Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Nhập môn

Bài tổng quan

Thuộc tính ngũ hành của các sao trong Tử Vi Đẩu Số

Tử Vi Bắc Phái - Nhập môn20/09/202659 phút đọc1 lượt đọc
Thuộc tính ngũ hành của các sao trong Tử Vi Đẩu Số

Không phải ai có Tử Vi thủ mệnh ở cung Ngọ cũng làm ông chủ, cũng không phải hễ cung tam hợp có sát tinh là phải sống bằng tay nghề. Chỗ hụt của lối chỉ xem miếu vượng lợi hãm nằm ở một lớp nghĩa cũ hơn: Tử Vi là thổ ẩm ướt, Thái Dương là lửa trên trời, Thái Âm là vầng trăng tròn khuyết. Đọc ra được năm chất ấy rồi thì một lá số bày trước mặt sẽ tự nói…

Mục lục · 35 phần
  1. 01Thuộc tính ngũ hành của các sao
  2. 02Luận về các sao thuộc tính thổ
  3. 03Tính thổ: nền tảng vững chắc chở được vạn vật
  4. 04Tử Vi là Kỉ thổ — thổ nhưỡng hơi ẩm ướt
  5. 05Thiên Phủ, Thiên Lương, Tả Phụ đều là Mậu thổ
  6. 06Cung vị và phương vị cũng làm đổi tính của sao thuộc thổ
  7. 07Thiên Lương là Mậu thổ — viên gạch đã nung thành
  8. 08Hai loại hóa khí của Thiên Lương: thiện và hình
  9. 09Tả Phụ là Mậu thổ — đống cát ngưng tụ sức mạnh
  10. 10Luận về các sao thuộc tính hỏa
  11. 11Hỏa là con dao hai lưỡi
  12. 12Thái Dương là hỏa trên trời
  13. 13Liêm Trinh là hỏa ở nhân gian
  14. 14Hỏa thiếu mộc, thiếu thủy đều sinh chuyện
  15. 15Hỏa Tinh, Linh Tinh, Thiên Hình — hỏa thứ cấp
  16. 16Linh Tinh — đốm lửa nhỏ khó dập tắt
  17. 17Vì sao Hỏa Tinh, Linh Tinh không nên nhập cung phu thê
  18. 18Thiên Hình — hỏa gom tụ, không có chất lượng
  19. 19Hỏa của chính tinh và hỏa của phụ tinh khác nhau ra sao
  20. 20Luận về các sao thuộc tính mộc
  21. 21Tham Lang là Giáp mộc — cây cối đứng sừng sững
  22. 22Thiên Cơ là Ất mộc — dây leo mềm mà dẻo dai
  23. 23Luận về các sao thuộc tính kim
  24. 24Vũ Khúc là Tân kim — khối kim loại lớn chưa rèn
  25. 25Thất Sát là ngọn thương bén nhọn
  26. 26Kình Dương và Đà La — lưỡi dao và cái cưa
  27. 27Văn Xương là viên ngọc đẹp trong nhóm kim
  28. 28Luận về các sao thuộc tính thủy
  29. 29Thái Âm là vầng trăng tròn khuyết
  30. 30Phá Quân là dòng thác chảy xiết
  31. 31Thiên Tướng là thủy ấm áp
  32. 32Thủy nhiều hay ít quyết định đời sống tình cảm
  33. 33Thiên Đồng là dương thủy chủ cung phúc đức
  34. 34Cự Môn là Quý thủy — mặt hồ không nhìn thấy đáy
  35. 35Hữu Bật, Văn Khúc và Thiên Diêu — ba sao làm tăng đào hoa

Thuộc tính ngũ hành của các sao

Lấy ngũ hành làm phương thức phân tích sức mạnh lớn nhỏ của các sao thì tuy không lãng mạn duy mĩ như Thấu Thiên phái — vốn thần hóa các sao bằng các nhân vật trong truyện Phong Thần diễn nghĩa — nhưng lại có cái lợi rất thực. Hễ hiểu rõ tính chất của kim, mộc, thủy, hỏa, thổ trong cuộc sống thường nhật thì tùy lúc đều nắm được ý tượng của chúng; rồi dần dần theo cái lí ấy mà phân biệt tính chất các sao, hiểu rõ biến hóa của chúng ở mười hai cung vị khác nhau, biết được chúng biến hóa thế nào lúc gặp tứ hóa. Đến khi gặp các loại phụ tinh, hung tinh thì sẽ không bị rối loạn. Quan trọng hơn nữa, trong quá trình luận đoán mệnh vận, người xem nhìn qua liền thấy được hướng "hóa khí" của sao để đưa ra lời giải đoán khớp với thực tế.

Trong Tử Vi Đẩu Số, tính chất của các sao có liên quan với ngũ hành sinh khắc, vì vậy nếu thêm tứ hóa vào, sẽ theo đó mà có ý nghĩa: nâng lên, làm thay đổi, hoặc gây trở ngại… khiến tính ngũ hành vốn có của các sao sẽ có các cách giải thích khác nhau. Bởi vì ngay cả cùng là sao thuộc mộc hay thuộc hỏa, thì tính chất của các sao cũng đã có nhiều chỗ khác nhau, huống hồ có thêm các tác động của tứ hóa. Do đó, muốn luận giải tứ hóa một cách rõ ràng, e rằng còn phải xem xét tính chất ngũ hành của các sao.

Trong Tử Vi Đẩu Số Tứ Hóa phái, lúc luận đoán thời điểm ứng nghiệm sự việc, thông thường là tìm cung trùng điệp và đối ứng giữa tứ hóa của nguyên cục với tứ hóa của đại vận, và với tứ hóa của lưu niên; nhưng phần nhiều lại ít chú ý sự đối ứng của cung chức. Ví dụ như luận về thi cử hay chứng nhận, có lúc phải lấy cung hạn phụ mẫu trùng điệp với cung quan lộc để nghiệm chứng, có lúc phải lấy hiện tượng phi hóa của cung điền trạch để nghiệm chứng, có lúc phải phối hợp tính chất ngũ hành của chính tinh với hiện tượng tứ hóa của đại vận để nghiệm chứng.

Đặc tính cơ bản của các sao và thuộc tính ngũ hành của chúng cũng thuộc phạm vi tham khảo để giải đoán điểm ứng nghiệm. Ví dụ như lúc đại vận đến cung có Thái Dương, Thái Âm Hóa Kị thì sự việc có thể có liên quan đến cha mẹ; lúc gặp cung hạn lưu niên có Hỏa Tinh hay Linh Tinh, có thể là thời điểm xảy ra sự kiện đột ngột; lúc hành hạn lưu niên đến cung có Thiên Lương thổ, có thể bản thân phải gánh trách nhiệm giải quyết sự tình, hoặc liên quan đến sự việc bị rất nhiều chỉ trích ở bên ngoài. Những tình huống ứng nghiệm xảy ra có liên quan rất nhiều với thuộc tính ngũ hành của các sao; đương nhiên các loại ngũ hành còn đại biểu cho trạng thái tâm lí, cũng sẽ được biểu thị trong đại vận đó. Vì vậy nắm vững thuộc tính ngũ hành của các sao sẽ trợ giúp rất nhiều cho việc luận giải mệnh bàn.

Luận về các sao thuộc tính thổ

Nhiều người nghĩ rằng Tử Vi Đẩu Số không vận dụng nguyên lí tương quan của ngũ hành kim, mộc, thủy, hỏa, thổ, mà chỉ luận tình trạng miếu, vượng, lợi, hãm của các sao để định mạnh yếu; có phải chỉ xem trọng các sao phi hóa, hoặc chỉ chú trọng các cung tam hợp, xem có hung sát tinh hay không, đối cung có sát tinh xung chiếu hay không.

Đến lúc luận mệnh thực tế mới phát hiện: người Tử Vi tọa thủ cung mệnh không phải ai cũng thật sự nắm quyền khuynh đảo thiên hạ. Rốt cuộc thì ảnh hưởng của miếu, vượng, lợi, hãm là ở phương diện nào, ở tầng bậc nào? Có phải bất cứ người nào có Tử Vi thủ mệnh ở cung Ngọ cũng đều là ông chủ? Trường hợp cung tam hợp của cung mệnh có sát tinh, phần nhiều không phải là có tay nghề giỏi, trong số họ cũng không ít người làm bác sĩ, luật sư, hoặc có gia tài to tát. Nếu chỉ dựa vào miếu, vượng, lợi, hãm thì dường như chưa đủ điều kiện để luận đoán chính xác.

Còn luận đến tình trạng phi tinh giao nhau, trước tiên phải kể là tứ hóa năm sinh, tứ hóa đại vận, tứ hóa lưu niên, tổng cộng có mười hai mục tứ hóa; nếu lại thêm vào các tình trạng phi hóa thì đúng là càng "phi hóa" thì càng rối loạn, dẫn đến tình trạng không rõ lúc nào là vui mừng, lúc nào là lo lắng; thậm chí lúc giải ý tượng của phi tinh cũng không biết đó là sự kiện, tình cảm — tinh thần, hay là tiền bạc — vật chất. Do không nắm vững các nguyên tắc luận đoán cơ bản, làm cho cả mệnh bàn phi tinh mịt mù.

Đồng thời, nếu chỉ luận đến phi Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, Hóa Kị, mà không xem xét đường đi thuận hay nghịch của phi hóa, cung vị mà chúng đi qua, cho đến ý tượng của các sao ở quá trình trung gian, và ý tượng của các sao ở điểm cuối cùng; như vậy cũng rất khó luận đoán một cách chính xác tình trạng hiện tại của mệnh tạo, sự kiện đã trải qua, tình trạng cát hung họa phúc cuối cùng. Mà thường thường chỉ có thể nói chung chung là vận khí rất tốt hay rất xấu, hoặc một kết quả trong đó mà thôi.

