Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Nhập môn

Bài tổng quan

Vòng Thái Tuế Và Những Sao Dễ Nhầm Lẫn: Quan Phủ, Quan Phù, Âm Sát

Tử Vi Nam Phái - Nhập môn16/09/202619 phút đọc20 lượt đọc
Vòng Thái Tuế Và Những Sao Dễ Nhầm Lẫn: Quan Phủ, Quan Phù, Âm Sát

Vòng Thái Tuế gồm mười hai sao, giữa sách Trung Quốc và Việt Nam còn những điểm chưa hợp lý ở cả hai phía. Thái Tuế lạnh lùng, giỏi xét đoán, gặp sát kỵ dễ sinh kiện cáo. Thiếu Dương là mặt trời thứ hai, thông minh nhân hậu, còn Thiếu Âm là mặt trăng thứ hai. Tang Môn đối cung Bạch Hổ, cùng chủ tang tóc, trong đó Bạch Hổ lại đắc địa ở Dần, Thân, Mão, Dậu. Quan Phù chủ mệnh lệnh cấm chế, Tử Phù u ám, Tuế Phá chống đối phá phách, Long Đức và Phúc Đức giải trừ tai nạn, Điếu Khách hợp Mã Khốc thành cách tốt, Trực Phù ảnh hưởng không rõ. Việc gán ngũ hành cho tạp diệu bị xem là vô lý. Quan Phủ vòng Bác Sĩ và Quan Phù vòng Thái Tuế là hai sao rất dễ nhầm với nhau.


Vòng Thái Tuế

Sách vở Trung Quốc dùng mười hai sao cho vòng Thái Tuế như sau: Thái Tuế, Hối Khí, Tang Môn, Quán Sách, Quan Phù, Tiểu Hao, Tuế Phá, Long Đức, Bạch Hổ, Thiên Đức, Điếu Khách, Bệnh Phù.

Sách vở Việt lại dùng mười hai sao khác: Thái Tuế, Thiếu Dương, Tang Môn, Thiếu Âm, Quan Phù, Tử Phù, Tuế Phá, Long Đức, Bạch Hổ, Phúc Đức, Điếu Khách, Trực Phù.

Hai sao Thiếu Dương và Thiếu Âm chính là Hối Khí và Quán Sách bên Trung Quốc. Sao Thiên Đức bên Trung Quốc thành Phúc Đức bên Việt Nam. Sao Bệnh Phù bên Trung Quốc thành Trực Phù bên Việt Nam.

Không biết Trực Phù của sách Việt xuất xứ từ đâu, nhưng hai vòng Tràng Sinh và Thái Tuế của Trung Quốc đều có sao Bệnh Phù là điều không hợp lý. Đến như sao Tiểu Hao của vòng Thái Tuế trong sách vở Trung Quốc — trong khi vòng Tràng Sinh đã có Tiểu Hao rồi — là điều không hợp lý thứ hai.

Ngược lại, sách Việt cũng có hai sao trong vòng Thái Tuế đáng coi là không hợp lý: Thiếu Dương và Thiếu Âm, với những lời giải không dứt khoát; trong khi Hối Khí và Quán Sách bên Trung Quốc lại có lời giải vững vàng và rõ ràng hơn.

Thái Tuế

Những sao của vòng Thái Tuế chỉ đi theo chiều thuận, dù nam hay nữ, âm nam dương nữ hay dương nam âm nữ. Thái Tuế gặp các sao tốt thì mọi sự êm ả; nếu gặp hung sát tinh hay lưu niên sát kị tinh thì ắt sinh lắm phiền nhiễu.

Thái Tuế rất sợ gặp Thái Dương hãm Hóa Kị và Cự Môn Hóa Kị. Thái Tuế cũng không nên đứng vào cung tiểu hạn đối xung với Mệnh cung — sách Trung Quốc gọi bằng "phạm Thái Tuế". Có những lá số mà Thái Tuế lúc nào cũng đối xung với Mệnh cung thì thường bị những khó khăn, trở ngại luôn luôn.

Thái Tuế thuộc dương, lợi cho người sinh năm âm, và ngược lại. Như vậy lý luận gọi bằng âm dương điều hòa: nếu có gặp sát kị thì họa hại cũng giảm.

