Bài tổng quan
Thiên Đồng Thủ Mệnh: Sáu Tinh Hệ Và Cổ Quyết Bát Hỉ Sao Lâu
Thiên Đồng cùng Thái Âm ở cung Tí, cả hai sao nhập miếu, nam nữ đều thu hút người khác giới, nên rất dễ rơi vào những mối tình rối rắm. Cùng Cự Môn ở Sửu Mùi, phúc tinh bị điều tiếng thị phi che lấp, phải chọn nghề cần tài ăn nói mới hóa giải được; cùng Thiên Lương ở Dần Thân thì phẩm đức cao thượng. Độc tọa ở Tị Hợi, thiếu phụ tá và sao lộc, người ấy dễ trọng hưởng thụ mà gặp nghịch cảnh thì buông xuôi. Cổ quyết cho rằng Thiên Đồng gặp Kình Dương, Đà La ở Ngọ, người sinh năm Bính, Mậu lại trấn giữ biên cương, còn Thiên Đồng Hóa Kị ở Tuất thì người sinh năm Đinh lại tốt. Một phúc tinh ưa an nhàn cần gì để phúc không hóa thành buông xuôi?
Mục lục · 8 phần
Thiên Đồng, Thái Âm Đồng Cung Mệnh
"Thiên Đồng, Thái Âm" đồng độ ở hai cung Tí hoặc Ngọ; ở cung Tí thì hai sao đều nhập miếu, ở cung Ngọ thì hai sao đều thất hãm, cho nên tính chất khác nhau.
"Thiên Đồng, Thái Âm" ở cung Tí, nam nữ đều có sức thu hút đối với người khác giới, mà bản thân cũng có biểu hiện dịu dàng, tỏ ra quan tâm đối với người khác giới. Thêm vào đó, Thái Âm thì tình cảm phong phú, Thiên Đồng bản chất ôn hòa lễ phép, nên rất dễ rơi vào tình huống tình cảm rối rắm. Nhất là nữ mệnh, "Thiên Đồng, Thái Âm" đóng ở cung mệnh, vốn chủ về giỏi trang điểm, thích chải chuốt, làm đẹp; nếu có thêm một hai sát tinh đồng độ, thì dung mạo xinh đẹp, nước da trắng, hình dáng nở nang, đầy đặn, nên dễ thu hút sự theo đuổi của người khác giới. Nếu cung phúc đức có "Thái Dương, Cự Môn", thêm Kình Dương, Đà La, thì rất dễ sa chân lỡ bước, dẫn đến bất lợi về nhân duyên.
Nếu ở cung thiên di có Kình Dương xung chiếu, nhờ Kình Dương kích phát, trái lại sẽ có thể vinh thân bằng võ nghiệp, thích hợp gia nhập quân đội hay cảnh sát hoặc công tác bảo an.
Thiên Đồng và Thái Âm tọa cung Ngọ, nếu gặp sát tinh, cổ nhân cho rằng chủ về "chi thể vàng vọt" và "nam nữ phiêu bồng". Đây là vì hai sao đều lạc hãm.
Nhưng nếu đồng thời có Kình Dương đồng độ, là đại cách "Mã đầu đới tiễn", chủ về nắm giữ binh quyền, lập chiến công nơi biên ải. Nhưng cần phải trải qua gian nan hiểm trở mới phú quý. Ở thời hiện đại, khó có cơ hội lập chiến công, nếu theo ngành công nghiệp, cũng có thể tay trắng làm nên; nhưng không được hội hợp thêm sát tinh khác mới hợp cách. Nếu gặp các sao sát, kị, thì đường đời nhiều gập ghềnh, bất đắc chí, mà thành tựu cũng không lớn bằng người hợp cách.
