng mừng đã đến ngày nở hoa.

Dưỡng

Dưỡng là nuôi — kết thai rồi thì phải nuôi dưỡng nó. Dưỡng với Mộ bao giờ cũng ở hai cung đối chiếu nhau trên lá số. Dưỡng cũng như Mộ đều mang ý nghĩa tiềm tàng, ẩn phục. Nhưng Mộ thì ẩn tàng khi đã vào thời kỳ suy tàn, còn Dưỡng thì ẩn tàng của giai đoạn chưa hoàn toàn thành thục, mà Dịch Kinh gọi bằng "tiềm long vật dụng" (rồng ẩn trong ao). Dưỡng rất hợp cho thời kỳ sửa soạn để phát động.

Dưỡng vào cung Tật Ách là bệnh đã xâm nhập tiềm tàng. Dưỡng vào Quan Lộc thì làm việc gì cũng cần suy tính, có kế hoạch chu đáo, không thể cứ làm bừa.

Đối với Tử Vi Việt thì Dưỡng đại biểu cho tính chất cẩn thận, và hợp với nghề chăn nuôi. Dưỡng vào cung Tử Tức thì nuôi con người hoặc con riêng. Dưỡng vào cung Huynh Đệ thì có anh em nuôi.

Tam Không ngộ Dưỡng đinh ninh
Nuôi con nghĩa tử giúp mình yên vui.

Khốc Hư ngộ Dưỡng không lành
Tướng binh xung phá hẳn đành hoang thai.


(Nói về những sao trên khi đóng vào cung Tử Tức.)

Vòng Tràng Sinh là quá trình sinh ra, lớn lên, già nua và tuyệt diệt của một hành; từng "sao" trong vòng này không có ngũ hành sở thuộc riêng nữa. Có một vài sách Tử Vi Việt lại ghi: Tràng Sinh thuộc Thủy, Mộc Dục thuộc Thủy, Quan Đới thuộc Kim... sai đến mức Tử mà cũng thuộc Thủy nữa thì thật là cả một chuyện khôi hài.

Một Lần Nữa Trở Lại Vòng Tràng Sinh

Chuyện tranh luận về thế thuận nghịch của vòng Tràng Sinh. Dương nam đi thuận chiều, Âm nam đi ngược chiều. Dương nữ đi ngược chiều và Âm nữ đi thuận chiều.

Vòng Tràng Sinh của Tử Vi, vì tính theo cục (Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ) đưa đến tình trạng là cứ đi thuận thì Mộ khố mới hiện ra ở các cung Thìn Tuất Sửu Mùi, trong khi đi ngược thì không. Cho nên có đề nghị an Tràng Sinh phải giống như an vòng Thái Tuế, đều phải đi theo chiều thuận. Như thế sẽ không có thuận nghịch, và không có thuận nghịch thì cũng không có âm dương.

Khi nói về lý số mà không nói âm dương là khó ổn. Vì trên hàng can, cứ một dương lại kèm một âm — ví dụ Giáp là dương Mộc, thì Ất là âm Mộc, cứ thế cho đủ ngũ hành.

Tranh luận thuận nghịch cho vòng Tràng Sinh không tìm thấy lối thoát. Vì an theo cục thì tự nó không có sự phân biệt Âm Dương, nên phải căn cứ vào Âm nam Dương nữ thì lại đi trật đường của cung Mộ.

Trong khi số Tử Bình, hay gọi nôm na là số Bát Tự, lại tính chuyện Sinh, Vượng, Tử, Tuyệt bằng chính hàng can với Âm Dương thuận nghịch, thì Dương thuận hay Âm nghịch đều đưa cung Mộ vào chính vị của nó.

Để quý độc giả tham khảo, tôi liệt kê cách tính trên của số Bát Tự như dưới đây:

Tuổi Giáp (Mộc) Tràng Sinh tại Hợi thì Mộc Dục ở Tí, Quan Đới ở Sửu, Lâm Quan tại Dần, Đế Vượng đóng Mão, Suy ở Thìn, Bệnh tại Tị, Tử ở Ngọ, Mộ sang Mùi, Tuyệt đến Thân, Thai tại Dậu và Dưỡng đóng Tuất.