Thái Tuế bản tính lạnh lùng, xét đoán và lý luận. Có câu phú: "Thân cư Thái Tuế dữ nhân quả hợp". Thái Tuế gặp Xương Khúc, Hóa Khoa Hóa Quyền thì văn chương đanh thép. Thái Tuế gặp Tấu Thư thì ăn nói biện thuyết.

Mệnh phùng Tuế Tấu nói bằng sấm vang.

Thái Tuế gặp Hóa Kị, Đà La thì bất lợi cho công danh, dễ bị tai tiếng kiện cáo, tranh giành. Thái Tuế đứng cùng Thất Sát miếu địa là con người vừa trí vừa dũng.

Thái Tuế đứng cùng Hoa Cái ở Mệnh cung thì giọng lưỡi kiêu kỳ. Thái Tuế đi cùng Tham Lang thì nói không thực, lòng không thành:

Tham lam Thái Tuế một miền
Trong ngoài cơ trí đảo điên khó lường.

Thái Tuế gặp Quan Phủ thì có chuyện kiện tụng:

Sát Hình cô độc tính ương
Quan Phủ Thái Tuế đến thường công môn.

Thái Tuế gặp Không Kiếp thì làm ăn suy vi:

Tuế ngộ Không Kiếp vận suy
Cứu tinh Mệnh có Tử Vi mới lành.

Dậu cung Hình Tuế cùng ngồi
Tai bay vạ gió do người gây ra.

Thái Tuế kị gặp sao Bệnh Phù:

Bệnh Phù Thái Tuế dở thay.

Mệnh Thân có Hồng Đào mà vận hạn đến Thái Tuế, Kiếp Sát thì vợ chồng chia ly:

Mệnh Đào Thân lại Hồng Loan
Hạn gặp Tuế Kiếp phượng hoàng rẽ duyên.

Thiên Phủ, Đà La, Thái Tuế thủ Mệnh ở cung Tỵ là người hay nói càn nói rỡ:

Phủ Đà Tuế đóng Tỵ cung
Thiềm ngôn loạn ngữ nói rông tháng ngày.

Vận đến sao Thái Âm hãm mà bị Đà La, Bạch Hổ, Thái Tuế xung chiếu thì dễ có tang mẹ:

Nguyệt hãm Đà Hổ Tuế xung
Hãi thay điểm mẹ thoát vòng trần gian.

Cung Bào Huynh có Thái Tuế đi cùng Xương Khúc thì có người anh em nổi danh:

Khúc Xương Thái Tuế cung Bào
Có người anh trưởng thấp cao tung hoành.

Cung Thê có Đà La, Thái Tuế thì vợ chua ngoa:

Đà Tham tửu sắc la đà
Tuế Đà miệng lưỡi ắt là sai ngoa.

Cung Tử Tức có Thái Tuế đứng cùng Xương Khúc, thêm Long Phượng thì con cái vẻ vang:

Tử cung Long Phượng sang giàu
Khúc Xương Thái Tuế thập hầu tặng phong.

Nhưng sao Thái Tuế vào cung Tài Bạch lại thường không đắc thế lắm. Hãy đọc những câu phú sau đây:

Gian tà Kiếp Sát Phục Binh
Khúc Xương Thái Tuế mưu sinh tảo tần.

Quan Phủ Thái Tuế đa đoan
Thiên Cơ Thái Tuế gian nan mọi đường.

Thiếu Dương

Thiếu Dương thuộc Hỏa, tượng trưng cho mặt trời thứ hai. Tính chất thông minh, nhân hậu. Thiếu Dương đứng cùng Thái Dương đắc địa thì làm tăng sự sáng sủa, hưng vượng. Thiếu Dương có khả năng làm giảm nhẹ những tai họa, bệnh tật nhỏ.

Cái mặt trời thứ hai, cũng như mặt trăng thứ hai là Thiếu Âm, đều có vẻ gượng ép. Trong khi các sách Trung Quốc lại viết đi sau Thái Tuế là sao Hối Khí, có tính chất hoàn toàn tương phản với Thiếu Dương.

