Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Lộc Kị luận

Bài tổng quan

Tiến Mã, Thoái Mã Lộc Kị, Nghịch Thủy Kị Và Thủy Mệnh Kị

Tử Vi Bắc Phái - Lộc Kị luận16/09/202627 phút đọc4 lượt đọc
Tiến Mã, Thoái Mã Lộc Kị, Nghịch Thủy Kị Và Thủy Mệnh Kị

Chỉ một chi tiết tự hóa cũng có thể đảo ngược hoàn toàn cát hung, và ba cách cục Tiến Mã Thoái Mã, Nghịch Thủy Kị, Thủy Mệnh Kị là minh chứng phức tạp nhất. Tiến Mã và Thoái Mã Lộc Kị xảy ra ở bốn cung Tí, Sửu, Dần, Mão, nơi hai cung cách nhau luôn cùng thiên can: khi Hóa Lộc hay Hóa Kỵ bay đến đúng cung đang tự hóa cùng loại, nó bị đẩy tiếp thêm hai cung. Nghịch Thủy Kị hình thành khi Hóa Kỵ bay ra bị chính sao Hóa Kỵ năm sinh ở đối cung chặn lại như một bức tường, dòng Kỵ không chảy đi được, nên được xem là cách cục hứa hẹn phát đạt. Thủy Mệnh Kị là phá cách của nó: cung đối diện lại tự hóa, nên bức tường không còn chặn nổi dòng Kỵ.


Tiến Mã Lộc Kị Và Thoái Mã Lộc Kị

Tiến Thoái Mã Lộc Kị chỉ xảy ra ở bốn cung Tí, Sửu, Dần, Mão. Trước tiên xin giải thích danh từ "Tiến Thoái Mã". Định một cung nào đó làm khởi điểm của phi hóa (thái cực điểm), lúc cung này phi Hóa Lộc hay phi Hóa Kị đến hai cung ở phía trước hay hai cung ở phía sau, mà cung này lại có tứ hóa nhập vào lại có tự hóa cùng loại, như vậy, Lộc hay Kị phi hóa sẽ bắn theo chiều nghịch hai cung.

Can cung trong mệnh bàn, can cung Tí và can cung Dần nhất định tương đồng, can cung Sửu và can cung Mão nhất định tương đồng. Nếu sinh năm Nhâm, tất cung Tí là cung Nhâm Tí và cung Dần là cung Nhâm Dần, những năm sinh khác thì không phải vậy.

Trong 12 cung sẽ có tình huống can tương đồng, vì cả quyết Ngũ Hổ độn bày bố mười cung can theo chiều thuận trên 12 cung vị, nhất định sẽ có 2 cung vị xuất hiện trùng can. Hệ thống mười thiên can này không cách nào đủ 12 cung vị địa chi! Do Ngũ hổ độn khởi từ Dần, Dần đến Hợi vừa đủ một vòng 10 thiên can. Khi đến cung Tí, cung Sửu lại trở về đầu, cho nên cung Tí và cung Sửu sẽ trùng can với cung Dần và cung Mão. Vì dương can đối với dương chi, cho nên Tí và Dần nhất định sẽ cùng can. Và vì âm can đối với âm chi, cho nên Sửu và Mão nhất định sẽ cùng can.

Bất kể là Tiến Mã hay Thoái Mã, đều có Tiến Mã Kị hay Thoái Mã Kị, đương nhiên cũng có Tiến Mã Lộc hay Thoái Mã Lộc, còn lại Quyền và Khoa cũng phỏng theo đây mà suy ra.

Tiến Mã Lộc: giả thiết thái cực điểm là cung mệnh, nếu cung mệnh phi Hóa Lộc đi nghịch hai cung đến cung phu thê, lại trùng hợp cung phu thê xuất hiện tự Hóa Lộc, như vậy động thái phi Hóa Lộc này lại phải đi nghịch thêm hai cung, đến cung tài bạch. Vì tiến tới phía trước, nên được gọi là "Tiến Mã Lộc".

Thoái Mã Lộc: một tình huống khác, cũng lấy cung mệnh làm thái cực điểm. Lúc cung mệnh phi Hóa Lộc đi thuận hai cung đến cung phúc đức, lại trùng hợp cung phúc đức xuất hiện tự Hóa Lộc, động thái phi Hóa Lộc này phải đi nghịch hai cung, lùi về cung mệnh. Vì là lùi lại, cho nên được gọi là "Thoái Mã Lộc".

Tiến Mã Kị: nếu cung phúc đức ở Giáp Dần, can Giáp khiến Thái Dương Hóa Kị ở cung mệnh, mà cung mệnh là Giáp Tí nên Thái Dương lại tự Hóa Kị, Hóa Kị này phải đi theo chiều nghịch hai ô đến cung phu thê (Dần ⇒ Tí ⇒ Tuất), đây gọi là Tiến Mã Kị.