Tuổi Ất (Mộc) Tràng Sinh ở Ngọ (theo cái nghĩa Dương tử Âm sinh, khi mà Giáp tử ở Ngọ thì Ất lại sinh ra ở đây). Mộc Dục sẽ là Tị, Quan Đới ở Thìn, Lâm Quan đóng Mão, Đế Vượng tới Dần, Suy ở Sửu, Bệnh đóng Tí, Tử ở Hợi (dương sinh âm tử), Mộ đến Tuất, Tuyệt ở Dậu, Thai đóng Thân, Dưỡng sang Mùi. (Ất là âm nên tính theo chiều ngược.)

Bính, Mậu hóa Thổ thì Tràng Sinh tại Dần, Mộc Dục đóng Mão, Quan Đới về Thìn, Lâm Quan sang Tị, Đế Vượng ở Ngọ, Bệnh ở Thân, Tử đến Dậu, Mộ về Tuất, Tuyệt đóng Hợi, Thai ở Tí và Dưỡng đến Sửu. (Bính hóa Mậu Thổ là Dương nên đi theo chiều thuận.)

Đinh hóa, Kỷ Thổ, Tràng Sinh ở Dậu (Dương tử Âm sinh). Mộc Dục tại Thân, Quan Đới về Mùi, Lâm Quan sang Ngọ, Đế Vượng tại Tị, Suy đến Thìn, Bệnh về Mão, Tử ở Dần (dương sinh âm tử), Mộ về Sửu, Tuyệt tại Tí, Thai ở Hợi, Dưỡng qua Tuất.

Canh Kim Tràng Sinh tại Tị, Mộc Dục ở Ngọ, Quan Đới sang Mùi, Lâm Quan đến Thân, Đế Vượng ở Dậu, Suy ở Tuất, Bệnh qua Hợi, Tử tại Tí, Mộ đóng Sửu, Tuyệt ở Dần, Thai tới Mão, Dưỡng đến Thìn. (Canh Kim là Dương nên tính thuận.)

Tân Kim Tràng Sinh đóng Tí (Dương tử Âm sinh). Mộc Dục ở Hợi, Quan Đới sang Tuất, Lâm Quan tại Dậu, Đế Vượng về Thân, Suy đến Mùi, Bệnh về Ngọ, Tử ở Tị, Mộ qua Thìn, Tuyệt về Mão, Thai ở Dần, Dưỡng tại Sửu. (Tân đi theo chiều nghịch vì thuộc Âm.)

Nhâm Thủy, Tràng Sinh an ở Thân, Mộc Dục đến Dậu, Quan Đới về Tuất, Lâm Quan ở Hợi, Đế Vượng đến Tí, Suy sang Sửu, Bệnh đến Dần, Tử tại Mão, Mộ ở Thìn, Tuyệt ở Tị, Thai về Ngọ, Dưỡng tại Mùi (chiều thuận).

Quí Thủy, Tràng Sinh tại Mão (Dương tử, Âm sinh). Mộc Dục ở Dần, Quan Đới về Sửu, Lâm Quan sang Tí, Đế Vượng đến Hợi, Suy ở Tuất, Bệnh đến Dậu, Tử về Thân (dương sinh âm tử), Mộ đến Mùi, Tuyệt ở Ngọ, Thai ở Tị, Dưỡng sang Thìn. (Quí Thủy là Âm theo chiều nghịch.)

Thu gọn lại như sau:

Dương can Tràng Sinh có bốn chỗ: Dần cho Bính Mậu, Thân cho Nhâm, Tị cho Canh, Hợi cho Giáp.

Âm can Tràng Sinh có bốn nơi: Tí cho Tân, Ngọ cho Ất, Mão cho Quí và Dậu cho Đinh.

Như thế, cách an Tràng Sinh theo cục thấy là gượng ép, vì chỉ an theo con trai hay con gái chứ không kể gì đến bản thân của can Dương hay can Âm. Câu hỏi đặt ra là: có nên dùng thẳng dương âm của niên can để an Tràng Sinh cho số Tử Vi không?


Nguồn: Tử Vi Tinh Điển – Vũ Tài Lục

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Nhập môn