Hối Khí tượng trưng cho tình trạng tối ám, ngưng trệ. Hối Khí đóng ở Mệnh cung thì tâm tính ác liệt, có thêm Thiên Hình, Hóa Kị thì càng khó chơi. Vào vận hạn thì gặp tranh đoạt, oan khuất.

Hối Khí đóng ở cung Tài Bạch hay Quan Lộc thì vì tiền, vì chức vị mà tâm tính độc hại hoặc lo phiền. Hối Khí đóng ở Phúc Đức mà có thêm Hóa Kị thì tinh thần gò bó, trầm trệ.

Tang Môn

Tang Môn đứng đối cung với Bạch Hổ. Tang Môn thuộc Mộc. Tang Môn chủ về tang tóc. Khoa Tử Vi Việt nói: Tang Môn đắc địa ở Dần Thân Mão Dậu. Khoa Tử Vi Trung Quốc không thấy đề cập sao này đắc địa ở những cung nào.

Mệnh có Tang Môn thì tính lầm lì; đàn bà nét mặt phảng phất buồn. Tang Môn vào vận hạn mà gặp Xương Khúc Hóa Kị là có tang chế. Vận gặp Tang Môn, Điếu Khách thì ắt có chuyện buồn thương.

Tang Môn đắc địa ở nam mạng thì có tài, ham hoạt động chính trị và đầu óc xét đoán sắc bén. Luận về Tang Môn cần đi cùng với Bạch Hổ, vì đây là hai sao đi cặp với nhau.

Bạch Hổ

Bạch Hổ thuộc Kim, đắc địa ở Dần Thân Mão Dậu. Bạch Hổ nếu ở đất hãm là triệu chứng hung họa, tang tóc. Bạch Hổ đi cùng nhiều sát tinh thì tính tình bạo ngược, dễ đưa đến khắc vợ khắc chồng.

Nhiều sách Việt viết Bạch Hổ đứng cùng Thiên Hình, Kình Dương là người có chí lớn. Sách Trung Quốc lại cho rằng Bạch Hổ gặp Thiên Hình là có cái họa quan tụng, mất tiền mất của. Bạch Hổ gặp Tham Lang tại Dần thì không nên nuôi thú hay ham săn bắn, vì dễ bị thú vật cắn.

Cách Bạch Hổ đứng cùng Tấu Thư được gọi bằng "Hổ mang hòm sắc" là văn chương lỗi lạc — cách gọi này không đúng. Rồi đến cách Bạch Hổ Phi Liêm gọi bằng "hổ mọc cánh", công danh bạo phát — lại càng sai, bịa đặt. Vì như đã nói ở trên, chữ "Phi" này không phải là bay.

Sách còn ghi lại những câu phú về Tang Hổ đáng chú ý như sau:

Bạch Hổ kiếp Tướng Quân, Đào Tiềm qui ẩn.


(Mệnh cung có Bạch Hổ đứng kèm sao Tướng Quân thì như Đào Tiềm xưa, chẳng nên xông xáo vào công danh, hãy quy ẩn mới an toàn, hoặc có tâm ý không màng danh lợi.)

Nữ mệnh Hổ Riêu đa sự quá ưu.


(Số đàn bà Bạch Hổ, Thiên Riêu thì trắc trở, rắc rối mà không biết lo.)

Tang Môn thậm khổ ư Thiên La, thung huyên lãnh đạm.


(Cung Mệnh tại Thìn thấy Tang Môn thì tâm chất luôn luôn sầu khổ, ngay cả trong chỗ vui.)

Hổ Tang Riêu Bệnh vị chi tứ hung, hạnh ngộ Đồng tinh hóa cát.


(Mệnh có bốn sao hung: Hổ, Tang, Riêu, Bệnh, nhưng được sao Thiên Đồng thì lại thành hay.)

Bạch Hổ Tang Môn bất nghi ư Điền trạch.


(Hai sao Tang, Hổ không nên đứng vào cung Điền Trạch.)

Khả úy hàm kim chi Bạch Hổ.


(Bạch Hổ đóng Dậu thủ Mệnh là người có oai.)

Nữ mệnh ách địa hiềm Thai phùng Bạch Hổ.


(Cung Tật Ách của nữ mạng rất kị có Thai và Bạch Hổ, dễ bị băng huyết.)

