Bài tổng quan
Các Thuật Ngữ Hóa Kị: Lưu Xuất, Xạ Xuất, Thuận Thủy, Tuần Hoàn, Tuyệt Mệnh
Hóa Kỵ trong Bắc phái có cả một hệ thuật ngữ riêng, mỗi tên gọi mô tả một cách dòng Kỵ chảy đi hay quay về. Lưu Xuất Kị là khi bản cung phi Kỵ nhập đối cung mà không có gì giữ lại. Xạ Xuất Kị là tiền hay tình cảm bay đi mà tự mình tiêu hết. Tương Khiếm Kị cho thấy vợ chồng như mắc nợ nhau, trong khi Thuận Thủy Kị giống dòng nước một đi không trở lại. Ngược lại, Tuần Hoàn Kị là quan hệ có qua có lại. Bên cạnh đó còn có Phản Cung Kị, Thị Phi Kị, Củ Triền Kị, Sách Mã Kị và Nhập Khố Kị, mỗi thuật ngữ đi kèm định nghĩa và ý nghĩa ứng dụng. Nặng nề nhất là Tuyệt Mệnh Kị, thuật ngữ được dùng khi xét đến chuyện sinh tử.
Lưu Xuất Kị
Thiên can của bản cung (cung A) khiến sao của đối cung (cung B) Hóa Kị, tức từ bản cung phi Hóa Kị nhập đối cung, gọi là "Lưu Xuất Kị", là cung A sẽ lưu xuất (chảy ra) Hóa Kị, không giữ lại, nhập vào sao ở cung B. Nếu đối cung (cung B) lại có Hóa Kị năm sinh tọa thủ, thì cấu tạo thành "Nghịch Thủy Kị", ý nghĩa của nó sẽ khác đi.
Nếu bản cung (cung A) phi Hóa Kị là cung mệnh, cung quan lộc, hay cung tài bạch, thì Hóa Kị này được gọi là "Thủy Mệnh Kị", là ý tượng: mệnh tạo không thích hợp làm nghề kinh doanh, chế tạo, sản xuất, nên làm những nghề có tính phục vụ, nghề mua bán giao dịch bằng tiền mặt hoặc làm việc hưởng lương.
Xạ Xuất Kị
Phàm bản cung phi Hóa Kị nhập đối cung, gọi là Xạ Xuất Kị, hay còn gọi là Tiết Xuất Kị. "Tiết xuất" là không giữ lại, nếu cung phát xạ là cung mệnh, cung tài bạch, hay cung quan lộc phi Hóa Kị đến cung thiên di, cung phúc đức, cung phu thê thì gọi là "Thủy Mệnh Kị", người có hình thái Hóa Kị này có thể làm ăn buôn bán bằng tiền mặt, nhưng không nên tích trữ hàng hóa, không mua bán thiếu, tức tiền phải lưu thông, thì có lợi. (Xem thêm mục "Lưu Xuất Kị")
Nghịch Thủy Kị mà gặp Hóa Lộc năm sinh phá, hoặc Thủy Mệnh Kị mà gặp Hóa Lộc đến phá, Nhập Khố Kị gặp tự hóa, thảy đều là Tiết Xuất Kị. Căn cứ cung chức mà luận cát hung. Thông thường đều chủ về hung, ngoại trừ trường hợp "Tương Khiếm Kị". Nếu cung mệnh Hóa Kị nhập cung thiên di, mà cung thiên di tự hóa Lộc; nếu cung phúc đức có sao Hóa Lộc, Hóa Kị năm sinh tọa thủ, mà cung tài bạch phi Hóa Kị nhập cung phúc đức, thảy đều là Tiết Xuất Kị. Kiếm được nhiều tiền cũng không còn, không phải bị trộm cướp, mà là tự tiêu xài hết.