"Thiên Đồng, Thái Âm" an mệnh, ắt sẽ hội hợp với "Thiên Cơ, Thiên Lương", là cách cục "Cơ Nguyệt Đồng Lương". Do cung tài bạch mượn "Thái Dương, Cự Môn" hội hợp, nên thích hợp với những công việc mang tính phục vụ, như công chức, hoặc làm việc ở công ti lớn, đặc biệt còn lợi về những công việc có liên quan với người ngoại quốc, hoặc được người ngoại quốc đề bạt. Nếu "Lộc Quyền Khoa" hội hợp cung mệnh, còn "Thái Dương, Cự Môn" Hóa Kị gặp sao hình, thì có thể thành luật sư, hoặc làm việc ở ngành tư pháp, lập pháp.
Thiên Đồng Hóa Lộc, chủ về đời sống dung dị, sinh hoạt đầy tình ý, nhưng cũng làm tăng tình huống bối rối, khó xử. Nếu Thái Âm Hóa Lộc, thì Thiên Đồng tất cũng sẽ Hóa Quyền, Thiên Cơ cũng đồng thời Hóa Khoa, là đại cách "Cơ Nguyệt Đồng Lương", có thể thành nhân vật chính yếu hoặc đầu não của công ti.
Thiên Đồng Hóa Quyền thì tốt hơn Hóa Lộc, sẽ khiến Thiên Đồng và Thái Âm chịu sự kích phát, sự nghiệp càng dễ phát triển, đường đời cũng bằng phẳng hơn. Nhưng nếu Thái Âm Hóa Quyền, tuy khiến cho mệnh tạo có nhiều nội tài, giỏi quyền biến, nhưng sự nghiệp một đời cũng nhiều biến động. Nữ mệnh gặp nó, cần phải chủ động xử lí vấn đề tình cảm.
Thiên Đồng Hóa Kị, tốt nhất là ở hai cung Tí hoặc Ngọ. Thái Âm cũng không sợ Hóa Kị ở cung Tí; chỉ khi Hóa Kị ở cung Ngọ thì nam nữ đều bất lợi về người thân phái nữ, nhưng lại có thiên tài đặc biệt về toán lí, khoa học kĩ thuật.
Thiên Đồng không ưa gặp Hóa Khoa, nếu gặp thêm sao văn, thì dễ bị đau khổ vì tình. Nhưng xét ở phương diện khác, lại rất thích hợp theo ngành giáo dục, sự nghiệp văn hóa, nghiên cứu học thuật, ắt sẽ có thành tựu.
"Thiên Đồng, Thái Âm" ở cung mệnh của đại hạn hay lưu niên, chủ về sự nghiệp có thay đổi theo hướng tốt; nếu gặp sao cát, thì động tĩnh đều được; gặp tứ sát, Địa Không, Địa Kiếp, thì trước phá bại sau thành tựu.
Thiên Đồng, Cự Môn Đồng Cung Mệnh
"Thiên Đồng, Cự Môn" đồng độ ở hai cung Sửu hoặc Mùi; Cự Môn là điều tiếng thị phi, vì vậy Thiên Đồng đồng độ với nó không thể phát huy ưu điểm. Về ngành nghề thích hợp thì nên chọn những công việc cần đến tài ăn nói. Nữ mệnh thì có thể làm thầy dạy trang điểm, làm tóc, cắm hoa, nấu ăn, tức công việc truyền thụ các môn học có tính hưởng thụ. Nếu theo các ngành nghề có tính chất khác sẽ rất dễ xảy ra điều tiếng.
"Thiên Đồng, Cự Môn" cần phải hội hợp Văn Xương, Văn Khúc, hay Thiên Khôi, Thiên Việt, hoặc Tả Phụ, Hữu Bật; hoặc Tả Phụ, Hữu Bật giáp cung mệnh còn Thiên Khôi, Thiên Việt hội chiếu; thì có thể phú quý. Nên làm công chức, giáo chức, hoặc làm cho các công ti dịch vụ; cũng có thể theo ngành quảng cáo hoặc quảng bá (nhất là phát thanh viên, ca sĩ). Nhưng tuổi trẻ cũng khó tránh đường đời nhiều gập ghềnh, bất đắc chí, vất vả, cần phải siêng năng, phấn đấu mới có được thành tựu.