Lấy trường hợp cung mệnh phi Hóa Lộc nhập cung huynh đệ để làm ví dụ. Xét ở góc độ tình cảm, là mệnh tạo quan tâm, chăm lo cho anh em, và còn nhiều ý tượng khác về tình cảm trai gái. Ngoài ra, vì cung huynh đệ là "kho tiền", Hóa Lộc biến hóa trong đó, thường thường cũng không thoát khỏi quan hệ tiền bạc, phần nhiều là chủ về chi xuất tiền bạc vì tình cảm. Vì Hóa Lộc là kì vọng, trông mong; cho nên thường thường việc trả giá cho chuyện này là vì có kì vọng gì đó ở anh em hay ở đối tượng hôn nhân; đó có thể là vì mong muốn anh em hòa hợp vui vẻ, hoặc vì mong muốn tình yêu tăng thêm độ nồng ấm. Nhưng vì Hóa Lộc nhập cung huynh đệ, nên Hóa Lộc và Hóa Kị nhất định sẽ ở vị trí không thích đáng, là ý tượng: kì vọng và sự cho ra của mệnh tạo rất khó được báo đáp tương xứng.

Nếu lấy cung huynh đệ làm cung vị biểu hiện của môi trường làm việc để luận giải, thì đây là ý tượng: mệnh tạo mong muốn có được một môi trường làm việc hòa hợp vui vẻ, người vào ra nhộn nhịp, tấp nập; rất có thể mệnh tạo sẽ vì lí tưởng và mong muốn của mình mà hạ thấp yêu cầu về tiền công hay tiền lương; hoặc cũng có thể vì lí tưởng này mà mệnh tạo tiến hành việc sáng lập cơ nghiệp của mình. Chỉ xét riêng hiện tượng cung mệnh phi Hóa Lộc nhập cung huynh đệ mà đã có nhiều hướng diễn biến như vậy; nếu cộng thêm thuộc tính của các sao, vị trí của tứ hóa năm sinh, và điểm bay vào của phi Hóa Kị, thì các ý tượng có thể xảy ra trong hiện thực còn phức tạp hơn nữa.

Trên thực tế, Tử Vi Đẩu Số ngoài việc xem xét các cung tam hợp, tổ hợp sao, cho đến tứ hóa và phi hóa, còn có một kiến thức cơ bản khác cần phải nắm vững, chính là nguyên lí ngũ hành sinh khắc của các sao. Đẩu Số là hệ thống luận mệnh thừa kế truyền thống Tinh mệnh học đời Tống mà phát triển thành, đương nhiên các sao phải có thuộc tính ngũ hành. Tính chất của các sao cũng là suy luận từ thuộc tính ngũ hành; tiến thêm một bước sâu hơn, đó là vận dụng thuộc tính ngũ hành của cung vị và các sao để luận đoán tình trạng cát hung họa phúc cơ bản, cuối cùng thêm vào hiện tượng phi hóa để luận đoán tinh tế hơn.

Tính thổ: nền tảng vững chắc chở được vạn vật

Lấy các sao thuộc thổ để thuyết minh. Tính thổ là vững chắc, có thể chở vạn vật, làm nền tảng để vạn vật sinh trưởng. Vì nó đại biểu cho "đất đai" — địa — cho nên chủ về phạm vi rộng lớn; do chất lượng lớn, tính ổn định cao, cho nên chịu đựng được lực phá hoại và có thể hóa giải tai ách; vì có tính thường hằng, nên tâm tính vững vàng và thực tế.

Trong đó có nhiều hình tượng thổ khác nhau, như thổ ở núi cao, thổ ở thành trì, thổ ở mái ngói, v.v… Lúc nó thành hình tượng, sẽ có nguyên tắc của nó. Tính chất của thổ cũng giống như xi măng, có thể trám các khe hở, làm tăng cường tính ổn định; hơn nữa, ngũ hành thổ ở các điểm chuyển tiếp kim mộc thủy hỏa, về thực chất có thể nhận chịu các áp lực khác nhau. Do đó ngũ hành thổ bất kể trong Bát Tự Tử Bình hay Tử Vi Đẩu Số đều là nhân tố làm hoãn xung lực rất quan trọng. Tuy không bằng Hóa Khoa có thể làm thay đổi tác dụng của Hóa Kị, nhưng cũng là đại biểu cho lực lượng chống lại tác động của Hóa Kị, hoặc có thể tụ họp sức mạnh trong cung để kiềm chế Hóa Kị. Vì vậy lúc quan sát toàn bộ mệnh bàn, sự phân bố các sao thuộc thổ sẽ có sức ảnh hưởng nhất định.

Tử Vi là Kỉ thổ — thổ nhưỡng hơi ẩm ướt

Tử Vi là Kỉ thổ. Kỉ thổ là thổ nhưỡng hơi ẩm ướt, có thể sinh sản nuôi lớn vạn vật, có ý tượng bắt đầu sinh trưởng, do đó ngầm chứa động lực hướng lên. Vì vậy trường hợp Tử Vi nhập cung quan lộc có thể khiến cho người này có động lực hướng lên.

Vì tính thổ là "thường hằng", nên Tử Vi cũng có sức chịu đựng và tính liên tục; nhưng tính chất của thổ ẩm ướt là hình thể dễ uốn nắn, dễ làm biến đổi, dễ bị sự vật bên ngoài làm thay đổi hình thái; do đó bị đánh giá là thiếu chủ kiến, dễ tin lời người khác. Nhưng sức mạnh của Tử Vi là lớn nhất, phạm vi bao trùm là rộng nhất, do đó tham vọng và dục vọng muốn kiểm soát người khác của nó cũng là mạnh nhất; nó muốn bốn phương đều thần phục, cho nên lúc ở cung vị thích đáng, nó sẽ có khí độ làm thiên hạ phải khuất phục.

Như Tử Vi ở cung Ngọ, thổ ẩm ướt có sức mạnh lớn như vậy được Ngọ hỏa hong khô, làm cho tính thổ ổn định hơn, còn làm quân bình độ ẩm và độ ấm; Tử Vi sẽ có cách suy nghĩ và cách nhìn vấn đề trung dung hơn, dễ sửa đổi, tính chất thiếu chủ kiến sẽ giảm đi, hành vi cử chỉ cũng vững vàng hơn, tính kiên trì với lí tưởng cũng bền bỉ hơn.

Nếu Tử Vi rơi vào cung Tí thủy, tuy có tính uyển chuyển, co dãn nhiều hơn, nhưng Tử Vi thổ lại khó định hình, trạng thái tâm lí sẽ không ổn định, có tính chất kết bè kết nhóm nhưng lại thiếu mục tiêu, có tham vọng lớn nhưng phần nhiều khó thành hiện thực; thủy và thổ hòa lẫn với nhau cũng giống như đất trộn với nước thành bùn, làm mất đi lập trường của bản thân; lại vì thổ có tính thường hằng, nên lúc hơi vượt ra khỏi mô thức này, nó sẽ liền lặp lại tình trạng ứng nghiệm của thuộc tính thổ như cũ.

Thiên Phủ, Thiên Lương, Tả Phụ đều là Mậu thổ

So với Tử Vi, các sao thuộc thổ khác còn có Thiên Phủ — là sao lớn đứng thứ hai sau Tử Vi, Thiên Lương — là sao chủ về mệnh thanh cao, và Tả Phụ — là sao điều hợp, hóa giải tai ách. Ba sao này đều thuộc Mậu thổ, có tính chất cứng cáp, chắc chắn, ổn định, khác với Tử Vi; vì đây là thổ khá khô ráo, có tính ổn định cao, ít có tính biến hóa, vì vậy hơi thiếu tính chủ động.

Lấy Thiên Phủ làm ví dụ, sức mạnh của Mậu thổ cũng khá lớn, đồng thời còn có hàm ý là thổ của núi cao, thổ của tường thành; do đó Thiên Phủ Mậu thổ rất xem trọng sĩ diện, muốn biểu hiện sự cứng cáp, chắc chắn của tường lũy, chống lại các tác động từ bên ngoài. Vì Thiên Phủ có tính chất "tường lũy", cho nên nó hết lòng bảo vệ những người có thân phận nhỏ bé dựa vào nó; khiến mệnh tạo phân biệt trong ngoài rất rõ ràng, giữa người nhà và người ngoài có ranh giới rất phân minh.

Do đó cũng khiến Thiên Phủ bao dung được các sát tinh như Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, biến chúng thành một bộ phận của bản thân — có thể hình dung một lực lượng trợ giúp thủ thành bao gồm các sao như Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh.

Cũng vì Thiên Phủ có sức mạnh rất lớn, nên nó cũng có tham vọng và dục vọng muốn nắm quyền; nhưng so với Tử Vi, Thiên Phủ biểu hiện không rõ rệt bằng, có thái độ văn nhã dịu dàng hơn, làm cho người ta có ấn tượng có thể dựa dẫm vào sự vững vàng của họ. Do Thiên Phủ là Mậu thổ đã thành hình, tất nhiên sẽ có khá nhiều nguyên tắc, tuy không giỏi quyền biến như Tử Vi. Đương nhiên, lúc Thiên Phủ ở các cung vị khác nhau, đồng cung với các sao có ngũ hành khác nhau, tính thổ của nó sẽ theo đó mà điều chỉnh, làm Thiên Phủ tùy theo trường hợp mà có các tính chất khác nhau.