Nếu cung phu thê phi Hóa Kị nhập cung quan lộc, mà cung quan lộc không thấy Hóa Lộc và Hóa Kị năm sinh, thì Hóa Kị này cũng là Tiết Xuất Kị, là ý tượng: người phối ngẫu không ở lại; đại vận đến cung phu thê, hôn nhân sẽ xảy ra biến cố. Nếu cung tài bạch phi Hóa Kị nhập cung phúc đức, mà cung phúc đức không có Hóa Kị năm sinh, mà lại tự hóa, đây là Tiết Xuất Kị; nếu là tự Hóa Lộc thì vì hưởng thụ mà tiêu xài hết tiền; tự hóa Quyền thì tiền đến rồi đi, gặp nhiều thị phi, rắc rối mà không còn; tự Hóa Kị thì bị lừa, hoặc bị tổn thất do đầu tư bất lợi.
Tương Khiếm Kị (Khiếm Trái Kị)
Tức trường hợp cung phu thê có sao Hóa Kị tọa thủ mà còn tự Hóa Kị, nếu cung phu thê rơi vào các cung Tứ Khố "Thìn, Tuất, Sửu, Mùi", là "Tương Khiếm Kị", hay còn gọi là "Khiếm Trái Kị", có nghĩa là "mắc nợ nhau", tuy vợ chồng không hòa hợp, nhưng nhất định sẽ phân li.
Thuận Thủy Kị (Lưu Thủy Kị)
"Thuận thủy" là nước chảy ra thuận theo tự nhiên. Nếu cung A phi Hóa Kị đến cung B, mà cung B không phải là đối cung của cung A, thì Hóa Kị này gọi là "Thuận Thủy Kị" hay "Lưu Thủy Kị". Cung A giống như một dòng nước chảy về cung B.
Nếu cung A là cung tài bạch, mà cung B là cung nô bộc, tức cung tài bạch phi Hóa Kị nhập cung nô bộc, là tiền tài chảy vào túi bạn bè, như sông lớn chảy ra biển Đông, một đi không trở lại. Ví dụ như cung tật ách phi Hóa Kị nhập cung nô bộc, bất luận cung nô bộc có Hóa Kị năm sinh hoặc tự hóa hay không, đều có ý tượng: không tiết chế về phương diện tiền bạc, sức khỏe cũng có vấn đề, lúc vui chơi không tiếc tiền với bạn bè.
Nếu cung thiên di phi Hóa Kị nhập cung tử nữ, là có đào hoa ở bên ngoài, vì cung tử nữ là cung vị tài bạch của cung phụ mẫu, đào hoa tụ tập tất phải liên quan đến tiền bạc, hơn nữa, mệnh tạo không từ chối đòi hỏi về tài vật của đối tượng.
Tuần Hoàn Kị (Kị Lai Kị)
Hai cung A, B là hai cung lục thân nào đó trong mệnh bàn, gọi là cung lục thân tức là: cung mệnh, cung huynh đệ, cung phu thê, cung tử nữ, cung nô bộc, cung phụ mẫu. Nếu cung A phi Hóa Kị nhập cung B, đồng thời cung B cũng phi Hóa Kị nhập cung A, giữa chúng với nhau là hình thái một đi một đến, Hóa Kị đến và Hóa Kị đi, tức là "Tuần Hoàn Kị", giữa hai cung có mối quan hệ đối đãi bình đẳng, có tình đến thì có nghĩa đi, ân oán phân minh, có đức báo đức, có thù báo thù. Giả dụ cung A là cung mệnh, còn cung B là cung nô bộc, nếu mệnh tạo đối xử tốt với bạn bè, đồng sự hoặc thuộc cấp, thì họ tất nhiên sẽ quan tâm mệnh tạo, trợ giúp mệnh tạo; nếu mệnh tạo đối xử khó khăn với họ, chẳng quan tâm gì đến họ, thì lúc mệnh tạo gặp khó khăn, nhất định họ cũng chẳng lí tới.
Nếu cung mệnh phi Hóa Kị nhập cung phu thê, đồng thời cung phu thê cũng phi Hóa Kị nhập cung mệnh, là mệnh tạo và người phối ngẫu quan tâm lẫn nhau, đối đãi có tình có nghĩa; mặt khác, nếu mệnh tạo đối xử với người phối ngẫu không tốt, thì người phối ngẫu cũng không sợ gì mà phải nhường nhịn.
