Bài tổng quan
Lá số Tôn Trung Sơn và nỗi tiếc của Gia Cát Lượng
Cuối đời Thanh đầu thời Dân Quốc, một thầy tướng nổi tiếng ở Bắc Kinh tìm đến Thượng Hải xem tướng Tôn Trung Sơn, và để lại một câu mà cả lịch sử chỉ dành cho hai người. Cũng một lá số lại cho thấy Gia Cát Lượng khóc giữa chiến trường đầy xác chết, và ngọn đèn mệnh bị đạp tắt trong đêm cầu thọ…
Mục lục · 5 phần
Câu nói của thầy tướng Bắc Kinh: coi thường ngôi thiên tử mà không làm
Cả năm nghìn năm lịch sử, người đủ tư cách mang lời khen ấy chỉ đếm trên đầu ngón tay.
Cuối đời Thanh đầu Dân Quốc, ở Bắc Kinh có một nhà xem tướng nổi tiếng tên là Điếu Kim Ngao. Ông lặn lội xuống Thượng Hải để xem tướng cho Tôn Trung Sơn, và nhận xét ngắn gọn rằng đây là người “coi thường ngôi thiên tử mà không làm”.
Dân tộc Trung Hoa có lịch sử năm nghìn năm, bậc thánh hiền, anh hùng hào kiệt kể ra không biết bao nhiêu mà đếm, nhưng người xứng với lời nhận xét ấy chỉ có Quách Tử Nghi đời Đường. Ông một mình chống đỡ cho họ Lý suốt hai mươi năm, lúc đó nếu muốn tự làm hoàng đế thì dễ như trở bàn tay, chỉ cần khoác áo long bào, vậy mà ông không làm.
Tôn Trung Sơn lật đổ nhà Thanh rồi được suy tôn làm đại tổng thống, nhưng ông tình nguyện nhường chức cho Viên Thế Khải. Nếu Viên Thế Khải không mê mộng làm hoàng đế mà cứ yên ổn làm tổng thống, thì đã ung dung thoải mái, đâu đến nỗi uất hận mà chết.
Tôn Trung Sơn sinh giờ Dần ngày mùng sáu tháng Mười năm Đồng Trị thứ năm đời Thanh, tức năm Bính Dần. Lá số dưới đây là lá số của ông, và lời luận chỉ dựa thuần túy vào Tử Vi Đẩu Số, hoàn toàn không phải vì ông là bậc quốc phụ mà tâng bốc. Lá số thuộc dương nam, Hỏa cục, cung Mệnh đóng ở Dậu, cung Thân đóng ở Sửu; Thiên Đồng hóa Lộc ở Mệnh, Thiên Cơ hóa Quyền ở Sự Nghiệp, Văn Xương hóa Khoa ở Huynh Đệ, Liêm Trinh hóa Kỵ ở Tử Nữ.
| Cung | Chi | Các sao chính trong ô |
|---|---|---|
| Mệnh | Dậu | Thiên Đồng (hóa Lộc), Thiên Việt, Địa Không, Phá Toái, Đại Hao |
| Phụ Mẫu | Tuất | Vũ Khúc, Thiên Diêu, Thiên Quý, Hoa Cái, Phi Liêm |
| Phúc Đức | Hợi | Thái Dương, Thiên Khôi, Thiên Tài |
| Điền Trạch | Tý | Phá Quân, Ân Quang, Thiên Phúc |
| Sự Nghiệp | Sửu | Thiên Cơ (hóa Quyền), Tả Phụ, Hữu Bật, Địa Kiếp, Hồng Loan, Quả Tú |
| Giao Hữu | Dần | Tử Vi, Thiên Phủ, Thiên Thương |
| Thiên Di | Mão | Thái Âm, Hỏa Tinh, Thiên Không, Thiên Thọ, Hàm Trì |
| Tật Ách | Thìn | Tham Lang, Đà La, Thiên Khốc, Phong Cáo, Thiên Sứ |
| Tài Bạch | Tỵ | Cự Môn, Lộc Tồn, Linh Tinh, Thiên Quan |
| Tử Nữ | Ngọ | Liêm Trinh (hóa Kỵ), Thiên Tướng, Văn Khúc, Dương Nhận, Thiên Hình, Long Trì, Tam Thai, Thiên Nguyệt |
| Phu Thê | Mùi | Thiên Lương, Thiên Hỷ |
| Huynh Đệ | Thân | Thất Sát, Văn Xương (hóa Khoa), Thiên Mã, Âm Sát, Phượng Các, Thai Phụ, Thiên Vu, Thiên Hư |
Thiên Đồng ngồi Mệnh: những nét tính đã được cuộc đời kiểm chứng
Đọc từng sao trên lá số rồi đặt cạnh những gì đã xảy ra trong đời, thấy mười lăm điều khớp nhau gần như từng chữ.