"Thiên Đồng, Cự Môn" đóng ở cung mệnh, có một cách cục đặc thù là người sinh năm Đinh, đồng cung với Địa Kiếp. Vì người sinh năm Đinh, Kình Dương ở cung Mùi, tức có Kình Dương và Địa Kiếp đồng cung hoặc hội chiếu. Do cung tài bạch vô chính diệu, phải mượn "Thái Dương, Thiên Lương" của đối cung, nên toàn kết cấu của tinh hệ sẽ biến thành "Thiên Đồng, Cự Môn, Thái Dương, Thiên Lương, Thiên Cơ, Kình Dương, Địa Kiếp"; ngành nghề thích hợp là công tác xã hội, giáo dục, hoặc quảng cáo, quảng bá, v.v... cũng có thể trở thành nhân vật lãnh đạo. Nếu cung mệnh có sao đào hoa hoặc sao văn, thì có thể theo ngành biểu diễn âm nhạc, hoặc thành danh trong giới văn hóa.
Ngoài còn có một cách cục lạ khác là, an mệnh ở cung Mùi, vô chính diệu, mượn "Thiên Đồng, Cự Môn" của cung Sửu để nhập cung, gọi là cách cục "Minh châu xuất hải" (nếu cung Sửu vô chính diệu, mượn "Thiên Đồng, Cự Môn" của cung Mùi thì không đúng cách). Cổ nhân cho rằng "Minh châu xuất hải thì tiền tài quan lộc đều đẹp" (明珠出海,财官双美 Minh châu xuất hải, tài quan song mĩ).
Các sao của cung này được Thái Âm và Thái Dương hội chiếu, lại có Thiên Lương ảnh hưởng đến tính chất của Cự Môn, biến "điều tiếng thị phi, tranh chấp kiện tụng" thành "thảo luận nghiên cứu học thuật" (thảo luận nghiên cứu học thuật thực ra cũng là một dạng "tranh tụng", cổ nhân gọi là "tự tụng", vì muốn nghiên cứu sâu một môn học bạn cần phải làm một cuộc giao tranh giữa cái tôi ngày hôm nay với cái tôi ngày hôm qua mới có tiến bộ). Mang tính chất của tinh hệ này ra vận dụng một cách thỏa đáng, sẽ có tiếng tăm rõ ràng. Nếu "Minh châu xuất hải" lại gặp Tả Phụ, Hữu Bật giáp cung Sửu hoặc cung Mùi, gặp "Văn Xương, Văn Khúc", "Thiên Khôi, Thiên Việt", cách cục càng đẹp; người sinh năm Ất, Đinh, Tân, Quý càng hay, sự nghiệp rất lớn.
Thiên Đồng Hóa Lộc, làm tăng tính hưởng thụ; Cự Môn Hóa Lộc, làm tăng thu nhập. Nếu Thiên Đồng Hóa Quyền, tất nhiên sẽ gặp Thiên Cơ Hóa Khoa và Cự Môn Hóa Kị, tuy cải thiện tình trạng hôn nhân, nam có vợ hiền đức, nữ có chồng tài giỏi, nhưng bản thân lại bị nhiều điều tiếng thị phi. Cự Môn Hóa Quyền thì làm tăng sức thuyết phục, hơn nữa tính chất điều tiếng thị phi sẽ giảm thiểu. Nếu thuộc cách cục "Minh châu xuất hải" mà Cự Môn Hóa Quyền, là người điều khiển chương trình ưu tú, hoặc là nhân tài trong lãnh vực pháp luật. Thiên Đồng Hóa Kị thì làm tăng vất vả.