Nô Bộc (Tị)Thiên Di (Ngọ)Tật Ách (Mùi)Tài Bạch (Thân)
Thiên TướngThiên LươngLiêm Trinh, Thất SátVô chính diệu
Quan Lộc (Thìn)
Cự Môn
Dần ⇒ Tí ⇒ Tuất
Cung Giáp Dần phi Kị (→Kị) nhập Thái Dương (←Kị) ở cung Giáp Tí
Cung Giáp Tí tự Hóa Kị (↔Kị), chuyển phi Kị (↑Kị) nhập Thiên Đồng (↓Kị) ở cung Quý Hợi
Tử Nữ (Dậu)
Vô chính diệu
Điền Trạch (Mão)
Tử Vi, Tham Lang
Phu Thê (Nhâm Tuất)
Thiên Đồng ↓Kị
Phúc Đức (Giáp Dần)
→Kị
Thiên Cơ, Thái Âm
Phụ Mẫu (Ất Sửu)
Thiên Phủ
Mệnh (Giáp Tí)
Thái Dương ←Kị ↔Kị, ↑Kị
Huynh Đệ (Hợi)
Vũ Khúc, Phá Quân

Nếu cung Ất Mão phi Hóa Kị nhập cung Ất Sửu, cung Ất Sửu khiến Thái Âm tự Hóa Kị, đi nghịch hai ô nhập cung Quý Hợi (Mão ⇒ Sửu ⇒ Hợi), đây là Tiến Mã Kị. Nếu đây là trường hợp cung phu thê phi Hóa Kị nhập cung tài bạch, đi nghịch hai ô là cung thiên di. Lúc người phối ngẫu phá tiền của mệnh tạo, không chỉ hao tài cực lớn, mà còn liên lụy đến con người.

Nếu cung mệnh là Ất Mão phi Hóa Kị nhập Thái Âm ở cung Ất Sửu, vì Thái Âm ở cung Ất Sửu cũng tự Hóa Kị, do đó phi Hóa Kị phát xuất từ cung Mão sẽ theo tự Hóa Kị của cung Sửu mà chuyển phi hóa, lực Ất Mão phi Hóa Kị không thể dừng lại, mượn lực tự Hóa Kị của cung Sửu mà bay đến Thiên Đồng của cung Hợi!

Phúc Đức (Tị)Điền Trạch (Ngọ)Quan Lộc (Mùi)Nô Bộc (Thân)
Thiên LươngThất SátVô chính diệuLiêm Trinh
Phụ Mẫu (Thìn)
Tử Vi, Thiên Tướng
Mão ⇒ Sửu ⇒ Hợi
Cung Ất Mão phi Kị (→Kị) nhập Thái Âm (←Kị) ở cung Ất Sửu
Cung Ất Sửu tự Hóa Kị (↔Kị), chuyển phi Kị (↑Kị) nhập Thiên Đồng (↓Kị) ở cung Quý Hợi
Thiên Di (Dậu)
Vô chính diệu
Mệnh (Ất Mão)
Thiên Cơ, Cự Môn →Kị
Tật Ách (Tuất)
Phá Quân
Huynh Đệ (Dần)
Tham Lang
Phu Thê (Ất Sửu)
Thái Dương, Thái Âm ←Kị ↔Kị ↑Kị
Tử Nữ (Tí)
Vũ Khúc, Thiên Phủ
Tài Bạch (Quý Hợi)
Thiên Đồng ↓Kị

Tại sao lại bay nghịch hai cung đến Hợi: bởi vì cung Mão phát xuất đầu tiên là bay nghịch. Do phát xuất từ cung Mão trước tiên nhảy vào cung Sửu, là khoảng cách hai ô Mão và Sửu; vì vậy, đương nhiên phải theo thế mà chuyển, tất phải là khoảng cách hai ô Sửu và Hợi! Điều này đương nhiên đều vì duyên cớ cung Sửu có tự Hóa Kị (hoặc tự Hóa Lộc, tự Hóa Quyền, tự Hóa Khoa). Phân tích thêm một bước, phi Hóa Kị (hoặc Lộc, Quyền, Khoa) xuất phát từ cung Ất Mão, do gặp tự Hóa Kị của Ất Sửu mà chuyển phi Hóa Kị đến cung hạ xuống.

Có thể lấy tổ hợp này chia thành ba giai đoạn: giai đoạn đầu là cung phát xạ, ví dụ là cung mệnh; giai đoạn giữa là cung môi giới, ở đây là cung phu thê; giai đoạn cuối là cung hạ xuống, ở đây là cung tài bạch.

Tưởng tượng thành cung mệnh mượn lực của cung phu thê phi Hóa Kị đến cung tài bạch. Ở đây cung phu thê đóng vai trung gian cho Hóa Kị phi xuất từ cung mệnh nhập cung tài bạch, và có hàm nghĩa là, kiếm tiền vất vả, không giữ được tiền, mà còn thường gặp biến động.