Cung vị và phương vị cũng làm đổi tính của sao thuộc thổ

Như đã đề cập, trong Tử Vi Đẩu Số, giữa các sao và ngũ hành có mối quan hệ trong ngoài — biểu lí; các sao có thuộc tính ngũ hành khác nhau tất nhiên cũng sẽ bị ngũ hành của cung vị mà nó bay vào gây ảnh hưởng, khiến cho tính chất của sao sẽ biến đổi. Do đó, mỗi một sao ở các cung vị khác nhau sẽ có tình trạng miếu, vượng, lợi, hãm khác nhau.

Nhưng ngoài thuộc tính ngũ hành của cung vị, các sao còn bị nhân tố phương vị gây ảnh hưởng; vì vậy mà Thái Dương ở cung Dần — phương đông — là vượng, Thái Âm ở cung Thân là miếu. Các sao dựa vào thuộc tính ngũ hành cơ bản phối hợp với phương vị mà sinh ra các tính chất khác nhau.

Lấy các sao thuộc thổ làm ví dụ, bốn sao Tử Vi, Thiên Phủ, Thiên Lương và Tả Phụ đều thuộc tính thổ. Căn cứ nguyên lí ngũ hành sinh khắc, thổ có thể khắc thủy; từ đó phát hiện ra rằng các sao thuộc thổ có năng lực làm hòa hoãn tác động của Hóa Kị. Do đó thường thấy hai sao Tử Vi, Thiên Phủ có năng lực hóa giải tai ách.

Thiên Lương là Mậu thổ — viên gạch đã nung thành

Thiên Lương là Mậu thổ, là loại thổ khá khô ráo. Thiên Lương ở các cung vị khác nhau sẽ có các hình thái thổ khác nhau. Trước tiên xét về sức mạnh: so với Tử Vi và Thiên Phủ thì Thiên Lương không mạnh bằng. Vì có sức mạnh không lớn, nên phạm vi quản hạt của nó là hữu hạn, do đó người Thiên Lương thủ mệnh thường hay xen vào những chuyện không thuộc phạm vi của họ.

Ngoài ra, tính chất thổ của Thiên Lương tiếp cận với nhiệt độ cao luyện thành khối, nên nặng tính nguyên tắc, cũng rất nặng tâm lí phòng vệ, thường thường còn hay cố chấp; một khi bản thân Thiên Lương đã có nhận định rồi thì người khác khó thuyết phục thay đổi. Vì vậy thường thấy người Thiên Lương thủ mệnh làm những nghề nghiệp cần phải có sức chịu đựng tốt, hoặc những công việc phải có lòng trung thành tuyệt đối; vì họ đủ nhẫn nại để tiếp nhận sự bồi dưỡng lâu dài và khổ học những hạng mục chuyên nghiệp cần thiết.

Vì Thiên Lương tương tự như viên gạch được nung thành, nên một khi gặp hung tinh bức hại, có thể tưởng tượng giống như viên gạch bị nứt vỡ, hư hoại, thậm chí là vỡ vụn thành bụi đất; bụi đất vụn dạng này thì khó làm cho thực vật sinh trưởng được. Cho nên sẽ làm cho Thiên Lương bị "liệt hóa" — trở nên kém đi; thường thường sẽ phá bỏ tính nguyên tắc của bản thân, cũng sẽ thiếu tính kiên nhẫn chịu đựng vốn có, mà ẩn chứa lối suy nghĩ "muốn thành công trong một sớm một chiều".

Cho nên thường thấy trong nhiều trường hợp, người Thiên Lương tọa thủ cung mệnh có cá tính mạnh mẽ của một người chơi cờ bạc; thực ra nguyên nhân là do Thiên Lương gặp Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp phá hoại. Thiên Lương bị phá hoại không phải là không làm gì, vì bản chất vẫn muốn ảnh hưởng hay quản lí người khác; thêm vào đó, sao thuộc thổ có tính cộng thông, sẽ đi giải tai ách giải nguy nan. Lúc Thiên Lương thiếu năng lực của bản thân, còn thiếu tính nguyên tắc, trong hoàn cảnh bạn bè lại có khuynh hướng phức tạp, với cá tính muốn nhúng tay vào, giúp người ta hóa giải tai ách, thường thường sẽ khiến Thiên Lương dễ bị thị phi, chuốc phiền phức. Do đó, về cá tính, Thiên Lương thường hay tự gây khó khăn cho bản thân.

Hai loại hóa khí của Thiên Lương: thiện và hình

Các sao đều có hóa khí của nó, tác dụng của hóa khí chủ yếu là ở hành hạn; nó đại biểu cho những gì mà các sao phát huy, là một loại lực tác động lộ ra bên ngoài. Tìm hiểu Thiên Lương ở mức độ thâm sâu hơn thì thấy Thiên Lương là sao khá đặc biệt: nó có hai loại hóa khí, một loại hóa khí làm "thiện" — tốt lành, một loại hóa khí làm "hình" — hình phạt. Với hai loại hóa khí này, phải quan sát kĩ tình hình nó phối hợp lực tác động của tứ hóa, và ảnh hưởng của các cung.

Lúc Thiên Lương Hóa Khoa, hóa khí làm "thiện" thì rõ ràng nó có tác dụng tích cực, không chỉ là người có danh vọng, mà còn có thể giáo hóa hay trợ giúp người khác. Vì Thiên Lương có tính chất, cá tính đã thuật ở trên, trong tình trạng nó không bị phá hoại, thường thường có địa vị khá cao trong ngành y dược, pháp luật, có ý tượng: giúp người trong thị phi hoạn nạn.

Còn lúc Thiên Lương bị Kình Dương, Cự Môn Hóa Kị gây ảnh hưởng, sẽ khiến nó hóa khí làm "hình", phần nhiều là vượt quá nguyên tắc của bản thân, có tạo tác không thích đáng mà dẫn đến tai ách. Xét từ góc độ cá tính ảnh hưởng mệnh vận, đây là vì cá tính mà gây ra rất nhiều thị phi phiền phức; hơn nữa, vì Thiên Lương vốn có tính nguyên tắc, tính cương trực, nên có tính đồng nhất rất cao so với tính không thể thay đổi các quy định của pháp luật, do đó Thiên Lương có liên quan đến tư pháp, pháp luật; vì vậy lúc Thiên Lương hóa khí làm "hình", phần nhiều cũng chủ về vấn đề pháp luật, quan ti.

Tả Phụ là Mậu thổ — đống cát ngưng tụ sức mạnh

Trong các sao thuộc thổ, Tả Phụ là phụ tinh mạnh nhất. Tả Phụ cũng thuộc Mậu thổ, "đất khô ráo", nhưng do không phải là chính tinh nên nó không có tính phách lối, thích ra oai và dục vọng chỉ huy quá mạnh như các chính tinh.

Loại thổ này giống như đống cát, có thể cho vào các loại bình chứa khác nhau, có thể nhẹ nhàng vốc lên một nắm, cũng có thể thoải mái đóng ở trong đó; do đó thông thường Tả Phụ có hiệu lực làm mạnh thêm phương thức trò chuyện trao đổi trong cách đối nhân xử thế, cũng có thể cường hóa hữu hiệu sức mạnh của chính tinh, nhất là các sao thuộc thổ như Tử Vi, Thiên Phủ, Thiên Lương đồng cung với nhau, sức mạnh của chúng hợp lại, hiệu quả sẽ tăng lên gấp ba lần.

Trong mười hai tinh bàn cơ sở, trường hợp duy nhất có hai sao thuộc thổ đồng cung là Tử Vi và Thiên Phủ ở cung Dần hoặc cung Thân, cho nên phải định vị hai cung này: lúc hai sao này cộng lại, sức mạnh của thổ quá nặng, phải được áp chế điều chỉnh — cung Dần thuộc mộc có thể điều chỉnh thổ; hoặc làm cho sức mạnh của thổ hoàn thiện ổn thỏa để có hành vi tạo tác thành tựu — cung Thân thuộc kim, có thể điều tiết sức mạnh của thổ. Do đó có thể thấy lúc Tả Phụ đồng cung với các sao thuộc thổ khác ở cung vị thuộc hỏa hay thổ, sẽ có ý nghĩa thế nào.

Thổ của Tả Phụ cũng giống như xi măng, có năng lực ngưng tụ, kết dính; nếu vận dụng được một cách hữu hiệu thì có thể tụ họp người nhà, bạn bè, thậm chí là tập trung được sức mạnh đặc biệt của nơi sâu thẳm nhất trong tâm hồn, và dựa vào đó để đạt được thành công; nhưng nó có một tính chất đặc thù là cần phải trải qua hơn một lần nỗ lực — hoặc thất bại — mới có thể đứng lên một lần nữa, là ý tượng: ngưng tụ sức mạnh trùng tân.

Luận về các sao thuộc tính hỏa

Đất chở vạn vật mà vẫn phải chờ một thứ khác nhóm lên; cái nhóm lên ấy chính là lửa.

Hỏa — lửa — là ánh sáng và nhiệt; văn minh của loài người được khởi đầu từ lửa. Hỏa đại biểu cho sức mạnh hướng lên, kiến lập tố chất văn minh và duy trì sự sống. Trong Tử Vi Đẩu Số, các sao thuộc hỏa chiếm vai trò rất quan trọng trong việc "thực hiện".

Trong số mười bốn chính tinh, các sao thuộc tính hỏa có Thái Dương và Liêm Trinh, điều thú vị là cả hai sao này đều chủ về quan lộc. Do đó có thể thấy, tổ sư Hi Di Trần Đoàn đã định tính chất của các sao thuộc tính hỏa là lực đạo nâng bản thân lên, tranh thủ địa vị xã hội, tư duy cuộc đời ở cấp cao; hơn nữa, thường thường là hướng tích cực, có lực tạo tác, còn có lực truyền cảm, có thể cổ động nhân tâm.