Cung mệnh của đại hạn hoặc lưu niên gặp "Thiên Đồng, Cự Môn", cũng chủ về vất vả và thị phi; gặp các sao sát, hình, kị hội chiếu thì càng tệ. Có các sao phụ tá cát phò trợ, nếu gặp "Minh châu xuất hải", ắt sẽ xảy ra tình hình dời đổi có lợi, hoặc phúc lộc hỉ khánh (chuyện mừng) cùng đến.
Thiên Đồng, Thiên Lương Đồng Cung Mệnh
"Thiên Đồng, Thiên Lương" đồng độ ở hai cung Dần hoặc Thân, cũng thuộc cách cục "Cơ Nguyệt Đồng Lương". Nhưng "viên thư lại" trong câu "Cơ Nguyệt Đồng Lương làm viên thư lại" (机月同梁作吏人 Cơ Nguyệt Đồng Lương tác lại nhân) phải thuộc người tốt chứ không phải người xấu. Bởi vì hai sao này đồng cung đều chủ về phẩm đức cao thượng, tâm tính ôn hòa thiện lương, dù có sát tinh cũng chỉ chủ về cuộc đời nhiều khó khăn cần phải hóa giải mà thôi, chứ chẳng chủ về phẩm cách xấu xa.
"Thiên Đồng, Thiên Lương" ưa gặp sao phụ tá cát, nhưng lại không ưa Lộc Tồn, Hóa Lộc và Thiên Mã. Người không có Lộc Tồn, Thiên Mã có thể theo ngành văn hóa, quảng bá, quảng cáo, cũng thích hợp công tác phục vụ xã hội. Người có Lộc Tồn, Thiên Mã thích hợp theo ngành giải trí; có điều dễ xảy ra tình cảnh ghi lòng tạc dạ người khác giới, nhưng lại không thể kết hợp tình yêu.
Thiên Đồng Hóa Lộc hoặc Thiên Lương Hóa Lộc, dễ làm tăng tình huống bối rối khó xử và vô vị về tình cảm; bất lợi nhất là nữ mệnh, sẽ dễ biến thành đau khổ vì tình. Nhưng lại chủ về sự nghiệp tiến triển, kinh qua một phen tôi luyện, sẽ phát đạt đột ngột. Thiên Đồng Hóa Quyền hoặc Thiên Lương Hóa Quyền cũng chủ về tình cảm rối rắm, mà còn bận rộn, vất vả mà chẳng có chuyện gì đáng; về ngành nghề thích hợp, thích hợp công việc mang tính phục vụ. Thiên Lương Hóa Khoa, thì nên theo ngành văn hóa, hoặc diễn viên, minh tinh điện ảnh, vì dễ được biết tên tuổi và thích hợp lộ diện; nhưng Hóa Khoa còn chủ về làm tăng rắc rối về tình cảm.
Nếu Thiên Đồng Hóa Kị, lại gặp sao hình, nên theo ngành nghề giám sát, kỉ luật; nhưng lại chủ về nam nữ đều hôn nhân bất lợi.
Đại hạn hay lưu niên gặp "Thiên Đồng, Thiên Lương" có Địa Không, Địa Kiếp cùng tụ tập với các sao sát, hình, hao thì chủ về tai nạn, bệnh tật, dính dáng đến pháp luật, hoặc thậm chí có hình khắc lục thân, công ti phá sản; gặp sao phụ tá cát thì có nhiều cơ hội mới, còn chủ về tăng thêm người, niềm vui tới tấp. Nếu gặp các sao đào hoa, thì nảy sinh tình yêu kì lạ.
Thiên Đồng Độc Tọa Cung Mệnh Mão Dậu
Thiên Đồng độc tọa ở hai cung Mão hoặc Dậu, đối cung là Thái Âm, tính chất cơ bản tương đồng với "Thiên Đồng, Thái Âm" đồng độ; nhưng không nên có Kình Dương đồng độ, chủ về thân thể tổn thương, tàn tật.