Tang Hổ Kiếp Hình cư nhập Tử. Ám Kị lai xâm hữu tật nguyền.


(Cung Tử Tức thấy Tang Hổ, Kiếp Hình, hay Cự Môn Hóa Kị thì con cái tật nguyền.)

Riêu phùng Bạch Hổ ác thú tương tàn.


(Cung Mệnh hay cung Tật có Thiên Riêu, Bạch Hổ hãy đề phòng thú vật.)

Phúc cung ngộ Tang, Đào, Hồng, Tú
Trong họ hàng ắt có quả phụ.

Hổ Đà Kị Nhật toan tân
Hùm thiêng chó dữ lành thân mới toàn.

Tang Môn, Mã, Nhẫn hội cùng
Hạn phùng năm ấy bò trâu chẳng lành.

Đồng Nguyệt Tí gái hoa dung
Gặp Tang Riêu Khốc khóc chồng có phen.

Tham Đà đóng Dần cung hưởng lạc
Hoặc Ngọ Dần có ác tinh vô
Hợi cung Tang Hổ ưu lo
Hoặc sét đánh nạn to đợi chờ.

Hổ mà gặp Tấu đồng cung
Công danh thi cử nên công dễ dàng.

Hổ mà gặp Phi đồng sàng
Ấy hổ mọc cánh mọi đàng hanh thông.

Lục Châu thủa lầu hồng phải ách
Bởi Tuế Tang Điếu Khách cùng hòa.

Dương Linh tọa thủ mệnh ai
Lại gặp Bạch Hổ họa tai đao hình.

Hạn phùng Riêu Hổ ưu phiền
Những loài ác thú chớ nên đến gần.

Sát phùng Phù Hổ sao nên
Dã Tràng thủa trước ưu phiền ngục trung.

Phá Liêm Tang Đẩu cùng lò
Từ cao ngã xuống chờ giờ họa tang.

Tứ Linh Cái Hổ Phượng Long
Công danh quyền thế lẫy lừng một khi.

Tham Vũ đóng đất Vọng La
Gặp loài Tang Điếu một nhà càng hung.


(Tham Vũ Tuất Thìn hội Tang Môn Điếu Khách là xấu.)

Hạn hành Vũ Khúc Tham tinh
Tang Khốc Thái Tuế lâm Thìn Tuất cung
Khuất Nguyên xưa phải trầm vong
Tuổi Canh ấy phải đề phòng tử sinh.

Hãm cung Tang Tuế Cơ Lương
Ấy người kém phúc vợ con biếng chiều.

Khốc Hư Tang Mã chẳng lành
Hại người hại của phận đành tai ương.

Đào Tang đóng ở Mệnh cung
Lẳng lơ gái ấy phượng loan dứt tình.

Tật cung Thai Hổ huyết băng
Tấu Thư Hoa Cái mệnh phùng thanh cao.

Tử Tang Tả Hữu cùng ngồi
Có chị em gái duyên ôi chẳng lành.


(Ở cung Bào.)

Tang Môn Hư Khốc chẳng hay
Tuần Triệt viễn phối họa may mới thành.

Phá Quân duyên nợ ít hoàn
Cô Quả Tang Hổ Khốc thường tóc tang.


(Ở cung Phu Thê.)

Hổ Tang Không Kiếp tương gia
Sinh con yếu triết những ba bốn lần.


(Ở cung Tử Tức.)

Tuế, Hổ, Phù, hợp Khúc Xương
Có tài hùng biện văn chương anh tài.


(Ở cung Mệnh hay Quan Lộc.)

Cô Thần nếu giữ Điền cung
Tang Môn Ân Lộc của mong tổ truyền.


(Ở cung Điền Trạch. Câu này mâu thuẫn với câu "Tang Hổ bất nghi ư Điền Trạch", có lẽ nếu thêm Ân Quang Hóa Lộc cho nên vậy chăng?)

Hao Không vườn ruộng được bao
Tang Môn Linh Hỏa lâm vào họa tai.

Tang Môn Bạch Hổ chẳng lành
Cửa nhà đủ chỉ náu mình mà thôi.


(Ở cung Điền Trạch.)

Tang Môn Cô Quả chẳng hay
Quả Phu có kẻ tháng ngày cô đơn.