Thoái Mã Kị: nếu cung mệnh ở cung Ất Sửu phi Hóa Kị nhập Thái Âm ở cung phúc đức là ở cung Ất Mão, cung phúc đức cũng là can Ất, nên Thái Âm tự Hóa Kị, thì Hóa Kị này ắt phải lùi lại hai cung trở về cung mệnh (Sửu ⇒ Mão ⇒ Sửu), đây gọi là Thoái Mã Kị. Cung Ất Mão là Thái Âm, cung Ất Sửu là Thiên Cơ, là đúng. Lúc Thoái Mã Kị ở lại nhân cung, ắt sẽ có điều đáng tiếc, ngoài ra thì đoán là có tổn thất.

Quan Lộc (Tị)Nô Bộc (Ngọ)Thiên Di (Mùi)Tật Ách (Thân)
Cự MônLiêm Trinh, Thiên TướngThiên LươngThất Sát
Điền Trạch (Thìn)
Tham Lang
Sửu ⇒ Mão ⇒ SửuTài Bạch (Dậu)
Thiên Đồng
Phúc Đức (Ất Mão)
Thái Âm ←Kị ↑Kị
Tử Nữ (Tuất)
Vũ Khúc
Phụ Mẫu (Dần)
Tử Vi, Thiên Phủ
Mệnh (Ất Sửu)
Thiên Cơ →Kị
Huynh Đệ (Tí)
Phá Quân
Phu Thê (Hợi)
Thái Dương

Chỗ khiến cho người ta đau đầu chính là làm rõ lúc nào là tiến mã, lúc nào là thoái mã. Trên thực tế, nếu đọc kĩ định nghĩa thì biết rằng "trú mã" (chỗ mã dừng lại) luôn đi nghịch, thuần túy chỉ tại vị trí của cung phi xuất phân chia ranh giới nên mới có sự phân biệt tiến mã và thoái mã. Vì vậy nên ghi nhớ lúc nào "trú mã" cũng đi nghịch thì sẽ không sai. Lấy hai ví dụ trên để nói, nếu phi Hóa Kị gặp tình huống tự Hóa Kị, thì gọi là Tiến Mã Kị hay Thoái Mã Kị.

Về phương pháp vận dụng, có một số người cho rằng, gặp Tiến Thoái Mã thì mang phi hóa trực tiếp đến cung đi nghịch. Như trong ví dụ trên, có hiện tượng "cung mệnh phi Hóa Lộc nhập cung phu thê", nhưng vì là tiến mã, nên trực tiếp thành "cung mệnh phi Hóa Lộc nhập cung tài bạch". Như vậy quá trình "cung mệnh phi Hóa Lộc nhập cung phu thê" bỗng nhiên biến mất. Thực ra hiện tượng tiến thoái mã không thần thông quảng đại đến mức có thể làm thay đổi phương hướng phi hóa. Điều vừa thuật ở trên là sai lầm, do người ta không hiểu nguyên lí tiến thoái mã.

Cần lưu ý, nếu đi nghịch, mục đích bay đến là cung phu thê, là cung vị "đối đãi", dùng để giải thích mối quan hệ đối đãi. Lúc cung phu thê tự hóa, thì mối quan hệ đối đãi xuất hiện biến số, phải mở rộng đến cung tài bạch. Thực ra cung tài bạch là cung vị đối đãi của cung phu thê (cung vị phu thê của cung phu thê), cho nên cung mệnh phi hóa xuất quay trở lại quan điểm xuất phát của chính cung phu thê.

Lúc đi thuận, tình hình trực tiếp sẽ nhiều hơn. Cung mệnh chính là cung vị đối đãi của cung phúc đức, phi đến cung phúc đức rồi vì tự hóa mà đội trở về, là trực tiếp bay về bản thân.

Hiểu được đây chỉ là thay đổi của cung vị đối đãi, thì sẽ hiểu được thực ra mục đích của phi hóa không thay đổi, mà chỉ là nhắm đến mục tiêu đối đãi khác của nó. Phi hóa vẫn đến cung phu thê, hiện tượng chạy đến cung tài bạch có thể xem là một trong những nguyên nhân tạo thành kết quả của quá trình phi hóa, ví dụ như: cung mệnh phi Hóa Lộc nhập cung phu thê gặp tự Hóa Lộc, xuất hiện hiện tượng Tiến Mã Lộc, phi Hóa Lộc đến cung tài bạch, là tượng vì người phối ngẫu mà chi tiền ra. Cung tài bạch phi Hóa Kị nhập cung thiên di gặp tự Hóa Kị, xuất hiện hiện tượng Tiến Mã Kị, phi Hóa Kị chạy đến cung quan lộc, là tượng vì đầu tư và phát triển ra bên ngoài (hay nơi khác) khiến cho sự nghiệp gặp khó khăn về tài chính.