Nếu gặp Thiên Khôi, Thiên Việt, Văn Xương, Văn Khúc, thì yêu thích văn nghệ; lại gặp thêm các sao đào hoa, thì nên theo ngành nghệ thuật biểu diễn, thích hợp nhất là biểu diễn ca nhạc.
Thiên Đồng ở cung Mão, cung Dậu ưa gặp sao lộc, bất kể Lộc Tồn hay Hóa Lộc, đều chủ về cảnh ngộ đời người bình yên thuận lợi, có thể nhàn nhã, thong dong.
Nữ mệnh tuy ưa làm đẹp, trang điểm, nhưng tình cảm không dễ rơi vào tình cảnh bối rối khó xử. Có điều, nếu các sao đào hoa đồng độ ở cung mệnh, ắt sẽ xảy ra chuyện ong bướm.
Thiên Đồng Hóa Lộc, có thể làm tăng hưởng thụ tài lộc; Hóa Quyền thì sự nghiệp có biểu hiện tốt; Hóa Khoa làm tăng danh tiếng, rất thích hợp theo nghề biểu diễn. Nữ mệnh Thiên Đồng Hóa Khoa ở hai cung Mão hoặc Dậu, diễm lệ dị thường.
Cung mệnh của đại hạn hoặc lưu niên có Thiên Đồng độc tọa ở Mão hoặc Dậu, chủ về cuộc sống bình đạm. Nếu Thiên Đồng Hóa Kị thì có sửa sang hay chuyển dời nhà ở, nơi làm việc. Có các sao sát, kị, hình tụ tập đủ, thì vì hưởng lạc, biếng nhác mà chuốc họa; nếu có thêm sao đào hoa thì nên đề phòng bệnh đường sinh dục; không có sao đào hoa thì đề phòng bệnh về "can khí".
Thiên Đồng Độc Tọa Cung Mệnh Thìn Tuất
Thiên Đồng độc tọa ở hai cung Thìn hoặc Tuất, đối cung ắt sẽ có Cự Môn đến chiếu; về tính chất cơ bản thì tương đồng với "Thiên Đồng, Cự Môn" đồng độ, chủ yếu là điều tiếng thị phi. Cách hóa giải là làm các ngành nghề có tính chất miệng lưỡi, như giáo sư, bán hàng, chào hàng, quan hệ công cộng, quảng bá, quảng cáo. Nhưng kết cấu tinh hệ kiểu này còn là biến cách "Cơ Nguyệt Đồng Lương đối Cự Môn", vẫn mang sắc thái phục vụ xã hội hay làm công chức; nên tuy Hóa Lộc hay gặp Lộc Tồn, vẫn không nên theo ngành kinh doanh buôn bán.
Rất ưa người sinh năm Đinh, cổ nhân nói "Thiên Đồng cung Tuất là phản bối, người sinh năm Đinh hóa cát là chủ về đại quý" (天同戌宫为反背,丁人化吉主大贵 Thiên Đồng Tuất cung vi phản bối, Đinh nhân hoá cát chủ đại quý), thực ra ở cung Thìn cũng vậy.
Người sinh năm Đinh ở cung Thìn, là hội hợp với Thiên Đồng Hóa Quyền, Thái Âm Hóa Lộc, Thiên Cơ Hóa Khoa, Cự Môn Hóa Kị. Nếu làm việc trong chính giới hay trong công ti lớn, chủ về nhờ trải qua gian khổ mà thành tựu rất cao; dù có thêm sát tinh, cũng có thể theo ngành giáo dục, văn hóa, tất sẽ danh lợi cùng đến.
Thiên Đồng độc tọa ở cung Tuất, ngoại trừ có Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, Hóa Kị tụ tập đủ; Thiên Lương còn được Lộc Tồn đồng độ, nên cảnh ngộ thời kì đầu của đời người gian khổ hơn người an mệnh ở cung Thìn, nhưng sau trung niên thành tựu sẽ hơn hẳn người an mệnh ở cung Thìn. Đây là loại mệnh cục "hết cơn bĩ cực đến hồi thái lai".