(Ở cung Phúc Đức.)

Tang Môn Linh Hỏa chớ màng
Thường sinh hỏa hoạn trong hàng tộc tôn.


(Ở cung Phúc Đức.)

Thiếu Âm

Cùng tính chất như Thiếu Dương, Thiếu Âm là mặt trăng thứ hai. Trong khi khoa Tử Vi Trung Quốc thay bằng sao Quán Sách. Sao này được coi là một tạp diệu trọng yếu. Quán Sách làm chuyển biến một số sao mà nó gặp.

Quán Sách gặp Tả Hữu thì người mà mình mong tới giúp lại dùng dằng chậm trễ hoặc bỏ cuộc, hoặc phạm sai lầm mà hỏng việc.

Quán Sách gặp Kình Dương, Thiên Hình thì bị ngăn trở bởi luật pháp, hoặc bệnh tật khiến công việc không tiến. Quán Sách không nên đóng ở Mệnh cung và Tài Bạch, sẽ bị người khác khiên chế bằng quyền lực, tiền bạc.

Quán Sách vào Quan Lộc dễ bị cách chức, hoặc do chức nghiệp mà bị đẩy vào hình pháp. Như vậy khác hẳn với tính chất tốt đẹp, phù trợ của Thiếu Âm. Cũng như Thiếu Dương, sự luận đoán tính chất về sao này còn lờ mờ. Xét ra cách gọi Quán Sách hợp lý hơn.

Quan Phù

Quan Phù, theo nghĩa chữ, là một mệnh lệnh cấm chế thời xưa, thuộc quan ty hình pháp. Quan Phù thuộc Hỏa. Quan Phù đứng một mình thì vô lực. Nó đứng theo thế tam hợp với Thái Tuế, Bạch Hổ.

Nếu có thêm sát tinh, kị tinh đứng cùng Thái Tuế thì Mệnh vận có Quan Phù mới tác hại. Quan Phù phạm sát kị mà gặp luôn cả Hỏa Tinh thì càng phiền dữ, cách gọi bằng "Hỏa thôi Quan Phù" — hung sự tới rộn rập và bất ngờ.

Quan Phù gặp Xương Khúc, Thái Tuế mà không có sát kị tinh thì lại là người biện thuyết giỏi, hợp với nghề thầy kiện. Hội cùng Tuế, Đà, Hóa Kị là rắc rối. Gặp Liêm Trinh, Tang Môn, Bạch Hổ thì tai nạn, thị phi.

Tử Phù

Tử Phù thuộc Hỏa. Tử Phù có tính chất u ám, buồn thảm, gây cản trở cho công việc, phá rối những niềm vui. Luận cứ về sao này không mấy rõ rệt, vững vàng.

Tuế Phá

Tuế Phá là sao đối xung với Thái Tuế. Ví dụ Thái Tuế ở Tí thì Tuế Phá ở Ngọ. Nó chống phá Thái Tuế. Tuế Phá không nên đóng ở cung Tài Bạch; đóng ở đây mà gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh, Vũ Khúc thì vấn đề tài chánh đột nhiên phát sinh tranh chấp. Tuế Phá cố định không gây hại bằng Tuế Phá lưu niên, mà thông thường ta vẫn gọi là "năm xung tháng hạn".

Nếu Tuế Phá rơi vào cung Phụ Mẫu mà những sao khác ở cung này cũng xấu thì sẽ có nỗi lo tang chế. Tuế Phá chủ về chống đối, phá phách. Tuế Phá thuộc Hỏa.

Long Đức, Phúc Đức

Long Đức, Phúc Đức cùng một tính chất: giải trừ tai nạn, đau ốm, quan tụng. Sách vở Trung Quốc đưa sao Thiên Đức vào vòng Thái Tuế và không có Phúc Đức cho vòng này. Sách vở Việt thì Thiên Nguyệt Đức tính riêng theo năm sinh, khởi từ hai cung Tị và Dậu.