Thiên Đồng ngồi cung Mệnh. Người ấy dung mạo đầy đặn, mắt sáng thanh tú, khiêm tốn, bẩm tính ôn hòa, lòng từ mà thẳng thắn, văn chương tinh thông, có chí lạ mà không bốc đồng. Mô tả này rất hợp với Tôn Trung Sơn: thuở nhỏ đã lập chí lật đổ triều Thanh, đúng là “có chí lạ”. Cả đời không bốc đồng, tức là không nóng vội, không hành xử cực đoan, không liều lĩnh dồn cả vào một ván, không đầu cơ ăn may; trong hoàn cảnh nào ông cũng giữ được sự điềm tĩnh. Về “lòng từ mà thẳng”, ông không chỉ che chở đồng chí mà ngay với kẻ địch cũng rộng lượng: khi Trần Quýnh Minh phản biến, người khác ắt phải trừng trị, còn ông chỉ cần đối phương viết thư hối lỗi là bỏ qua chuyện cũ. Về “văn chương tinh thông”, ông không những giỏi tây y, tiếng Anh, mà còn viết các tác phẩm như Kiến quốc đại cương, Kiến quốc phương lược, Tam dân chủ nghĩa.
Thiên Việt cũng ngồi cung Mệnh. Câu đoán cho rằng người ấy thông minh, tuấn tú thanh bạch, có uy nghi, hiền mà oai võ, tiếng tăm vang xa, hòa mục với người. Những lời này cũng rất hợp với ông.
Địa Không, Địa Kiếp lâm Thân Mệnh. Tiếc rằng hễ việc sắp thành thì gặp thất bại, công sắp xong lại đổ vỡ; nên ông phải trải chín lần cách mạng thất bại.
Tiền của, chí lớn dang dở và những cung còn lại
Có người kiếm được rất nhiều, rồi lại để mọi thứ trôi hết về một việc lớn; lá số này đã viết sẵn điều đó ở cung Tài Bạch.
Song Lộc chầu cung. Cung Mệnh có Thiên Đồng hóa Lộc, cung Tài Bạch có Lộc Tồn chầu về, nên cả đời nguồn tiền không dứt. Cung Tài Bạch có Cự Môn ngồi giữ, chủ lấy miệng lưỡi mà sinh tài: ông cổ xúy cách mạng và quyên góp kinh phí đều nhờ tài ăn nói. Lộc Tồn ngồi cung Tài Bạch lẽ ra làm phú ông trăm triệu, tiếc là có Linh Tinh đồng cung nên tiền nhiều mà không tụ; ông đem toàn bộ của cải dâng cho cách mạng, đến lúc mất thì hai tay áo gió mát, không có tài sản riêng.
Tả Phụ, Hữu Bật ở cung Sự Nghiệp chiếu về Mệnh: phúc không nhẹ. Cung Sự Nghiệp có Thiên Cơ ngồi ở Sửu, mà người sinh năm Bính, Đinh, Mậu, Nhâm thì tiền tài và quan chức đều đẹp; thêm Tả Hữu thì văn là thanh hiển, võ là trung lương.
Liêm Trinh gặp Dương Nhận nên có chuyện kiện tụng, quan tòa (ông từng gặp nạn ở Luân Đôn). Tử Vi, Thiên Phủ ở cung Giao Hữu: một lời trăm người ứng, nên làm được lãnh tụ.
Cung Tật Ách có Đà La: bệnh ngầm kéo dài; ông có bệnh dạ dày, sau lại mắc ung thư gan mà mất. Cung Thiên Di có Thái Âm ở hãm địa: cả đời bôn ba lao lực, thêm Hỏa Tinh, mất ở nơi xa quê.
Thất Sát ngồi Thân: có mưu lược nhưng cũng trải nhiều gian khổ. Mệnh ở Dậu, theo câu cổ: người hòa nhã dễ gần, không thích khuấy chuyện thị phi, có tính nhẫn nại, khéo suy tính, đã quyết thì không đổi, lòng tốt, thích yên tĩnh, lúc thất ý hay thất bại biết tự an ủi.
Thiên Lương ngồi cung Phu Thê: vợ hiền thục, xinh đẹp; vì cung Thân có Hồng Loan, lại có Tả Phụ, Hữu Bật xung vào cung Phu Thê nên đã có hai lần hôn nhân. Những lời luận trên đều căn cứ vào Tử Vi Đẩu Số mà nói, không hề có ý ca tụng; xét cả cuộc đời ông, thực khớp từng nét, đủ thấy cái chuẩn của Tử Vi.
Lửa Xích Bích và giọt nước mắt của Gia Cát Lượng
Có những chiến thắng khiến người thắng phải khóc, vì đứng trên cánh đồng đầy xác chết ấy, họ hiểu mình đã vay một món nợ không trả bằng tiền.