Cùng một lí, Thoái Mã Lộc hay Thoái Mã Kị cũng tương tự như vậy: cung mệnh phi Hóa Lộc nhập cung phúc đức gặp tự Hóa Lộc, xuất hiện hiện tượng Thoái Mã Lộc, phi Hóa Lộc chạy về bản cung (cung mệnh), là tượng vì chuyện hưởng lạc hay vì tình cảm mà bản thân gặp khó khăn và lo lắng. Cung tật ách phi Hóa Lộc nhập cung tử nữ gặp tự Hóa Lộc, xuất hiện hiện tượng Thoái Mã Lộc, phi Hóa Lộc chạy về bản cung (cung tật ách), là tượng vì nhục dục mà chuốc đào hoa.

Vì vậy, phải đồng thời xem xét cung phi nhập lần thứ nhất và cung chạy vào lần thứ hai mới gọi là Tiến hay Thoái Mã Lộc/Kị. Có sao mới có tượng (tứ tượng, tứ hóa) — không nên chỉ chú trọng "phi tới phi lui" mà xem thường tính chất riêng của từng sao.

Nghịch Thủy Kị

Nghịch Thủy Kị là cách cục rất đặc biệt trong Phi tinh kì phổ. Nếu cung mệnh, cung tài bạch, cung quan lộc có "Lưu Xuất Kị" thì gọi là "Thủy mệnh Kị". Lúc này nếu đối cung, tức cung thiên di, cung phúc đức hay cung phu thê có Hóa Kị năm sinh tọa thủ mà không có tự hóa, thì sao Hóa Kị năm sinh này giống như một bức tường, sẽ cản trở "Lưu Xuất Kị", dẫn quay ngược lại, "Lưu Xuất Kị" sẽ không lưu xuất, hình thái lúc này gọi là Nghịch Thủy Kị. Phàm mệnh bàn mà có Nghịch Thủy Kị, tất sẽ phát đạt, giàu có. Có thể làm nghề sản xuất, chế tạo, kinh doanh dây chuyền, quan hệ ngoại giao, nguồn tiền tài cuồn cuộn, sự nghiệp lên như diều. Nhưng Hóa Kị này nhất định phải do cung tam hợp của bản mệnh phi xuất, hơn nữa đối cung là cung thiên di, cung phúc đức hay cung phu thê tuyệt đối không được tự hóa, mới hợp cách Nghịch Thủy Kị. Nếu đối cung lại tự Hóa Kị (tự Hóa Lộc cũng vậy), thì sẽ hình thành "Tam Kị", trái lại sẽ cực hung, dẫn đến sự nghiệp kinh doanh thảm không còn chỗ nói, cuộc đời ắt sẽ gặp sóng gió ba đào.

Các ý tượng của Nghịch Thủy Kị có thể phân loại như sau.

Nghịch Thủy Kị của Xạ Xuất Kị: cung mệnh phi Hóa Kị nhập cung thiên di có sao Hóa Kị năm sinh tọa thủ, là ý tượng: một đời gặp nhiều quý nhân, ra ngoài thuận lợi; thích hợp sự nghiệp sản xuất. Cung tài bạch phi Hóa Kị nhập cung phúc đức có sao Hóa Kị năm sinh tọa thủ, là ý tượng: có thể tích trữ hàng hóa mà sinh tài, một đời hoạnh phát, tài vật tự nhiên tăng giá trị. Cung quan lộc phi Hóa Kị nhập cung phu thê có sao Hóa Kị năm sinh tọa thủ, là ý tượng: nên làm những nghề có tính biến động lớn, như mậu dịch (không cần đầu tư lớn), làm ăn lâu dài; còn về không có tình nhân ở bên ngoài (nếu cung phu thê không có sao Hóa Kị năm sinh, thì dễ có người thứ ba xen vào).

Nghịch Thủy Kị của Xạ Nhập Kị: tức Nghịch Thủy Kị nhập cung tam hợp của đại vận mới có tác dụng. Cung thiên di phi Hóa Kị nhập cung mệnh có sao Hóa Kị năm sinh tọa thủ, thích hoạt động ở bên ngoài, nhưng không nên đi xa phát triển, có nhiều cơ hội phát đạt ở quê hương, nơi sinh ra. Cung phúc đức phi Hóa Kị nhập cung tài bạch có sao Hóa Kị năm sinh tọa thủ, là ý tượng: nặng về hưởng thụ, tiền bạc không giữ được, nếu quản lí tốt tiền bạc thì có thể giàu có. Cung phu thê phi Hóa Kị nhập cung quan lộc có sao Hóa Kị năm sinh tọa thủ, về sự nghiệp có thể được người phối ngẫu trợ lực, vất vả mà có thành tựu, vợ chồng tuy tranh cãi nhau không ngừng, nhưng có thể sống với nhau lâu dài, không li dị.