Long Đức, Phúc Đức mà gặp được Thiên Thọ thì khả năng giải trừ đau ốm càng mạnh. Long Đức, Phúc Đức, Thiên Đức, Nguyệt Đức hội tụ vào Mệnh cung là cách "tứ đức". Có đủ bốn sao này thì tính dâm đãng của Đào Hoa, Thiên Riêu, Hồng Loan, Địa Kiếp bị chế ngự, không còn rông rỡ nữa. Phúc Đức thuộc Thổ.

Điếu Khách

Điếu Khách tượng trưng cho bộ quần áo tang (hiếu phục). Điếu Khách chỉ ảnh hưởng xấu khi vào vận hạn mà lưu niên Điếu Khách đến cung có Tang Môn cố định, hoặc Thiên Hình, Thái Tuế. Điếu Khách đóng ở Mệnh cung thì thường hay nói khoác, ba hoa.

Khoa Tử Vi Việt có cách Điếu Khách đi cùng Thiên Mã, Thiên Khốc, gọi tắt bằng Mã, Khốc, Khách. Cách này làm ra hình tượng cưỡi ngựa có kẻ hầu, có nhạc loa — là hình tượng mọi sự tốt đẹp thành tựu.

Mã, Khốc, Khách vào vận hạn cũng như vào Mệnh, Thân đều hay.

Tuấn mã Khốc Khách hợp bài
Ngựa kia có nhạc anh tài lên yên.

Trực Phù

Vòng Thái Tuế của Trung Quốc không có hai sao Tử Phù và Trực Phù. Theo các sách Việt thì Tử Phù và Trực Phù đều thuộc Hỏa, tính chất tối tăm, buồn bã, gây rắc rối cho công việc, gây tang thương cho quan hệ giữa người với người.

Qua kinh nghiệm, không thấy được ảnh hưởng rõ rệt của hai sao này. Chúng đáng kể như một nhược điểm của khoa Tử Vi, hoặc vì "tam sao thất bản" mà thành ra thiếu sót.

Ngũ Hành Sở Thuộc Của Các Tạp Diệu

Không rõ căn cứ vào đâu mà hầu hết tạp diệu của Tử Vi Việt đều ghi ngũ hành sở thuộc, trong khi tạp diệu ở các sách Trung Quốc không thấy ghi.

Có thể mình đã vẽ rắn thêm chân? Qua vòng Tràng Sinh thì thấy rõ cái chuyện vẽ rắn này. Như ta gọi sao Thai thuộc Thổ, sao Dưỡng thuộc Mộc, sao Lâm Quan, Đế Vượng thuộc Kim, thì thật là vô lý.

Vì sao? Vì vòng Tràng Sinh là quá trình sinh ra, lớn lên của một hành nếu theo số Tử Bình; còn Tử Vi thì tính Tràng Sinh căn cứ theo Hành cuộc, như Thủy nhị cục, Hỏa Lục cục...

Khi luận đoán tạp diệu, gần như chẳng bao giờ đặt vấn đề ngũ hành. Nếu tạp diệu mà cũng ngũ hành thì luận đoán sẽ đi vào màn khói mù.

Sao Âm Sát

Tử Vi khoa Việt không có sao Âm Sát. Nhưng Tử Vi khoa Trung Quốc lại rất chú trọng đến sao này. Âm Sát an thế nào? Âm Sát là sao thuộc nguyệt hệ, an theo tháng sinh như sau:

Sinh tháng 1, Âm Sát đóng Dần.
Sinh tháng 2, Âm Sát đóng Tị.
Sinh tháng 3, Âm Sát đóng Tuất.
Sinh tháng 4, Âm Sát đóng Thân.
Sinh tháng 5, Âm Sát đóng Ngọ.
Sinh tháng 6, Âm Sát đóng Thìn.
Sinh tháng 7, Âm Sát đóng Dần.
Sinh tháng 8, Âm Sát đóng Tí.
Sinh tháng 9, Âm Sát đóng Tuất.
Sinh tháng 10, Âm Sát đóng Thân.
Sinh tháng 11, Âm Sát đóng Ngọ.
Sinh tháng 12, Âm Sát đóng Thìn.

Như vậy, sao Âm Sát chỉ có mặt ở các cung Dần, Tí, Tuất, Thân, Ngọ, Thìn mà thôi, không vào các cung khác. Âm Sát có tính chất là nghi tâm. Âm Sát vào quan hệ giao tế là tiểu nhân.