Hỏa là con dao hai lưỡi

Nhắc đến "hỏa", đó là một loại tác dụng có đặc tính giống như con dao hai lưỡi. Nó có thể làm cho khí trời ấm áp, mùa đông biến thành mùa xuân; nhưng cũng có thể nóng như ánh nắng mặt trời thiêu đốt, làm cho đất khô cằn, đến cỏ cũng không mọc nổi. Có thể vì nhiệt độ thay đổi mà gió nổi lên, cũng có thể từ một đốm lửa nhỏ mà đốt cháy cả cánh đồng. Do đó hỏa vừa có lực phát động và hướng lên, mà cũng đại biểu cho lực phá hoại và tái sinh.

Về đặc tính vật lí và hiện tượng tự nhiên, hỏa có tính chất thường hằng và chủ động như mặt trời, núi lửa; còn có đặc tính chỉ xảy ra trong chớp mắt và mượn thế mà nổi lên như tia lửa, đốm lửa. Vì vậy việc quy loại các sao thuộc hỏa, cũng giống như các sao thuộc thổ đã giới thiệu ở trước, bởi vì các sao có tính chất hỏa khác nhau sẽ có sự khác biệt cực lớn.

Đồng thời, tuy hỏa có tính chất thường hằng, nhưng vì bản thân "lửa" về hình thái đã có sự biến động thay đổi rất lớn, và có lực tác động vừa thái quá vừa bất cập. Ở cung khác nhau, sẽ tạo thành ảnh hưởng khác nhau cực lớn đối với tính cách và hành vi của mệnh tạo. Nhưng tóm lại, bất kể loại hỏa nào, nhất định đều có tính định hướng, dù là định hướng xấu; thường thường lúc hành hạn, lưu niên thấy các sao thuộc hỏa, đều chủ về có sự kiện mới, triển khai thực hiện điều mong muốn, hoặc sự kiện đang tiến hành thì đột ngột bị phá hoại.

Thái Dương là hỏa trên trời

Trong các sao thuộc hỏa, có sức mạnh lớn nhất, có lực tác động mạnh nhất là Thái Dương. Tính chất của Thái Dương là vận tác thường hằng, liên tục. Bởi vì từ khai thiên cho đến nay, Thái Dương vận tác không ngừng nghỉ giây phút nào, mọi người đều có thể thấy; do đó đại đa số các trường hợp Thái Dương thủ mệnh đều cho người ta ấn tượng họ là người có tính rất chủ động, còn có tính tranh thủ cơ hội để tiến lên, đương nhiên họ còn có nghị lực và sức bền cực tốt.

Thái Dương cung cấp ánh sáng mà không phân biệt đối tượng, do đó làm cho người ta có cảm giác họ là người tích cực, lạc quan, và có thái độ xử thế công bình, chính trực, từ đó tạo được niềm tin và uy tín nơi người khác. Hơn nữa, Thái Dương có độ sáng, sẽ chiếu sáng nơi u ám, dơ bẩn, ô uế, nên về tính cách, có tính chất quang minh chính đại; thông thường họ khó chấp nhận những sự tình không hợp lễ nghi, không hợp đạo nghĩa, nhất là trường hợp Thái Dương ở cung vượng, đặc điểm này càng rõ rệt.

Bởi vì tính cách của họ thường cung cấp cho những người xung quanh sự ấm áp và độ sáng, do đó mẫu người này có quan hệ giao tế rất tốt. Thái Dương là tự phát sáng, nên hành vi biểu hiện của họ phần nhiều có thể phát tán về tự tin một cách tự nhiên; họ còn biết cách phải biểu hiện như thế nào để chiếm sự tín nhiệm nơi người khác. Vì vậy, đương nhiên trong tình cảm, người theo đuổi họ cũng không ít.

Liêm Trinh là hỏa ở nhân gian

Thái Dương là hỏa trên trời, còn Liêm Trinh là hỏa ở nhân gian. Thái Dương là chính tinh thuộc hỏa dương cương — tức Bính hỏa; Liêm Trinh là chính tinh thuộc hỏa âm nhu — tức Đinh hỏa. Vì bản thân Liêm Trinh còn có tính mộc — Ất mộc — do đó hỏa của Liêm Trinh là nhiên liệu, có năng lượng đốt cháy một thời gian dài, đồng thời vì có mộc mà hỏa tiếp tục sinh ra.

Tuy không chói lọi như Thái Dương, nhưng nhờ vậy mà nó biểu hiện được sự thay đổi về tư tưởng, nhân tâm, và có lối suy nghĩ sáng tạo cái mới. Vì vậy, người có Liêm Trinh tọa thủ cung mệnh, về định nghĩa, tức đối với các hành vi tạo tác, cách suy nghĩ, thao tác chính trị, khí chất văn nghệ, khả năng thiên phú… của các loại người trên đời, bản thân họ đều dễ có sự hiểu biết hoàn chỉnh.

Vì là hỏa, có đặc tính bốc lên, vì vậy Liêm Trinh có thiên phú đặc biệt, có thể vươn lên trong bất cứ quần thể nào, cho đến năng lực xử lí các tình huống giao tế. Do đó cổ thư nói Liêm Trinh có tính chất của người trong chính giới, có thể tiếp cận quan trường, là vì lí này.

Mộc và hỏa tương sinh, do đó Liêm Trinh thích độc tọa trong cung, để định hình tính cách và năng lực thuần túy của nó. Thông thường, Liêm Trinh độc tọa có thiên phú về văn học, triết học, có lúc cũng thích tiếp xúc những sự vật liên quan đến nghệ thuật, mĩ học. Nhờ độc tọa, mới có tính chất của cách cục "Liêm Trinh thanh bạch", tức chuyên tâm nâng bản thân lên, hoặc sáng tạo ra điều có ích cho vận trình cuộc đời.

Nếu thêm vào các phụ tinh khác, bất kể là thuộc tính kim như Văn Xương, thuộc tính thủy như Văn Khúc, Hữu Bật, hoặc thuộc tính thổ như Tả Phụ, đều sẽ ảnh hưởng đến tính chất mộc hỏa tương sinh vốn có. Nói một cách nghiêm khắc, các trường hợp Liêm Trinh bị ảnh hưởng đều hại nhiều hơn lợi; nhất là bị ảnh hưởng của Tả Phụ thuộc tính thổ, đối với mộc và hỏa đều không có lợi, còn phá hoại sức chuyên chú của hỏa. Vì vậy Liêm Trinh không nên thấy Tả Phụ.

Nhưng nếu đồng cung với các phụ tinh như Hỏa Tinh, Linh Tinh, thì thế của hỏa càng kịch liệt, nhưng lại phát tán nhiều hướng. Liêm Trinh vốn là mộc — chất đốt — sẽ bị cháy quá nhanh, làm cho mệnh tạo có cảm giác có quá nhiều hướng đi, cảm thấy lực bất tòng tâm. Đồng thời còn vì lực tác động của hỏa chuyển thành có ý gây tổn thương, do đó về tính cách khó tránh tình trạng khó hợp quần, hoặc thường tranh chấp với người khác, dễ có lối suy nghĩ thiên lệch, méo mó; thêm vào đó tính cách sẽ khiến cho người này thích tham dự vào chính giới, ưa tranh đấu, kết quả của nó đương nhiên tạo thành ấn tượng dễ gắn với thị phi.

Do đó cách cục Liêm Trinh thanh bạch chủ yếu được quyết định bởi nhân tố có được độc tọa trong cung hay không, để hoàn thành quá trình "mộc hỏa tương sinh".

Hỏa thiếu mộc, thiếu thủy đều sinh chuyện

Đặc tính của hỏa là: không có mộc thì hỏa sẽ cháy không lâu, không cách nào phô bày ra tài hoa và năng lực đặc biệt vốn có, sức bền và tính nhẫn nại đều giảm đi; không có thủy thì hỏa sẽ trở nên quá khốc liệt, tuy có lực hành động mạnh mẽ dẻo dai, phàm chuyện gì cũng lấy mục đích và sự công bình để tìm sự đồng thuận, nhưng lại thiếu sự uyển chuyển của tình người.

Hỏa Tinh ở cung vị thuộc tính hỏa, là hỏa quá nhiều thì hoa lệ nhưng không có thực chất, chỉ có hào nhoáng bề ngoài; do đó các sao thuộc hỏa ở cung vị khác nhau sẽ có sự biến hóa khác nhau như đã thuật ở trên.

Hỏa Tinh, Linh Tinh, Thiên Hình — hỏa thứ cấp

Các sao trong Đẩu Số thuộc hỏa thứ cấp là Hỏa Tinh, Linh Tinh, Thiên Hình; trong đó Hỏa Tinh, Thiên Hình đều thuộc dương hỏa — Bính hỏa, còn Linh Tinh thuộc âm hỏa — Đinh hỏa.

Hỏa Tinh là sao thuộc hệ giờ. Phần lớn các sao thuộc hệ giờ đều có đặc tính phát tác nhanh, mà tàn lụi cũng nhanh, nhất là các sao thuộc hỏa, tính chất này càng rõ rệt. Vì vậy, Hỏa Tinh nhập cung mệnh, tọa cung tài bạch, hay ở trong cung quan lộc, về tính cách đều có tính khí đến nhanh mà đi cũng nhanh, mau giận mau nguôi.

Cũng do đặc điểm của các sao thuộc tính hỏa, nên lúc phát động, thường thường sẽ không chừa lại sức lực, mà mang toàn bộ sức mạnh phát huy đến cực điểm, tương tự như hiện tượng sao xẹt trong nháy mắt. Vì vậy trong tình cảm, và cách xử sự, đều dễ bạo phát bạo tàn, dễ nổi giận nhưng sau đó không lâu thì như không có chuyện gì.