Nghịch Thủy Kị của cung mệnh vô chính diệu, lại tự Hóa Kị, một đời thành lớn bại lớn.

Nghịch Thủy Kị gặp đối cung tự Hóa Kị hoặc tự Hóa Lộc, Hóa Kị này không cách nào quay trở lại, nên biến thành Thủy Mệnh Kị. Ba cung mệnh, tài bạch, hay quan lộc có Xạ Xuất Kị của Thủy Mệnh Kị, ở đối cung không gặp sao Hóa Kị năm sinh, chủ về không nên làm nghề sản xuất, có thể làm ăn mua bán để kiếm tiền.

Nghịch Thủy Kị của Khiếm Trái Kị: ở tuyến quan hệ nhân tế nhập cung tam hợp của đại vận mới luận là Nghịch Thủy Kị của Khiếm Trái Kị, có hiệu ứng 10 năm. Khiếm Trái Kị là "mắc nợ" tiền bạc hoặc bị phiền lụy vì mối quan hệ giữa hai người với nhau.

Cung huynh đệ phi Hóa Kị nhập cung nô bộc có sao Hóa Kị năm sinh tọa thủ, vì cung huynh đệ là cung vị điền trạch của cung tài bạch, là cung vị "kho tiền", nên bất lợi cho người có "kho tiền", là ý tượng: "mắc nợ" bạn bè, anh em. Lúc đại vận ứng nghiệm tất sẽ thấy hiện tượng thất bại như: hợp tác đổ vỡ, chi phiếu bảo chứng có vấn đề, dẫn đến khuynh gia bại sản. Nếu cung nô bộc không có sao Hóa Kị năm sinh, là ý tượng: anh em sẽ có rất nhiều ý kiến và can dự vào cuộc sống của mệnh tạo.

Nếu cung nô bộc phi Hóa Kị nhập cung huynh đệ có sao Hóa Kị năm sinh tọa thủ, là ý tượng: giao du với bạn bè không được tốt, không chân thành, tự tư tự lợi. Nếu cung huynh đệ không có sao Hóa Kị năm sinh tọa thủ, mối quan hệ với anh em thủ túc không gần gũi, hoặc không có sự quan tâm nhau.

Cung tử nữ phi Hóa Kị nhập cung điền trạch có sao Hóa Kị năm sinh tọa thủ, là ý tượng: nhiều đào hoa, nhiều con cái, đời sau phát đạt. Nếu cung điền trạch không có sao Hóa Kị năm sinh tọa thủ, là ý tượng: đào hoa không thành, duyên bạc với con cái.

Cung điền trạch phi Hóa Kị nhập cung tử nữ có sao Hóa Kị năm sinh tọa thủ, chủ về đào hoa kèm tiền bạc, nhưng nếu cung tử nữ tự Hóa Kị (hoặc tự Hóa Lộc), cẩn thận kéo vì tình cảm đào hoa mà khuynh gia bại sản. Nếu cung tử nữ không có sao Hóa Kị năm sinh, là ý tượng: cầm tiền trong nhà ra đi tiêu xài, nhiều đào hoa, người phối ngẫu đã từng li hôn, hoặc người phối ngẫu đã có con trước khi lấy mệnh tạo.

Cung tật ách phi Hóa Kị nhập cung phụ mẫu có sao Hóa Kị năm sinh tọa thủ, chủ về có cha mẹ che chở, thân thể cường tráng. Nếu cung phụ mẫu không có sao Hóa Kị năm sinh, là tự xung cơ thể, là ý tượng: sức khỏe không tốt.

Cung phụ mẫu phi Hóa Kị nhập cung tật ách có sao Hóa Kị năm sinh tọa thủ, chủ về cha dễ phát đạt. Cung tật ách là cung vị phúc đức của cung nô bộc, là ý tượng: không được hợp tác với người khác, chỉ thích hợp công việc mang tính kĩ thuật cơ thể (kĩ năng thể thao). Nếu cung tật ách không có sao Hóa Kị năm sinh, chủ về dễ thừa hưởng gene di truyền không tốt của cha mẹ.

Ý nghĩa của Nghịch Thủy Kị nhập cung thiên địa nhân: Nghịch Thủy Kị là một hình thái phi hóa trong Phi tinh kì phổ. Phi hóa tượng của cung số "2" và "5", về cơ bản là liên quan đến "tài" (tiền bạc), cách cục Nghịch Thủy Kị cũng tương tự, nhưng cung khác nhau, nên ẩn chứa ý tượng cũng có chỗ khác nhau. Ở đây lấy nguyên tắc thiên địa nhân để thảo luận: theo thứ tự 12 địa chi bắt đầu từ Tí, cứ ba cung lại lặp lại vòng "Thiên - Địa - Nhân": Tí là Thiên, Sửu là Địa, Dần là Nhân; Mão là Thiên, Thìn là Địa, Tị là Nhân; Ngọ là Thiên, Mùi là Địa, Thân là Nhân; Dậu là Thiên, Tuất là Địa, Hợi là Nhân.