Âm Sát vào tư tưởng, tâm lý là ảo giác, thiên về những điều quái dị. Sao Âm Sát qua luận đoán của những vị tu hành (Phật giáo) là sao thuộc về linh giới.

Một nhà tướng số Trung Quốc tên Trịnh Giá Học có viết nguyên một cuốn sách về Âm Sát cả mấy trăm trang, nhưng thâu tóm lại, ta có thể đưa thẳng ra những nguyên tắc của một trang cũng đủ; mấy trăm trang kia chẳng qua chỉ là những dẫn chứng rườm rà.

Sau đây là tác động của Âm Sát đối với các cung. Âm Sát vào Mệnh hay gặp tiểu nhân, bản tính nghi nghị hoặc nên dễ bị phiền não vô ích; nếu thấy luôn cả Đà La, Hóa Kị, Không Kiếp hãm thì dễ dàng đi đến ảo giác, suy nghĩ vớ vẩn, hoặc vì ma túy mà ra con người đầu óc lơ mơ.

Âm Sát ở cung Thiên Di, con người cô độc, ít hợp, khó hòa đồng, hay ngại ngùng nghi kị, mê muội với sự vật hư ảo.

Âm Sát ở Tật Ách, thêm những sát tinh khác, thì tư tưởng hành động thiếu thăng bằng, bệnh tâm trí.

Âm Sát ở Phụ Mẫu ưa những vọng tưởng không thực về gốc gác mình.

Âm Sát ở Nô Bộc hay uất ức với bè bạn, với một công việc hợp tác, nghi kị. Âm Sát ở Huynh Đệ thường bị phản trắc từ nội bộ.

Âm Sát ở Phối cung đau khổ, ngơ ngẩn vì người thương yêu mất đi do sinh ly hay tử biệt.

Âm Sát ở cung Quan Lộc làm một việc mê muội mà hại đến sự nghiệp — mê vợ, mê tình nhân, hoặc cả tin vào bạn, người dưới quyền, người trên mà khốn khó.

Âm Sát ở cung Tài Bạch, vì tự cao tự đại, vì tham mê mà phá sản.

Âm Sát ở cung Phúc Đức, tâm lý tư tưởng quá khích, cuồng tưởng, vọng tưởng, cuồng tính; gặp thêm các sát kị tinh có thể thành điên.

Âm Sát ở cung Tử Tức, con người rất chủ quan, lại hay đi vào tín ngưỡng tôn giáo đồng bóng, tuyệt đối tin rằng con cái mình giỏi hơn, đáng kính đáng yêu hơn bất cứ ai khác.

Âm Sát ở cung Điền Trạch thường gặp những nhà cửa có ma quỷ, hoặc vì vợ mất đi, con chết mà cứ lởn vởn thấy linh hồn vợ con phảng phất.

Quan Phủ Và Quan Phù

Vòng Bác Sĩ và vòng Thái Tuế có hai sao tính chất gần giống nhau, dễ làm cho người ta lầm lẫn, ấy là sao Quan Phủ thuộc vòng Bác Sĩ và sao Quan Phù thuộc vòng Thái Tuế. Giống nhau ở điểm cả hai đều có thể gây ra chuyện dính dấp đến luật pháp.

Sao Quan Phù của vòng Thái Tuế bao giờ cũng đứng theo thế tam hợp với Thái Tuế; cứ có Thái Tuế là phải có Quan Phù hội hợp. Còn Quan Phủ của vòng Bác Sĩ thì lại không có chuyện tam hợp như Quan Phù của Thái Tuế.

Có câu phú:

Quan Phủ Thái Tuế một cung
Đêm ngày chầu chực cửa công mỏi mòn.

Nếu Quan Phủ của câu này mà đổi thành Quan Phù, thì ai cũng sẽ rơi vào vòng lao lý hết sao? Thế nhưng Quan Phù của vòng Thái Tuế cũng có tính chất của một mệnh lệnh cấm chế thời xưa, thuộc quan ty hình pháp. Như vậy, hai sao này đã gây nên một nghi vấn: do tam sao thất bản, hay do tối nghĩa?


Nguồn: Tử Vi Tinh Điển – Vũ Tài Lục

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Nhập môn