Bởi vì Hỏa Tinh có tính chất "hình khắc", thời gian đầu lúc nổi giận sẽ kèm hoảng loạn, dẫn đến thái độ xử sự mất bình tĩnh; cho nên tính cách này rất dễ mang lại tổn hại cho công sự và bản thân. Ứng trong tình cảm, cũng dễ làm cho đối tượng hôn phối có ấn tượng khó sống với nhau.

Thường thường Hỏa Tinh rất có phách lực trong cú đầu tiên, ánh sáng sẽ phát tán tứ phía. Nếu Hỏa Tinh đơn thủ, hoặc phối hợp đúng cách, thì cũng giống như sét đánh xuống, có thể mang lại cho mệnh tạo tác phong rất quả quyết, có tạo tác. Thường thường lúc gặp nó là chủ về mệnh tạo có bước nhảy vọt trong cuộc đời; gặp ở cung tài bạch, thường thường đột nhiên có một khoảng tiền bất ngờ. Vì vậy Hỏa Tinh có thể là thiện mà cũng có thể là ác, tùy thuộc vào cách phối trí của nó.

Trường hợp Hỏa Tinh và Tham Lang gặp nhau, trong Tử Vi Đẩu Số gọi là "Hỏa Tham cách". Vì ngũ hành của Tham Lang thuộc thủy mộc, đối với Hỏa Tinh là tìm được nguồn cung cấp bất tuyệt; do đó, tổ hợp dạng này thường thường có thể làm cho đương sự có chỗ phát huy được học thức và năng lực, đời người cũng có mục tiêu theo hướng tích cực. Đồng thời, do Hỏa Tinh có đặc tính phát đột ngột, nên thường thường người "Hỏa Tham cách" trong hành hạn có thể đột nhiên đạt được thành công, hoặc là có tài vận kiểu bạo phát.

Trong tổ hợp hỏa và thổ như Thiên Lương, Hỏa Tinh, Thiên Phủ, Hỏa Tinh, v.v… có thể vì các sao thuộc thổ được kích thích, mà phát huy công dụng đặc biệt có thể hóa giải tai ách, mang lại điềm lành; nhưng có thể sẽ phá tính chất ban đầu của Thiên Phủ và Thiên Lương, làm mất đi một số phong độ, hoặc tính chất khiêm cung của quân tử; nhưng trong vận trình cuộc đời nhờ vậy mà thay đổi và có được thành tựu. Có điều trong quá trình này, tất nhiên sẽ vì Hỏa Tinh mà mang lại "hình hại", thăng trầm, chìm nổi với mức độ khác nhau, và có khiếm khuyết đáng tiếc về tính cách.

Linh Tinh — đốm lửa nhỏ khó dập tắt

Một sao thuộc tính hỏa thứ cấp khác là Linh Tinh. Uy lực của Linh Tinh yếu hơn Hỏa Tinh, lực bạo phát và ánh sáng phát tán cũng nhỏ hơn Hỏa Tinh, lực phá hoại trong nháy mắt cũng nhỏ hơn; nhưng nó mang lại ảnh hưởng và hậu di chứng kéo dài, không phải trong một thời gian ngắn là có thể bình phục.

Linh Tinh có bản lãnh giống như đốm lửa nhỏ có thể đốt cháy cánh đồng; khi ngọn lửa bị dập tắt, cũng khó dập tắt được hoàn toàn. Cho nên Linh Tinh ở cung tam hợp của cung mệnh, mệnh tạo thường thường có tính dẻo dai rất đặc biệt; những sự tình trông không thuận mắt sẽ rất khó quên, tuy không phát tác lập tức, nhưng để bụng chờ dịp phát tác.

So với Hỏa Tinh, tính cách của Linh Tinh ngu muội vô tri hơn, khó trò chuyện trao đổi, bởi vì sự chịu đựng và nhượng bộ của nó có thể chỉ là tạm thời. Nhưng nói một cách tương đối, nếu nó ở đúng vị trí, thì nghị lực và tính ẩn nhẫn của nó, người bình thường không bì kịp. Câu chuyện nằm gai nếm mật rất phù hợp với biểu hiện của người Linh Tinh độc tọa ở cung mệnh.

Ngoài ra, trường hợp Linh Tinh và Tham Lang đồng cung, là "Linh Tham cách", có biểu hiện tương tự như "Hỏa Tham cách", tuy mức độ bạo phát không bằng "Hỏa Tham cách", nhưng có sức kéo dài hơn. Nếu đồng thời tính cả ảnh hưởng do cung vị mang lại, thì Hỏa Tham, Linh Tham ở cung Dần mới là cách cục bạo phát thật sự rất có tiềm lực.

Vì sao Hỏa Tinh, Linh Tinh không nên nhập cung phu thê

Ngoài ra, Hỏa Tinh, Linh Tinh không nên nhập cung phu thê. Trường hợp nhập cung phu thê, do đặc tính mau chóng, bạo phát, nên về tình cảm, cách mệnh tạo đối đãi, cho ra, dễ thiếu suy nghĩ; sẽ liều lĩnh yêu đương, thành hôn. Thêm vào đó là cách phản ứng trong tâm trạng xung động của Hỏa Tinh, Linh Tinh không phải là phương thức đối đãi hài hòa, dịu dàng; lúc tình cảm tốt đẹp thì gắn bó keo sơn, còn lúc tình cảm không được êm ấm thì như nước với lửa. Vì vậy, tình yêu dạng này đến rất nhanh nhưng đi cũng rất mau.

Ngoài ra, Hỏa Tinh, Linh Tinh chủ về phá hoại, "hình khắc", rất có thể vừa kết hôn mới được hai ngày, tuần trăng mật chưa hết, đã đòi li hôn. Nhưng không phải ai bị trường hợp Hỏa Tinh, Linh Tinh nhập cung phu thê đều sẽ xảy ra hiện tượng như vậy; đây chỉ là thuyết minh sống với nhau nhưng ý kiến không hợp nhau, hoặc là trong vận trình cuộc đời mệnh tạo đã có một cuộc tình như vậy. Muốn tìm hiểu chi tiết, cần phải xem xét cung phúc đức.

Thiên Hình — hỏa gom tụ, không có chất lượng

Trong số các sao thuộc hỏa thứ cấp, Thiên Hình là sao khá kì dị. Thiên Hình thuộc dương hỏa — Bính hỏa, nhưng không phải là hỏa gom tụ có chất lượng, mà biểu thị tình trạng năng lượng gom tụ thất thường, còn có tác dụng làm cho thái quá hay bất cập. Thông thường Thiên Hình chủ về âm dương không phối ngẫu, cô độc, hình khắc, khó tiếp cận.

Lúc Thiên Hình hóa phát huy tác dụng, phần nhiều có cách suy nghĩ không thoáng, ưa đâm đầu vào những việc không giải quyết được, là một kiểu tính cách cô độc, cao ngạo. Nhưng vì quá tập trung vào một điểm, nên mệnh tạo dễ đánh mất tầm nhìn rộng lớn, không cách nào phân tích sự tình từ lập trường bao quát, do đó sẽ không chú ý đến các hướng khác.

Thể hiện ở tính cách là: nhiều lúc tự thị tài học mà dùng lời lẽ bén nhọn, nhiều lúc yêu thích thất thường, hay có thái độ thờ ơ, lãnh đạm, rất dễ làm tổn thương người khác và thiêu đốt cả bản thân.

Vì hỏa của Thiên Hình là Bính hỏa, nên còn có đặc tính muốn chiếu sáng những nơi u ám; vì vậy, trường hợp Thiên Hình ở cung tam hợp của cung mệnh, có lúc chủ về tính cách cương nghị, chính trực; cộng với tính chất hình khắc, nên người có Thiên Hình tọa thủ cung mệnh phần nhiều là quân nhân, cảnh sát, nhân viên tư pháp. Không sợ hãi chuyện gì, lấy đao kiếm làm nghiệp, cũng là khuynh hướng của người có Thiên Hình thủ mệnh. Thường thường bác sĩ ngoại khoa, hoặc những nghề cần phải chuyên chú và có tính độc lập cũng thuộc mẫu người Thiên Hình.

Hỏa của chính tinh và hỏa của phụ tinh khác nhau ra sao

Công dụng của các sao thuộc hỏa không đơn giản như bề ngoài của đặc tính hỏa; thường thường trong các tổ hợp khác nhau, chúng sẽ biến hóa ra các tình huống cát hung, thành bại khác nhau.

Các chính tinh trong nhóm sao thuộc tính hỏa, quá nửa, hỏa của chúng là đại biểu cho tính thường hằng, lâu dài, tự động tự phát. Còn hỏa của các phụ tinh phần nhiều là đại biểu cho tai biến, tổn thất, thất lợi, trở ngại và tôi luyện; nhưng do tính chất của các sao, sức mạnh phát tán nhanh chóng, lực đạo mạnh mẽ, tuy có hàm ý là nguy cơ tai biến, nhưng cũng vì nguy cơ mà mang lại cơ hội chuyển biến.

Sự huyền diệu trong đó, phải xem mệnh tạo có thể vận dụng được các sao thuộc thổ để chuyển biến tính bạo phát của nó hay không, phải xem có tìm được đối tượng thích hợp với sự vi tế của nó hay không. Đồng thời, còn phải chú ý tác động của tứ hóa, nhất là Hóa Lộc và Hóa Kị. Lúc chúng nhập đúng vị trí "ngã cung", thì Hóa Lộc và Hóa Kị có thể phát huy tính hỏa bốc lên một cách hữu hiệu; còn lúc Hóa Lộc và Hóa Kị nhập không đúng vị trí, thì các sao thuộc hỏa sẽ phối hợp với Hóa Kị, thường thường sẽ biến thành xung động, lỗ mãng mà dẫn đến thế thất bại mau chóng như lửa cháy. Vì vậy, tác dụng của tứ hóa vẫn cần phải phối hợp với tính chất của các sao.