Nghịch Thủy Kị lấy "tài" (tiền bạc) làm chủ, cho nên phải lấy bốn cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi làm ưu, nó phát cũng sẽ lâu dài. Nhưng đất "Tứ Khố" là cung vị "mắc nợ", vì vậy phải vất vả.

Nghịch Thủy Kị ở cung vị "nhân", là cát lợi, nhưng phải vất vả bôn ba. Nếu ở Dần, Thân, Tị, Hợi, mà là cung mệnh, cung vị "nhân" nhảy cách ba ô, nhập cung phu thê, là rơi vào cung vị "thiên", là chủ về hưởng thụ; nhưng "nhất chứa tam", tức một bên cát, thì nhất định có một bên không cát.

Tình hình khác của Nghịch Thủy Kị là, cung thiên di có sao Hóa Quyền năm sinh, còn cung mệnh phi Hóa Kị nhập cung thiên di, nên sao Hóa Quyền năm sinh này có tác dụng như cái đập ngăn nước, cũng tức là Nghịch Thủy Kị. Nhưng Kị của Nghịch Thủy Kị và Quyền của Nghịch Thủy Kị có sự phân biệt; tuy như nhau, là đều có thể làm nghề chế tạo, mở công xưởng, nhưng Kị của Nghịch Thủy Kị mở công xưởng thì không phải là công xưởng có tính xung lực đặc biệt; còn Quyền của Nghịch Thủy Kị thì có tính xung lực hóa, tức công xưởng thuộc loại chuyên môn đặc biệt, nếu không sẽ khó phát huy.

Nhưng lúc Nghịch Thủy Kị lại tự hóa, thì cũng vậy sẽ kiếm được tiền, nhưng không giữ được mà thôi. Nếu tự Hóa Khoa thì tốt hơn, ít nhiều cũng có thể giữ được một số.

Ví dụ thực tế của cách cục Nghịch Thủy Kị: cung mệnh phi Hóa Kị nhập cung thiên di, gặp Hóa Kị năm sinh, có phải là cách cục Nghịch Thủy Kị của tuyến "mệnh di" không? Nếu cung thiên di không có tự hóa, nhưng lại phi Hóa Kị nhập cung mệnh, có tính là phá cách không? Ví dụ thực tế, mệnh tạo sinh năm Ất, mệnh bàn như sau:

Tài Bạch (Tân Tị)Tử Nữ (Nhâm Ngọ)Phu Thê (Quý Mùi)Huynh Đệ (Giáp Thân)
Cự Môn, Văn Xương (tự Lộc↔Kị)Liêm Trinh, Thiên TướngThiên Lương Hóa QuyềnThất Sát
Tật Ách (Canh Thìn)
Tham Lang
Mệnh (Ất Dậu)
Thiên Đồng, Văn Khúc
Thiên Di (Mậu Mão)
Thái Âm Hóa Kị →
Phụ Mẫu (Bính Tuất)
Vũ Khúc
Nô Bộc (Kỉ Dần)
Tử Vi, Thiên Phủ
Quan Lộc (Mậu Tí)
Thiên Cơ Hóa Lộc ←
Điền Trạch (Đinh Sửu)
Phá Quân
Phúc Đức (Đinh Hợi)
Thái Dương Hóa Quyền

Trước tiên xem Thái Âm Hóa Kị năm sinh ở cung thiên di, là cách cục từ nhỏ đã rời xa gia đình, cũng chủ về từ nhỏ đã rời xa quê hương và phải phấn đấu mới có tiền đồ, đây là mệnh cách tiên thiên. Nhưng người sinh năm Ất sẽ có Lộc Tồn ở cung Mão, hình thành cách cục "Kình Đà giáp Kị", là bại cục, là ý tượng: ở bên ngoài phải dựa vào bản thân, không có quý nhân giúp đỡ, mọi việc đều gặp trở ngại, không được thuận lợi, quan trọng nhất là phải đề phòng tai nạn giao thông.

Cung mệnh là can Ất, khiến Thái Âm Hóa Kị ở cung thiên di, mà Thái Âm cũng Hóa Kị năm sinh ở cung thiên di, không có tự hóa. Tức là phi Hóa Kị bắn đến cung thiên di và gặp Hóa Kị năm sinh ở cung thiên di quay lại bắn cung mệnh, tượng này gọi là "Nghịch Thủy Kị". Là ý tượng: đa sự (cũng chủ về nhiều thị phi), rất bận rộn vất vả; có thể làm những công việc ít người chú ý, hoặc làm ăn bằng tiền mặt. "Nghịch Thủy Kị" chủ về tiền tài, giống như trong phong thủy địa lí gọi là "thu nghịch thủy", là tượng kiếm được tiền. Nhưng "tượng" chỉ thuộc về "cách" mà thôi, có phát đạt hay không, cần phải xem hành hạn hậu thiên.