Tuần Hoàn Kị là vấn đề đối đãi với nhau, là vấn đề tình nghĩa, là vấn đề công bình, xử lí không thỏa đáng sẽ tạo thành thị phi thù hận.
Xem về công việc làm thì lấy cung quan lộc làm chủ, cung vị phụ mẫu của cung quan lộc là thượng cấp, "thế" của ta là ở cung quan lộc, "dụng" là ở cung phụ mẫu. Nếu cung nô bộc phi Hóa Kị nhập cung tam hợp của bản mệnh thì xảy ra tình hình uy hiếp; nhập cung tài bạch hay cung quan lộc của đại vận là chủ về thượng cấp không nâng đỡ; nhập cung mệnh của đại vận là thượng cấp ỷ lại, đòi hỏi, nhưng không có ý đề bạt, mà sau lưng còn đè ép; xung cung tam hợp của bản mệnh thì thượng cấp không trọng dụng, cũng không đề bạt.
Cung vị huynh đệ của cung quan lộc là người đồng hành, cung vị tử nữ của cung quan lộc là thuộc cấp. Tuần Hoàn Kị ở cung vị lục thân, không có hàm ý "mắc nợ", mà thuộc về cảm giác so sánh của hai bên, lúc một bên xảy ra tình trạng mất thăng bằng thì phân li, thay đổi rất nhanh. Đại vận, lưu niên cũng vậy.
Phản Cung Kị
Lúc hành hạn đại vận đến cung tam hợp của bản mệnh, mà cung mệnh của đại vận phi Hóa Kị nhập cung phu thê, cung thiên di, hay cung phúc đức của nguyên cục, và xung cung quan lộc, cung mệnh, hay cung tài bạch của nguyên cục, Hóa Kị này được gọi là "Phản Cung Kị". Lúc nó bay trở lại, nếu không cẩn thận hoặc tiếp nhận không tốt, sẽ tổn thương bản thân. Lúc hành hạn gặp phải tình huống này, phải phòng thủ, giữ gìn cẩn thận; nếu không, ra sức càng lớn thì lực đàn hồi (phản chấn) càng mạnh. Thông thường một khi bị tổn hại, phải dưỡng sức ba năm trở lên mới có thể hồi phục nguyên khí.
Ví dụ đại vận đến cung tài bạch của nguyên cục (cung A), phi xuất Hóa Kị nhập cung phu thê của nguyên cục (cung B), Hóa Kị này xung cung quan lộc của nguyên cục (cung C), như vậy lúc lưu niên đến cung B sẽ xảy ra tình hình không thuận lợi, còn lúc lưu niên đến cung C, thì cần phải kĩ càng thận trọng.
Nói cách khác, lúc ba cung mệnh, tài bạch, quan lộc của đại vận trùng điệp với ba cung mệnh, tài bạch, quan lộc của nguyên cục, hình thành tình huống tam phương của đại vận trùng điệp với tam phương của nguyên cục, mà mệnh, tài, quan của đại vận phi Hóa Kị nhập mệnh, tài, quan của nguyên cục, bất kể có cùng loại tương xung hay không, chỉ cần xung một cung trong tam phương thì gọi là Phản Cung Kị. Sức mạnh của Phản Cung Kị vô cùng to lớn, tương đương với sức mạnh của Song Kị, không được xem thường.
Lúc đại vận nhập cung tam hợp của nguyên cục, cung đại vận phi Hóa Kị nhập đối cung của cung tam hợp của nguyên cục và xung bản cung, lực sát thương của nó đối với thiên bàn rất lớn, ắt có tổn thất trọng đại.
Nếu cung mệnh của đại vận trùng điệp với cung quan lộc của nguyên cục, phi Hóa Kị và xung cung tài bạch của nguyên cục, là ý tượng: trong 10 năm của đại vận này sự nghiệp kinh tế sẽ gặp sóng gió trắc trở nghiêm trọng; nhưng nếu cung tài bạch có sao Hóa Kị năm sinh tọa thủ, thì có thể ngăn trở Hóa Kị tiết xuất, là ý tượng: vất vả, nhiều sóng gió nhưng có thành tựu.