Luận về các sao thuộc tính mộc

Lửa cháy được lâu hay chóng là do có củi hay không, mà củi thì thuộc về hành mộc.

Việc luận giải mệnh bàn có chính xác hay không, có liên quan rất nhiều với tính chất ngũ hành của các sao. Trong Đẩu Số, các sao thuộc mộc không nhiều, chỉ có Thiên Cơ — Ất mộc, Tham Lang — Giáp mộc, Quý thủy, và Liêm Trinh — Ất mộc, Đinh hỏa.

Trong số đó, Tham Lang và Liêm Trinh không đơn thuần có mộc khí, đồng thời còn phải phân biệt có kèm tính thủy và tính hỏa. Vì thủy sẽ sinh mộc, còn hỏa là do mộc sinh, do đó Tham Lang và Liêm Trinh đều có tính chất riêng của chúng, ngầm chứa dục vọng khác nhau. Cho nên trong truyền thống Tử Vi Đẩu Số, hai sao này được xem là hai sao đào hoa lớn nhất.

Do bản thân Tham Lang có kèm tính chất Quý thủy, nên tình cảm rất phong phú, tính chất đào hoa của nó cũng nặng hơn Liêm Trinh. Nhưng hai sao này có thể hiện tính chất đào hoa hay không, là phải xem nó ở cung nào, trong cung có phụ tinh hay không, cho đến tình hình có bị khơi động hay không ở các cung tương quan khác về tình cảm mà định.

Thiên Cơ trong Đẩu Số là Ất mộc đơn thuần, vì vậy trí tuệ, lí luận, năng lực tổ chức liên kết… đều hơn người. Liêm Trinh cũng có tính Ất mộc, cho nên cũng là sao đại biểu cho trí tuệ siêu quần; nhưng trí tuệ thông minh của Liêm Trinh có tính chuyên một mũi nhọn nào đó — vì Liêm Trinh là mộc sinh hỏa — có mục đích, còn có tính chất mưu lược, không rộng bằng Thiên Cơ. Do đó Liêm Trinh thường bị hiểu lầm là thông minh vặt hoặc xảo trá.

Tham Lang là Giáp mộc — cây cối đứng sừng sững

Mộc trong thế giới tự nhiên là phiếm chỉ các loại thực vật. Từ cổ chí kim, văn nhân, thi sĩ thường lấy các loại cây — mộc — để ví với nhân cách, như mai là cô độc cao ngạo trước sương tuyết, trúc là tiết khí cao thượng, cúc là thanh đạm mà có chí lớn. Trong thực tế, bất kể là cây cối mọc thẳng đứng sừng sững, hay là đồng cỏ mênh mông, đều có đặc tính chung là "sinh trưởng", "có sức sống mạnh". Vì hướng sinh trưởng của chúng phần nhiều là đi về hướng dương, hướng sáng sủa; do đó các sao thuộc tính mộc có tương quan với tính giáo dục, khai minh.

Ngũ hành của Tham Lang là thuộc Giáp mộc. Theo Sử kí của Tư Mã Thiên, Giáp tượng trưng cho hiện tượng manh nha, phát sinh. Vì vậy đặc tính giáo dục, khai minh của nó càng rõ ràng. Giáp mộc thường thường là cây cối đứng sừng sững, hình tướng mạnh mẽ; nếu áp chế được tính thủy của nó, mà không bị ảnh hưởng của phụ tinh, thông thường Tham Lang có công dụng "mượn gió xuân để tạo mưa".

Giáp mộc có tính cứng cỏi, gần với tính kim, cho nên có lúc Tham Lang đại biểu cho tính độc lập, nhưng trong đó cũng nhiều cố chấp. Vì tâm lí phòng vệ, vì sự hoàn bị của bản thân, nên Tham Lang hiếm khi biểu hiện cách suy nghĩ thật của mình, cũng khó có quan hệ thâm giao với ai. Tuy cách xử thế khéo đưa đẩy, bề ngoài tỏ ra bình thường, nhưng nội tâm lại rất kiên trì, rất khó thỏa hiệp; vì vậy, có lúc thiếu hành vi tùy cơ ứng biến — không phải không làm được, mà là không làm.

Do có tính chất thủy mộc tương sinh, thêm vào đó là Giáp mộc có hình tướng tráng lệ, hùng vĩ, vì vậy được thiên phú về nghệ thuật, mĩ học, thích phong nhã; còn là sao có năng lực sáng tạo nhất trong Tử Vi Đẩu Số. Vì tính của sao là khởi đầu của dục vọng, vì vậy thích hưởng thụ, biết hưởng thụ, mà sự hưởng thụ của nó là xây dựng trên mĩ học, thường thường khiến cho người ta phải khen là có phẩm chất.

Do thủy mộc tương sinh, nên người Tham Lang thủ mệnh phần nhiều rất có lòng trắc ẩn và đức hiếu sinh. Do bản chất của Giáp mộc là sinh trưởng hướng thượng, mục tiêu là thành lương đống, do đó thông thường Giáp mộc rất xem trọng sĩ diện, có cách nói năng cứ chỉ vững vàng; tuy có khiếu khôi hài nhưng tuyệt đối không thô tục. Nếu phong lưu thì tuyệt đối không phải là hạ lưu.

Thiên Cơ là Ất mộc — dây leo mềm mà dẻo dai

Cũng cùng là mộc, nhưng Thiên Cơ là thuộc Ất mộc. Biểu hiện của Ất mộc là có thể cong mà cũng có thể thẳng, dễ lay động, thích trải dài ra một phía. Ất mộc là tượng trưng cho hoa cỏ, dây leo, có tính mềm mỏng mà dẻo dai; do đó về tính cách là tính tình ôn hòa, giàu lòng cảm thông, tuyệt đối không thích hiếp đáp ai; ngay cả biểu hiện bề ngoài cũng khiêm cung, lễ độ, nhưng sức chịu đựng khá mạnh và dẻo dai.

Vì có tính chất như loài thực vật dây leo, có thể phát triển đủ mọi hướng, do đó Thiên Cơ có lối suy nghĩ và xem xét sự việc với phạm vi rộng, còn có thể dẫn dụng nhiều thông tin tư liệu. Hơn nữa, thường thường Thiên Cơ có một sự hiểu biết tốt về các tri thức liên quan, cho nên giỏi lập kế hoạch, vạch kế sách.

Ất mộc khác với Giáp mộc: gặp một làn gió nhẹ là đã lay động, vì vậy có nghĩa là hoạt động lâu dài, rất khó dừng lại. Nhưng hoạt động của nó lại có thiên hướng hoạt động về suy nghĩ tính toán, chớ không phải là hoạt động về hình thể; nhưng gốc rễ của nó là bền chắc.

Do Ất mộc gặp gió là lay động, vì vậy có tính tùy cơ ứng biến rất tốt, tính điều hòa và điều chỉnh cũng rất tốt, trong mọi hoàn cảnh đều có thể tìm ra được phương cách tạo chỗ đứng cho mình. Nhưng vì Ất mộc không có tính định hướng rõ ràng, nói một cách tương đối, nên thường có tính ỷ lại; dù biết rõ thực tế là thế nào, nhưng hiếm khi đối đầu với thực tế, mà thường xuôi theo chiều gió.

Nếu đồng cung với tổ hợp sao không tốt, hoặc ở không đúng cung vị, Thiên Cơ sẽ trở thành cực kì mẫn cảm, còn dễ bị thiếu tự tin; về tính cách, thành nhu nhược, không dám hành động, chỉ có thể tưởng tượng mình đang điều khiển thiên hạ, hoặc sẽ trở thành cực kì thực tế, sẽ có cảm giác họ là người ba phải, không có chủ kiến.

Ngoài ra, Thiên Cơ đại biểu cho sinh cơ của hạt giống trong trời đất; mặc dù sức sống của hạt giống là bền bỉ dẻo dai, nhưng phải rơi xuống đất mới mọc rễ được, tức cũng phải có chút vận khí tốt, nên Thiên Cơ thường thường còn có hàm ý: cơ hội hơi nhỏ.

Luận về các sao thuộc tính kim

Cây cối mọc lên rồi cũng có lúc gặp lưỡi rìu; đó là lúc bàn tới hành kim.

Trong thế giới tự nhiên, kim là vật chất cứng rắn, làm cho người ta liên tưởng đến tính cương ngạnh, ngưng tụ; cho nên có khí cương trực, và "sát phạt tiêu điều". Thực vật không cách nào mọc rễ, nảy mầm trên nền vật chất có tính kim; do đó kim có đặc tính cản trở sinh cơ, cắt đứt mầm sống.

Trong Tử Vi Đẩu Số, các sao thuộc tính kim gồm có Vũ Khúc, Thất Sát, Văn Xương, Kình Dương và Đà La. Các sao thuộc kim này tùy vị trí chúng tọa lạc mà có biểu hiện và tác dụng khác nhau; nhưng bất kể là sao thuộc tính kim nào cũng đều có tính cương trực, càng được tôi luyện thì càng kích phát tiềm năng của nó.

Vũ Khúc là Tân kim — khối kim loại lớn chưa rèn

Vũ Khúc tính thẳng mà không độc, trong ngũ hành là Tân kim — kim âm tính. Vũ Khúc là sao rất mạnh, có thể xem là một khối kim loại lớn; vì lớn mạnh nên có tính chất ổn định và cứng cỏi, nhưng chưa trải qua quá trình rèn luyện hoàn chỉnh. Muốn khơi động Vũ Khúc cần phải mất một thời gian hơi dài, do đó vận tác không được thuận lợi, lực hành động có lúc bị thiếu; nhưng một khi đã vận tác suôn sẻ thì khó làm cho nó ngừng lại.