Từ khi được Lưu Bị ba lần đến lều tranh mời ra giúp việc, Gia Cát Lượng dùng binh quen dùng hỏa công. Trận đầu là đốt gò Bác Vọng, kế đó đốt Tân Dã, rồi trận nổi tiếng nhất là hỏa thiêu Xích Bích; thảm khốc nhất là trận đốt ba vạn quân mặc giáp mây. Khi nhìn thấy xác nằm đầy đồng, mùi hôi xông lên tận trời, ông rơi lệ than rằng: “Ta tuy có công với xã tắc, ắt phải tổn thọ.”
Về sau ông bày quân ở Ngũ Trượng Nguyên, ăn ít việc nhiều, thân nhọc lòng lo, dần dần tích lao thành bệnh. Ông tinh thông phép cầu đảo, nếu may mắn thành công thì có thể kéo dài thọ thêm một kỷ, tức mười hai năm. Ông bày hương hoa lễ vật, rải bảy ngọn đèn lớn trên đất, xung quanh đặt bốn mươi chín ngọn đèn nhỏ, ở giữa đặt một ngọn đèn bản mệnh. Lời khấn của ông có đoạn:
Cúi mong trời thương xét, nghe thấu lời tôi, kéo dài số của thần, để trên đền ơn vua, dưới cứu mạng dân, khôi phục cõi cũ, giữ mãi nhà Hán; không dám cầu bậy, thực vì tình thiết tha.
Lòng trung với nước, thương dân tràn ra lời khấn, khiến người đọc cảm động. Ban ngày ông lo việc quân việc nước, ban đêm đi bộ cương đẩu, hết lòng cầu đảo. Một đêm, vì quân tình khẩn cấp, Ngụy Diên vội vàng xông vào, vô ý đạp vỡ ngọn đèn bản mệnh; Khương Duy đứng cạnh hộ pháp không cản kịp, trong lòng giận dữ rút gươm định chém. Gia Cát Lượng biết đó là ý trời, sức người không cứu được, nên ngăn lại: “Đó là mệnh ta nên dứt, không phải lỗi của Văn Trường.” Ông không muốn giết oan một người mà chất thêm một tầng tội nghiệt cho mình, bèn quăng gươm xuống đất, lặng lẽ buồn thương, chỉ còn cách im lặng nhận hình phạt của trời xanh và vội vàng sắp xếp việc sau này.
Đến đoạn này, truyện Tam Quốc còn thêm một câu thơ:
Muôn việc không do người làm chủ,
Một lòng khó đọ với số trời.
Đó thật là triết lý nhân sinh, nghìn xưa không dời.
Lá số Gia Cát Lượng và nỗi tiếc vì sát sinh quá nhiều
Lá số báo cho ông thọ sáu mươi sáu tuổi, nhưng ngôi sao mệnh của ông đã mờ đi từ năm năm mươi bốn.
Gia Cát Lượng sinh năm Tân Dậu, ngày mười tháng Tư, giờ Tuất. Lập thành lá số Tử Vi thì Tả Phụ, Hữu Bật đồng cung, mặt trời mặt trăng cùng sáng, châu ngọc chiếu hai bên, chủ người cả đời phú quý, nhiều tài nhiều năng, có thể hưởng thọ sáu mươi sáu tuổi. Đến năm năm mươi bốn tuổi tuy có cửa ải khó nhưng chưa chắc phải chết. Vì thế khi thấy sao mệnh của mình tối mờ, lung lay muốn rơi, thế cuộc không lành, ông mới nghĩ tới phép cầu đảo mong may mắn được trời thương; nếu không, ông biết trước mình sẽ chết năm năm mươi bốn tuổi thì cần gì làm thêm việc ấy.
Đáng tiếc cả đời ông sát sinh quá nhiều nên bị trời rút ngắn thọ: chính lúc đất nước cần người tài, cả nước trên dưới dựa vào ông nặng như núi, lại giữa đường qua đời, chí lớn chưa thành; chẳng trách khi ấy quân dân đất Thục gào khóc như mất cha mất mẹ, người đời sau bàn đến đoạn sử này cũng không khỏi rơi lệ ngậm ngùi.
Trời có đức hiếu sinh. Chiến tranh vốn tàn khốc, chết chóc khó tránh, nhưng chỉ vì cầu thắng mà lạm dụng hỏa công, sát sinh quá nhiều thì là phạm vào cơn giận của trời. Kinh Thánh nói: “Dù ngươi được cả thế gian mà mất mạng sống mình, thì có ích gì?” Phật nói: “Cứu một mạng người hơn xây bảy tầng tháp.” Người ở đời không chỉ phải cẩn trọng, đừng giết hại sinh mạng, mà còn phải tích cực giúp người cứu người; làm vậy ắt có quả lành, hoặc bản thân thêm phúc thêm thọ, hoặc ân đức che chở cho con cháu hưng thịnh, như câu “nhà tích thiện ắt còn thừa điều mừng”. Đó không phải mê tín, mà thực có triết lý sâu xa về vũ trụ và nhân sinh; mong người đời lấy đó làm gương, tự mình làm điều lành.
Nguồn: Phan Tử Ngư, Tử Vi Đẩu Số Kinh Điển.