Thị Phi Kị (Lộc Lai Kị)
"Thị" (đúng) là Lộc (đức), "phi" (sai) là Kị (oán), đây là chỉ mối quan hệ giữa Hóa Lộc và Hóa Kị của hai cung. Giả thiết hai cung A và B không phải là đối cung của nhau, mà cung A phi Hóa Lộc nhập cung B, đồng thời cung B cũng phi Hóa Kị nhập cung A, hình thái này gọi là "Thị Phi Kị". Nếu hai cung A, B là đối cung của nhau, thì đây là loại "Lộc Kị xung", không phải là "Thị Phi Kị".
Giữa người với người mới có thị phi, cho nên "Thị Phi Kị" là hiện tượng biểu hiện ở cung lục thân, có tình trạng "lấy đức báo oán" hay "lấy oán báo đức", tức sẽ có một bên tình nguyện đối xử tốt với bên kia, nhưng không được bên kia báo đáp, còn chuốc thị phi, oán trách. Ví dụ cung mệnh phi Hóa Lộc nhập cung phu thê, cung phu thê phi Hóa Kị quay lại nhập cung mệnh, biểu thị mệnh tạo rất yêu thương người phối ngẫu, nhưng người phối ngẫu lại cho rằng mệnh tạo quá lo lắng, quan tâm quá độ, tạo ra áp lực nặng nề, khiến họ cảm thấy mất tự do. Nếu cung mệnh phi Hóa Lộc nhập cung nô bộc, và cung nô bộc phi Hóa Kị nhập cung mệnh, chủ về tiền của mệnh tạo bị mượn hoặc bị giật, là người "mắc nợ" ta.
Củ Triền Kị (Hỗ Xung Kị)
Tức hai cung khác nhau phi Hóa Kị nhập hai cung khác thành trạng thái đối cung xung nhau. Ví dụ: cung mệnh phi Hóa Kị nhập cung phúc đức, còn cung nô bộc phi Hóa Kị nhập cung tài bạch, hai Hóa Kị ở tuyến tài phúc thành trạng thái đối cung xung nhau, gọi là "Củ Triền Kị", là ý tượng: giữa bạn bè và mệnh tạo xảy ra tình trạng rối rắm, không rõ ràng về tiền bạc, dễ có tranh chấp phiền phức, vì vậy lúc qua lại tiền bạc với bạn bè cần phải cẩn thận.
Nhưng nếu Hóa Kị của cung mệnh và của cung phu thê thành trạng thái đối cung xung nhau thì còn gọi là "Oán Thán Kị", chủ về vợ chồng lời qua tiếng lại, trách móc nhau, cãi vã nhau. Nếu Hóa Kị này xuất hiện ở tuyến phu quan, thì vợ chồng cãi nhau đến già, nhưng không nhất định sẽ li hôn; muốn biết họ cãi nhau đến già chuyện gì thì phải xem cung nào phi Hóa Kị để giải đoán.
Sách Mã Kị (Tứ Mã Kị)
"Sách" có nghĩa là "bóc ra, tách ra". Vị trí Hóa Kị này xảy ra là ở đất Tứ Mã, tức rơi vào 4 cung Dần, Thân, Tị, Hợi, nên còn gọi là "Tứ Mã Kị". Hình thái của nó là Hóa Kị năm sinh rơi vào các cung Tứ mã, hoặc thiên can của 4 cung này có tự hóa, đều gọi là "Sách Mã Kị", chủ về bôn ba, vất vả.
Nếu cung này là cung lục thân, là ý tượng: gần nhau thì ít mà xa nhau thì nhiều, hơn nữa, tốt nhất là nên gần nhau ít mà xa nhau nhiều, nếu không, gần nhau lâu rất dễ xảy ra xung đột. Nếu Sách Mã Kị xảy ra ở cung mệnh, là ý tượng: cần phải rời xa quê hương, bôn ba vất vả ở bên ngoài, hơn nữa đối với người nhà phần nào có cách trở; ở cung phu thê, thì vợ chồng ít ở gần nhau; ở cung điền trạch thì phiêu bạc, xa quê hương.