Cung thiên di lại phi Hóa Kị nhập Văn Khúc ở cung mệnh, Văn Khúc Hóa Kị chủ về ở bên ngoài dễ xảy ra điều tiếng thị phi; cũng chủ về dễ xảy ra vấn đề về văn thư, giấy chứng nhận, khế ước, chi phiếu, tốt nhất không nên đứng ra làm người bảo đảm cho ai; lái xe phải tuân thủ luật giao thông để tránh bị phạt. Ở phương diện khác, Phá Quân kị thể ở Văn Khúc, Văn Khúc Hóa Kị là ý tượng: tổn tài, hao tài, thất tình, duyên tận mà tình chưa dứt, hoặc gặp sự cố phiền phức, khó xử lí.

Tóm lại, mệnh tạo tuy có cách cục "Nghịch Thủy Kị", nhưng vẫn thuộc về cục phá bại. Kị tiên thiên ở cung thiên di là "cách" đi xa, lại bị "Kình Đà giáp cung", không chỉ khó phát triển ở bên ngoài. Cung mệnh phi Hóa Kị lại bị phản hồi, cung thiên di lại phi Hóa Kị nhập cung mệnh, là ý tượng: muốn đi mà đi không được, chỉ có thể dựa vào nỗ lực của bản thân. Cho nên không được cho rằng chỉ cần có cách cục "Nghịch Thủy Kị", thì có thể kiếm được tiền hoặc phát tài, mà cần phải quan sát toàn cục, mới có thể luận định.

Cự Môn và Văn Xương tự Hóa Lộc và Hóa Kị, là tượng trồi sụt bất định, ở cung tài bạch đương nhiên chủ về thu nhập không ổn định. Nguyên nhân không ổn định ở đâu? Đó là xem phi Hóa Quyền nhập cung nào, Thái Dương Hóa Quyền ở cung phúc đức chủ về bản thân rất thích tiêu xài tiền và hưởng thụ. Nói cách khác, tức là có tượng hưởng thụ và không giữ tiền được.

Bàn thêm về Nghịch Thủy Kị: biểu hiện của Hóa Lộc ở cung mệnh là chủ về tình chớ không phải chủ về tiền bạc; Hóa Lộc ở cung tài bạch là nặng cảm tính, đa tình, rất ưa sĩ diện, có liên quan với việc kiếm tiền và tiêu xài tiền; Hóa Lộc ở cung quan lộc là biểu thị sự nhiệt tình, khát vọng đối với tri thức, cũng có kì vọng bản thân sẽ đa năng; Hóa Lộc ở cung tử nữ là biểu thị mệnh tạo nhiều dục tình, lúc dính dáng đến tiền bạc thì đó là cách tiền bạc tiêu hao.

Trong mệnh bàn, mỗi một cung đều có công dụng của nó, lấy Thiên Lương Hóa Quyền ở cung tài bạch làm ví dụ. Hóa Quyền ở cung tài bạch, ý tượng thông thường là lấy thái độ nghiêm túc để đối đãi, chịu trách nhiệm, có thể mạnh; ngoài ra còn phải nghĩ đến "phương hướng" mệnh tạo nỗ lực tạo tác (do cung tài bạch biểu thị). Tức "phương hướng" Thiên Lương Hóa Quyền nỗ lực tạo tác, để phát huy trên sân khấu cuộc đời. Thiên Lương thuộc thổ, là sao có tính chất trung thực, xử sự đúng mực, không hèn kiêu, có giáo dục; Hóa Quyền không phải là sao mà là lực tác động, tuy có tính hỏa, nhưng bị tính chất của Thiên Lương tác động, khiến Thiên Lương có biểu hiện tích cực, làm tăng thêm tính quyền uy cho Thiên Lương. Vì vậy, Thiên Lương Hóa Quyền ở cung tài bạch, có thể xếp vào nhóm người "ủng hộ" phép tắc; luận đoán sâu thêm một bước, họ thuộc nhóm người có giấy tờ hay văn bằng chứng nhận trình độ, hoặc có trải qua học tập hay được huấn luyện lâu dài, họ thành tựu là nhờ có cơ sở trường chuyên môn và có tính chuyên nghiệp. Cách mưu sinh của họ là thiên về hướng giáo hóa, giáo dục, cứu trợ, giải đáp nghi hoặc, giải quyết khó khăn; ứng nghiệm nghề nghiệp trong cuộc sống thực tế thì phải xem xét phối hợp với tổ hợp sao ở cung quan lộc để quyết định đẳng cấp cao thấp.