Do đó người Vũ Khúc tọa thủ cung mệnh, tuy phần nhiều phát muộn, nhưng thường thường nhờ khiêm tốn cẩn thận mà giữ được thành quả. Kim có lực ngưng tụ và rất mạnh, năng lực hấp thu sự vật khá mạnh, còn có thể làm cho người khác phụ thuộc.

Nhưng nếu Vũ Khúc chưa trải qua rèn luyện, rất dễ thành cố chấp ý kiến của mình, hoặc vì quá tự tin mà không tín nhiệm ai. Do có độ thuần và tính hoàn chỉnh cao, nên thường thường rất độ lượng; vì rất có nghị lực nên có thể nỗ lực không biết mệt mỏi, nhắm tới mục tiêu; phần nhiều là nhân vật có thực lực.

Còn nhờ tính cách trầm ổn, nên đối với họ, các hình thức công kích hoặc áp lực đều không phải là chuyện đáng kể, thường có thể âm thầm chịu đựng. Vì vậy, tuy cố chấp, nhưng lại làm cho người khác có ấn tượng họ là người có cảm xúc ổn định, điềm đạm nhưng cương nghị; nhưng về tình cảm, với tính cương cường như vậy thường sẽ khiến người Vũ Khúc thủ mệnh âm thầm bị tổn thương tinh thần.

Thất Sát là ngọn thương bén nhọn

So với Vũ Khúc, Thất Sát tuy cũng là Tân kim, nhưng nhờ kèm tính Đinh hỏa nên ít nhiều cũng đã được trui rèn, làm cho Thất Sát giống như đã thành vật nhọn. Tuy không nhất định đã được tôi luyện đến nơi đến chốn, nhưng nhất định đã sắc bén và có điểm để chuyên chú.

Nếu hình dung Vũ Khúc là cái khiên, thì Thất Sát là ngọn thương bén nhọn, nên lực xung kích của Thất Sát mạnh hơn Vũ Khúc nhiều. Do bản thân cần phải được rèn luyện, cho nên trong tính tình của nó còn có tính chất mạo hiểm, vì nó cũng có sức mạnh không phải là nhỏ; năng lực thực hiện và sức bền cũng thuộc loại khá mạnh, nhưng cũng có thành phần cố chấp vô lí trong đó. Thường thường sẽ làm cho người ta khó tiếp cận, hoặc có ấn tượng không tốt về cách xử sự.

Tóm lại, người Thất Sát tọa thủ cung mệnh, phần nhiều đều có đảm lược và kiến thức, còn giỏi tiến công. Tuy có suy nghĩ trước khi hành động, nhưng một khi đã triển khai hành động, thường thường không còn để ý đến phương cách hành động, cũng không muốn dừng lại, phải có kết quả mới chịu.

Kình Dương và Đà La — lưỡi dao và cái cưa

Các sao thuộc kim có động lực mạnh tương tự như Thất Sát là Kình Dương và Đà La. Kình Dương là Canh kim, Đà La là Tân kim, nhưng trong thực tế hai sao này đều có tính chất sát phạt và lực xung kích.

Kình Dương là kim ở dạng lưỡi dao bén. So với Thất Sát, thì Thất Sát còn có vỏ kiếm, còn Kình Dương là hung khí không có tiết chế, lực công kích rất mạnh, lực hành động nhanh chóng, đương nhiên còn kèm tính chất lạnh lùng, có tính tấn công không phân biệt đối tượng. Do đó các sao đồng cung với Kình Dương thường thường cũng sẽ bị đặc tính của Kình Dương gây ảnh hưởng, làm cho các sao bị thiên lệch theo cách riêng của chúng.

Kim của Đà La giống như cái cưa, sẽ không gây tổn hại lớn ngay lập tức, hoặc cắt đứt, quyết đoán, mà như có mục đích gây tổn hại liên tục hoặc hành động không gián đoạn, bất kể thành công hay không. Hành vi của nó đều có nguy cơ rất lớn làm tổn hại bản thân, hoặc tổn hại người khác; vì giống như đã thành hình "răng cưa", cho nên tổn hại mà nó gây ra phần nhiều đều để lại hậu di chứng, không cách nào chữa khỏi. Trái lại, nếu Kình Dương giáng họa, từ từ điều dưỡng sẽ chữa khỏi; vì vậy Đà La có lúc tượng trưng cho bệnh mạn tính.

Vì là hai sao thuộc tính kim tinh, nên đều có tính chuyên nhắm đến mục tiêu nào đó, cũng kèm tính chất khó thân cận. Vì vậy, trường hợp hai sao này ở cung mệnh, phần nhiều cũng làm cho người ta cảm thấy mệnh tạo là người khó gần gũi, hoặc nhân sinh quan khá cấp tiến; ngay cả bản thân mệnh tạo cũng cảm thấy họ dễ làm cho người khác có cảm giác không cách nào hòa hợp với họ được.

Văn Xương là viên ngọc đẹp trong nhóm kim

Đương nhiên trong số các sao thuộc tính kim, cũng có sao giống như ngọc đẹp là Văn Xương. Tuy sức mạnh không lớn nhưng có công dụng trang sức, điểm xuyết, còn làm tăng tính xác định mục tiêu. Vì vậy Văn Xương ở trong điều kiện có ưu thế, sẽ làm tăng tố chất văn học và phong thái văn nhã, còn làm đẹp cho khí chất của đương sự.

Do có tính nhắm đến mục tiêu và tính chất tỉa gọt, cho nên thông thường Văn Xương chủ về học tập kiểu thực dụng, thiên về các ngành khoa học ứng dụng, chớ không theo văn triết hay nghệ thuật; đây là chỗ khác nhau so với Văn Khúc.

Nói chung, các sao thuộc kim phần nhiều đều có tinh thần cách biệt với người khác, làm cho người ta có ấn tượng họ là người có khí "sát phạt tiêu điều", nặng tâm lí phòng vệ; do đó về phương diện tình cảm hay ít hợp với ai, trừ phi có các sao thuộc thủy đồng cung. Nếu không, trong hôn nhân và tình yêu, ngay cả đã có "một nửa kia" của mình, họ cũng rất dễ rơi vào tình trạng tự hưởng thụ niềm vui của trạng thái cô độc, hiu quạnh.

Luận về các sao thuộc tính thủy

Kim khí lạnh lùng sắc bén, chỉ có nước mới rửa bớt được cái khí sát phạt ấy.

Tính thủy cũng phân âm dương, nhưng đều chủ về trí và suy nghĩ xem xét. Trong ngũ hành, thủy là một loại vật chất có tính biến hóa rất lớn; trong thế giới tự nhiên, hình thái, động thái, độ ẩm, độ trong suốt của thủy — nước — đều có sự chênh lệch rất lớn. Do "nước" cấu tạo thành vô số thứ, có thể thấy tính quan trọng của nó.

Hình tượng của thủy trong thế giới tự nhiên cũng xuất hiện ở rất nhiều hướng khác nhau, biến ảo khó lường: giống như biển hồ, sông suối khó định được giới hạn và khí thế hùng hồn của chúng; hoặc giống như thác nước chảy cuồn cuộn, không lúc nào không yên định. Chính vì thủy có tính lưu động, biến hóa, có thể làm vạn vật sinh trưởng, mà cũng có thể dìm mất sinh cơ, nên khi những tính chất này biểu hiện ra, chính là tình trạng lúc lạnh lúc nóng của cảm xúc yêu thương ghét hận.

Thủy khác nhau có thể luận giải ra những cảm xúc, tình cảm khác nhau của một cá nhân. Trong Tử Vi Đẩu Số, các sao thuộc thủy là nhiều nhất, gồm có Thái Âm, Phá Quân, Thiên Tướng, Thiên Đồng, Cự Môn, Hữu Bật, Văn Khúc.

Thái Âm là vầng trăng tròn khuyết

Trong số đó Thái Âm là sao mạnh nhất. Thái Âm là tượng trưng của mặt trăng; từ câu nói "trăng có tròn có khuyết", có thể biết được người Thái Âm tọa thủ cung mệnh, về cảm xúc, khoảng cách giữa hưng phấn và trầm cảm tất nhiên khá lớn, tương tự như hiện tượng thủy triều, mà độ mẫn cảm của nó cũng khá cao.

Nhưng vì ánh sáng của mặt trăng là phản ánh ánh sáng của mặt trời, do đó trong tính chất của Thái Âm có thành phần bị động, chỉ phản ứng trong trường hợp bị bắt buộc. Nếu lấy thủy cụ thể hóa để hình dung, tương tự như ném đá vào hồ nước sẽ có hiện tượng gợn sóng. Nhưng dù nội tâm mưa ba đào nổi sóng, Thái Âm vẫn cố sức duy trì vẻ bề ngoài thăng bằng, ít nhất là giữ gìn hình tượng của mình.

Thái Âm là sao mạnh, lúc yên tịnh không có sóng gió, hình tượng của nó to tát bình ổn, còn có thể cho người ta cảm giác dịu dàng, vỗ về. Do đó người Thái Âm tọa thủ cung mệnh, thường thường còn có hình tượng hay chiếu cố người khác. Ngoài ra, đặc biệt hơn là, vì sự yên tịnh của nó rất lớn, nên Thái Âm còn đại biểu cho tiền tài, có thể biểu thị sự bình ổn của bất động sản và tiền của; nhất là trường hợp ở cung điền trạch, nó chủ về thu hoạch lớn và giàu có.

Phá Quân là dòng thác chảy xiết

Sao thuộc tính thủy đối nhau với Thái Âm là Phá Quân. Phá Quân cũng là sao mạnh, nhưng lộ tuyến của nó khác nhau hoàn toàn với Thái Âm. Lấy hiện tượng trong thế giới tự nhiên để so sánh, Phá Quân giống như thác nước, dòng nước chảy xiết. Phá Quân còn đại biểu cho tốc độ nhanh, những tác động vô tình; do đó Phá Quân trong Đẩu Số chủ về bạo phát, phá hoại, cải cách.