Nhập Khố Kị
Các cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi gọi là "Tứ Mộ Khố", nếu có Hóa Kị năm sinh tọa thủ, nhưng lại không có tự hóa, gọi là "Nhập Khố Kị". Tổ hợp Nhập Khố Kị không được lại tự hóa, tự hóa thì không có tiết chế được (không "vào kho" thật sự).
Nhập Khố Kị có ý tượng: giữ tiền, tiền vào; nhiều vất vả, vì vậy, có tiền hay không cũng đều phải nỗ lực kiếm tiền, có xảy ra chuyện hay không cũng đều phải quan tâm, cho nên còn gọi là hàm ý là "mắc nợ". Như lúc ở cung lục thân, tức lục thân này nỗ lực kiếm tiền, còn mệnh tạo nhờ vậy mà được lợi; nếu ở cung phu thê, sau khi kết hôn người phối ngẫu sẽ mang tiền đến, hoặc sau khi kết hôn người phối ngẫu nỗ lực kiếm tiền cho mệnh tạo tiêu xài. Nếu không phải ở cung lục thân, thì mệnh tạo tất phải nỗ lực kiếm tiền; nếu ở cung điền trạch, là ý tượng: gánh nặng sinh kế gia đình, mệnh tạo phải kiếm tiền để nuôi gia đình, hoặc vì mua nhà cửa đất đai mà phải nỗ lực làm việc, đây là mệnh tạo "mắc nợ" gia đình; nếu ở cung tài bạch thì vì tiền bạc mà bôn ba bận rộn, và giữ tiền rất chắc; nhưng nếu có tự hóa thì không giữ được tiền, tiền sẽ chảy ra mất, lúc này thành "Tiết Khố Kị".
Nhập Khố Kị ở cung phu thê thì sau khi kết hôn mang tiền ra ngoài làm ăn.
Nhập Khố Kị ở cung tử nữ ắt con cái có thành tựu, phụng dưỡng mệnh tạo lúc văn niên.
Nhập Khố Kị ở cung điền trạch, chủ về mệnh tạo vì gia đình và con cái mà tăng thêm gánh nặng.
Nhập Khố Kị ở cung thiên di, chủ về mệnh tạo phải ra ngoài bôn ba vất vả.
Nếu Nhập Khố Kị là Nghịch Thủy Kị, tức xung phá "kho", chủ về hoạnh phát (nếu Hóa Kị nhập đối cung thì vô hiệu).
Cung điền trạch ở Tứ Mộ, gặp Hóa Kị năm sinh tọa thủ, chủ về cát lợi (không được lại tự hóa).
Cung mệnh phi Hóa Lộc nhập cung thiên di, mà cung thiên di gặp Hóa Lộc năm sinh, là ý tượng: kiếm tiền dễ dàng, mà tiêu xài tiền cũng nhẹ nhàng.
Đất Tứ Khố không được tự hóa, lúc đại vận đến cung tam hợp, thì kiếm tiền dễ dàng, vui vẻ tiêu xài, không dành dụm.
Các cung Tí, Ngọ, Mão, Dậu có sao Hóa Kị năm sinh, là ý tượng: mệnh tạo là người khoa trương, có chút thành tựu thì cả thiên hạ đều biết. Nếu ở tuyến tài phúc thì xài tiền như nước, dễ vì vật chất mà bán mình.
Nếu Hóa Quyền năm sinh ở cung mệnh, can cung thiên di phi Hóa Kị nhập cung mệnh, có thể xem trường hợp này là Nghịch Thủy Kị (sức mạnh chỉ còn phân nửa).
Tuyệt Mệnh Kị
Cung mệnh hoặc cung điền trạch có sao Hóa Kị năm sinh, mà ba cung mệnh, điền trạch, quan lộc của đại vận phi Hóa Kị nhập cung mệnh hoặc cung điền trạch, thì gọi là Tuyệt Mệnh Kị. Có tượng này ắt gặp hung hiểm, cần phải xem cung đại vận phát xạ là cung nào của nguyên cục thì biết chuyện gì gặp hung hiểm.