Giả thiết, Hóa Lộc và Hóa Kị năm sinh không tọa thủ ở "ngã cung", vậy Hóa Quyền ở cung tài bạch, dù nỗ lực đúng phương hướng, nhưng có thể làm vì người khác, nhiều lúc làm không công, trong một số tình huống là "có công thì không được hưởng, còn phá thì hưởng gấp đôi", vì thành quả nỗ lực của họ rất có thể biến thành thành quả của người khác. Tuy nhiên, nếu trong cung tài bạch có sao khác đồng cung, đó là biểu thị sẽ có thu hoạch ở phương diện khác. Cho nên lúc phân tích giải đoán mệnh bàn, không chỉ chăm chú các sao có tứ hóa nhập vào, mà phải tham khảo phối hợp tác động của các sao đồng cung khác.

Đại đa số người mới học Đẩu Số thường bị Hóa Kị "hù dọa", nhiều lúc là chuyện tốt lại luận thành tai họa. Đó là vì không nắm vững quy tắc luận đoán tứ hóa. Ví dụ như, cung mệnh của lưu niên thấy Hóa Kị lưu niên có Hóa Kị năm sinh vào các cung tam hợp của lưu niên, giả thiết địa bàn không tính Hóa Kị năm sinh và Hóa Kị lưu niên vốn không có quan hệ đối ứng. Thực ra, trong tình trạng này, có thể xem như không có Hóa Kị năm sinh, vì Hóa Kị năm sinh tuyệt đối không tác động đến các cung lưu niên.

Nghịch thủy Kị là thuật ngữ của Khâm thiên môn, đối với người mới nghiên cứu Tứ Hóa phái, đúng là rất lạ lẫm. Hiện tượng Nghịch thủy Kị là có thật, nhưng điều kiện thành lập hiện tượng Nghịch thủy Kị vẫn còn nhiều tranh cãi trong các chi lưu thuộc Tứ Hóa phái, vì những miêu tả của cổ nhân rất là "huyền chi hựu huyền". Theo Hứa Diệu Hồn, nhà Đẩu Số hiện đại khá nổi tiếng, cần phải bổ sung một số điều kiện như dưới đây mới có thể thành lập: Hóa Kị năm sinh phải tọa thủ "ngã cung"; Hóa Lộc năm sinh phải tọa thủ "ngã cung"; cung có Hóa Kị năm sinh không được có lẫn lộn Hóa Lộc, Hóa Quyền, hay Hóa Khoa năm sinh.

Lúc Hóa Lộc và Hóa Kị năm sinh chia ra nhập vào hai "ngã cung" mới cấu tạo thành cách cục thành tựu; còn Hóa Kị ở "tha cung" thì phải quay về "ngã cung", cho nên sẽ xung hướng đối cung (là "ngã cung") để "thu về", đó là tượng gây ra tổn hao cho "ngã cung". Cho nên điều kiện để Nghịch thủy Kị thành lập là Hóa Kị năm sinh phải ở "ngã cung", Hóa Lộc năm sinh cũng phải ở "ngã cung", nếu không sẽ là hung tượng cực kì nghiêm trọng. Rất nhiều nhà Đẩu Số Tứ Hóa phái cho rằng, Hóa Lộc và Hóa Kị đồng cung là tượng hung, vì sợ chúng biến thành "Song Kị". Thực ra, sao A Hóa Lộc đồng cung với sao B Hóa Kị là hai chuyện riêng biệt, trừ phi xuất hiện điều kiện khiến sao A Hóa Lộc chuyển sang Hóa Kị. Nếu không, sao A Hóa Lộc đồng cung với sao B Hóa Kị không phải là lí do để thành Song Kị, trong tình trạng này cũng không phải là "Kị phá Lộc".

Thủy Mệnh Kị (Thủy Tiết Kị)

Đây là phá cách của Nghịch Thủy Kị, tức có hình thái Nghịch Thủy Kị nhưng cung thiên di, cung phúc đức, hoặc cung phu thê, lại tự hóa; đây gọi là Thủy Tiết Kị. Nó có lực phá hoại rất mạnh, nhất là tự Hóa Lộc, tự Hóa Kị, sẽ dễ dẫn đến hậu quả khiến người ta thảm không chịu nổi, thất bại đến độ hầu như toàn bộ rơi vào trạng thái tan nát, như người ta thường nói "kiếm được bao nhiêu xài bấy nhiêu, kiếm nhiều hơn cũng sẽ tiêu xài hết".

Thủy Tiết Kị (Thủy Mệnh Kị), nếu đối cung tự Hóa Kị, là ý tượng: làm nhiều sai nhiều, bận rộn mà chẳng được gì, không giữ được tiền, kiếm được bao nhiêu xài hết bấy nhiêu.


Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tứ Hóa Phái

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Lộc Kị luận