Rất nhiều lúc lực bạo phát của Phá Quân làm cho mệnh tạo thích hợp với những nghề nghiệp cần phải có tốc độ, tính quyết đoán, lực hành động như quân nhân, cảnh sát, vận động viên, v.v… Đương nhiên vì Phá Quân có tính không chịu bị trói buộc, nên trong các lãnh vực cần có tính khai sáng, sáng tạo, cạnh tranh, thường thấy rất nhiều người xuất chúng thuộc trường hợp Phá Quân tọa thủ cung mệnh.

Phá Quân cũng thuộc thủy, nên cũng là sao dồi dào tình cảm. Lúc yêu đương cũng sẽ thi triển lực hành động xông thẳng tới trước, do đó chuyện tình của Phá Quân thường mở đầu rất oanh oanh liệt liệt; nhưng vì Phá Quân có tính không ổn định, nên chuyện tình của họ cũng dễ kết thúc oanh oanh liệt liệt. Trường hợp ở trong tổ hợp sao không tốt, thậm chí có thể dùng từ "bi kịch" để hình dung, nhất là lúc Phá Quân thủy đồng cung với Văn Xương, Văn Khúc khiến nó bị biến chất.

Thiên Tướng là thủy ấm áp

Thủy chủ về trí. Hai sao thuộc thủy kể trên đều có tính chất "trí", nhưng không mang trí tuệ của chúng phát huy đến mức tối đa; còn Thiên Tướng là sao vận dụng được trí của nó rất tốt.

Thiên Tướng là dương thủy, tuy sức mạnh của nó không lớn, nhưng lại cho người ta cảm giác ấm áp, trong sáng, do đó cũng có hàm ý mệnh tạo có trí tuệ thông đạt. Người cung mệnh có Thiên Tướng, năng lực lí giải và cơ trí đều khá tốt, nhưng phần tốt nhất của nó là năng lực ứng dụng.

Nhưng nói có năng lực ứng dụng tốt, vẫn chưa rõ bằng nói Thiên Tướng là thủy ấm áp, nên luôn muốn bồi dưỡng cho tốt một hướng nào đó. Thiên Tướng biết tập trung vào trọng điểm, và dựa vào nỗ lực để đạt được mục tiêu; sẽ vận dụng cơ trí và tính hài hòa của mình để biết loại năng lực mà bản thân cần phải có, và dùng nó để tìm ra không gian mà Thiên Tướng có thể phát huy.

Vì vậy, tuy Thiên Tướng không phải là người dẫn đầu của một ngành, nhưng lại là người vận dụng tốt nhất của ngành này. Trong tình cảm, bởi vì Thiên Tướng là thủy ấm áp, nên tình cảm cũng phong phú mà còn khá chủ động. Trong quá trình yêu đương, cũng có thể vận dụng một cách đặc sắc những gì mình nghe được, biết được; sau khi điều chỉnh bản thân còn mang những gì mình đã học được ra chia sẻ với người khác; do đó phần nhiều người Thiên Tướng tọa thủ cung mệnh đều có đời sống tình cảm nhiều màu sắc.

Thủy nhiều hay ít quyết định đời sống tình cảm

Thủy chủ về trí; lúc luận đoán mệnh bàn thực tế, thường sẽ dùng các sao thuộc tính thủy để đại biểu cho cảm tính, tình cảm. Trong thực tế, thường có thể phát hiện rất nhiều tình huống tình cảm xao động, quan hệ của hai giới, đều dựa vào hiện tượng các sao thuộc thủy bị tứ hóa khơi động; thậm chí có lúc chỉ căn cứ vị trí của các sao thuộc thủy là đủ để biết về quan hệ đào hoa. Do đó có thể thuyết minh: các sao thuộc tính thủy có thể làm cho tình cảm lưu thông hoặc tác động lẫn nhau.

Nếu trong "ngã cung" quá ít hoặc không có sao thuộc tính thủy, là chủ về mệnh tạo khó điều khiển tình cảm, còn có thể vì khó bày tỏ cảm xúc mà không biểu hiện được nhiệt tình của mình, dẫn đến tình trạng thiếu thốn trong đời sống tình cảm; thỉnh thoảng chỉ có vận hạn khơi động sao thuộc tính thủy, mới mang lại một chút quan hệ giao tế đào hoa.

Thiên Đồng là dương thủy chủ cung phúc đức

Thiên Đồng thuộc dương thủy, là chủ của cung phúc đức. Sở dĩ Thiên Đồng làm chủ cung phúc đức, không phải vì Thiên Đồng có tài giải tai trừ nạn gì, mà vì Thiên Đồng đại biểu cho tính chất không tranh với đời, an nhàn. Ngay cả lúc gặp nạn, với tính cách lạc quan của nó, vẫn có thể tìm ra được sinh lộ dưới bao nhiêu áp lực đè nặng; hoặc có thể chọn phương cách gạt mọi phiền toái sang một bên, không thèm quan tâm những áp lực này. Vì vậy, thông thường Thiên Đồng ở cung phúc đức là chủ về có thể vượt qua tai họa, sau đó có được cuộc sống yên ổn.

Thiên Đồng tọa thủ cung mệnh phần nhiều có sức cảm thụ rất mạnh, rất có thiên phú nghệ thuật, đối với mĩ học và mĩ cảm đều có hiểu biết rất tốt. Nhưng ở phương diện tạo tác, Thiên Đồng luôn có thói quen lợi dụng thiên phú của mình để thưởng thức, mà ít có tạo tác; do đó Thiên Đồng thường còn bị đánh giá là lười biếng, làm việc hay trì hoãn.

Thiên Đồng tương tự như Thiên Tướng, rất có hứng thú đối với cao lương mĩ vị, nên làm cho người ta có ấn tượng là người chỉ thích hưởng thụ mà không chịu nỗ lực.

Nếu Thiên Đồng được ngoại lực tác động, như Hóa Quyền, hoặc được hung tinh kích thích, thì có thể chuyển biến khuyết điểm không chịu tạo tác.

Cự Môn là Quý thủy — mặt hồ không nhìn thấy đáy

Thiên Đồng thì quá ưa lạc quan, đối lại, Cự Môn thì quá bi quan. Cự Môn là Quý thủy, chủ về u ám. Có thể tưởng tượng một cái hồ bình lặng nhưng màu nước không trong suốt, nhìn không thấy đáy.

Thường có thể biết trí tuệ của Cự Môn cũng khá tốt, lúc đối mặt với sự vật đủ bình tâm tịnh khí để nhìn sự việc không có thiên kiến, nhờ vậy mà có sở trường phân tích và phê bình các sự tình; nhưng do chủ về u ám, nên Cự Môn có thể thấy được điều mà người khác không thấy, tức thấy được mặt trái của sự tình, có cái nhìn độc đáo.

Vì tính của sao là bi quan, nên thường thường có lối suy nghĩ xem xét sự vật xuất phát từ góc độ phản diện, nên có thể đưa ra quan điểm hay học thuyết rất lạ. Nếu Cự Môn không gặp sát tinh, thông thường rất biết cách biểu đạt, nhất là Hóa Quyền, Hóa Lộc, lúc trò chuyện trao đổi có thể mang lại hiệu quả đặc biệt; nhưng nếu là Hóa Kị, thì thường trái với mong đợi, do đó dễ làm tổn thương người khác.

Thông thường, Cự Môn bất lợi về tình cảm. Do Cự Môn thuộc thủy, là loại sao giàu cảm xúc, nhưng Cự Môn lại chủ về u ám; lúc gặp chuyện tình cảm sẽ bị mất sáng suốt, trở thành không giỏi biểu đạt, thường làm cho người ta hiểu lầm.

Hữu Bật, Văn Khúc và Thiên Diêu — ba sao làm tăng đào hoa

Luận tình cảm, các sao Hữu Bật, Văn Khúc và Thiên Diêu đều là phụ tinh làm tăng mạnh tính chất tình yêu và đào hoa. Trường hợp ba sao này ở cung mệnh, đều có sự trợ giúp về phong thái văn nhã, cảm biết, sự thân thiện, hòa nhã, học vấn hoặc năng lực sáng tạo; bề ngoài có thể làm cho người ta có cảm giác muốn thân cận.

Trong số các sao này, Hữu Bật thường chủ về nhiều, lặp lại, và trợ giúp; thông thường là chủ về có quý nhân trợ giúp, hoặc sau khi thử nhiều lần mới thành công. Nếu có liên quan đến tình cảm, có thể phải chọn ra một người trong số nhiều đối tượng, vì vậy ngầm báo tình trạng tình yêu đa giác.

Còn thủy của Văn Khúc có thể dùng hình ảnh "nước nhỏ từng giọt nhưng không gián đoạn" để hình dung. Vì nó là chi lưu, không phải là chính thống, nên về học vấn phần nhiều là tượng trưng cho nghệ thuật, văn học, mĩ học không chính thống. Lúc luận về đào hoa, thường thường tượng trưng cho một chuyện tình trong lòng triền miên bùi ngùi xót xa, thường muốn cắt đứt mà không được.

Còn Thiên Diêu thông thường là điềm báo về tình cảm, mang lại cho mệnh tạo đào hoa trong quan hệ giao tế; thường thường đến đại vận hoặc lưu niên gặp Thiên Diêu thì rất dễ làm cho người ta biến thành cái máy phát tín hiệu đào hoa, dễ có tình cảm quàng xiên ở bên ngoài.

Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tứ Hóa Phái (quyển 2)

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Nhập môn