"Tuyệt Mệnh Kị" thường dùng để đoán sinh tử, cung mệnh phải có sao Hóa Kị năm sinh. Lúc cung mệnh có sao Hóa Kị năm sinh, rất sợ Hóa Kị từ cung khác phi nhập cung mệnh. Dưới đây là các trường hợp Tuyệt Mệnh Kị.
Lúc cung mệnh có sao Hóa Kị năm sinh tọa thủ, cung quan lộc của đại vận hoặc cung điền trạch của đại vận lại phi Hóa Kị nhập cung mệnh, gọi là "Tuyệt Mệnh Kị".
Cung mệnh không có Hóa Kị năm sinh tọa thủ, cung thiên di của đại vận phi Hóa Kị và xung cung mệnh của nguyên cục; hoặc xung cung quan lộc của nguyên cục; hoặc cung điền trạch của đại vận phi Hóa Kị và xung cung mệnh của nguyên cục, cũng gọi là "Tuyệt Mệnh Kị".
Tuyệt Mệnh Kị là kiếp số, cung mệnh của đại vận hoặc cung mệnh của lưu niên phi Hóa Kị không được xung cung mệnh của nguyên cục hoặc cung quan lộc của nguyên cục; cung điền trạch cũng không được phi Hóa Kị xung cung mệnh của nguyên cục hoặc xung cung quan lộc của nguyên cục.
Cung mệnh có sao Hóa Kị năm sinh tọa thủ, cung điền trạch hoặc cung quan lộc phi Hóa Kị, tuyệt đối không được quay lại nhập cung mệnh, nhập cung mệnh thì mạng sống nguy hiểm.
Lúc cung mệnh có sao Hóa Kị năm sinh tọa thủ, rất sợ phi Hóa Kị nhập, nếu cung phu thê phi Hóa Kị nhập cung mệnh, thì chủ về vợ chồng cãi vã hoặc xa nhau, mà cơ thể của mệnh tạo dễ bị sự cố, gặp tình trạng xấu xa hiểm.
Cung thiên di phi Hóa Kị và xung cung mệnh của nguyên cục; hoặc xung cung quan lộc, đồng thời cung điền trạch cũng phi Hóa Kị và xung cung mệnh của nguyên cục, tình huống này mạng sống rất nguy hiểm.
Cung thiên di phi Hóa Kị và xung cung quan lộc của nguyên cục cũng giống như xung cung mệnh của nguyên cục, nếu xảy ra sự cố bất ngờ thì rất nghiêm trọng (lưu niên, đại vận cũng luận như vậy).
Cung điền trạch phi Hóa Kị và xung cung mệnh, tuy cung mệnh không có sao Hóa Kị tọa thủ, nhưng sinh mạng cũng gặp nguy hiểm.
Cung thiên di của lưu niên không được phi Hóa Kị xung cung mệnh của nguyên cục, xung tất nguy hiểm. Lúc cung quan lộc có sao Hóa Kị năm sinh tọa thủ, cung thiên di hoặc cung điền trạch phi Hóa Kị không được tái nhập cung quan lộc, nhập ắt hung.
Đoán lưu niên, đại vận có thể trực tiếp lấy cung hạn phi Hóa Kị nhập cung mệnh của nguyên cục để đoán. Nếu cung hạn là cung tài bạch của đại vận (hoặc lưu niên), thì chỉ tổn tài mà thôi. Trái lại, nếu là cung mệnh của nguyên cục xung cung tử nữ hoặc cung điền trạch của đại vận (hoặc lưu niên), thì tai ách ắt nghiêm trọng. Nhưng cung thiên di của lưu niên phi Hóa Kị và xung cung mệnh của nguyên cục, hoặc xung cung quan lộc của nguyên cục đều ứng tai ách, vì cung mệnh và cung quan lộc là "nhất cửu đồng cung", đây là "Tuyệt Mệnh Kị".
Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tứ Hóa Phái