Nữ mệnh Thiên Đồng độc tọa, tình huống rắc rối khó xử về mặt tình cảm không nặng bằng trường hợp "Thiên Đồng, Cự Môn" đồng độ; dù gặp sát tinh, có xảy ra đau khổ vì tình thì cuối cùng cũng nhờ những biến thiên trong cuộc đời mà được kết hợp chính thức.
Các tính chất còn lại của bản cung, và vận trình đại hạn hay lưu niên, bạn đọc có thể tham khảo thêm ở tiết "Thiên Đồng, Cự Môn".
Thiên Đồng Độc Tọa Cung Mệnh Tị Hợi
Thiên Đồng độc tọa ở hai cung Tị hoặc Hợi, đối cung ắt là Thiên Lương. Cho nên tính chất cơ bản tương đồng với "Thiên Đồng, Thiên Lương".
Thiên Đồng rất ưa ở cung Hợi, kế đến là cung Tị, có thể làm cho mệnh tạo một đời được hưởng thụ nhiều. Nhưng nếu không có sao phụ tá cát đến hội chiếu, lại không gặp sao lộc, có khả năng sự nghiệp sẽ bình thường, thu nhập trung bình, nhưng lại là người xem trọng hưởng thụ, tiền bạc không đủ để chi cho việc hưởng lạc, ở vào thuận cảnh thì còn được, một khi gặp nghịch cảnh, có thể trở thành người buông xuôi theo định mệnh, ảnh hưởng sự nghiệp một đời.
Cho nên "Thiên Đồng, Thiên Lương" đồng cung, do tâm lí hưởng thụ không mạnh bằng người Thiên Đồng độc tọa ở hai cung Tị hoặc Hợi, nhờ vậy cũng ít sắc thái xa cách người thân, lưu lạc phóng đãng hơn người Thiên Đồng độc tọa ở hai cung Tị hoặc Hợi.
Thiên Đồng độc tọa ở bản cung, không sợ gặp sát tinh. Cổ nhân nói: "Phúc tinh độc tọa, gặp sát tinh trái lại sẽ tốt hơn", là nói tinh hệ này nhờ sát tinh mà giảm bớt bản chất hướng lạc của Thiên Đồng, khiến đời người tăng thêm sức mạnh và chí tiến thủ. Tổ hợp tinh hệ tốt nhất là: Thiên Khôi, Thiên Việt, Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phụ, Hữu Bật hội hợp, hơi gặp một hai sát tinh trong số Hỏa Tinh, Linh Tinh, Kình Dương, Đà La, Địa Không, Địa Kiếp, thì trái lại, sẽ kích phát tiềm lực, chủ về quý hiển. Thiên Đồng mà Hóa Lộc thì vừa quý vừa phú; thích hợp làm việc cho chính phủ, hoặc công ti có tính phục vụ, có thể thành chủ quản hành chính. Nếu Thiên Lương ở đối cung, và có Thiên Hình, Kình Dương hội chiếu cung mệnh, thì làm bác sĩ ngoại khoa, bác sĩ nhi khoa là rất hợp.
Nhưng Thiên Đồng ở cung Hợi, lại rất sợ Hóa Kị; nếu gặp các sao sát, hình, Địa Không, Địa Kiếp, nhiều từ bốn sao trở lên, cổ nhân gọi là "mệnh nô tì". Cổ nhân còn nói: "Thiên Đồng ở cung Hợi, rất sợ sao kị, nam nữ đều là nô tì" (天同在亥,最畏忌星曜,男女奴婢 Thiên Đồng tại Hợi, tối úy Kị tinh diệu, nam nữ nô tì), đây là nói về kết cấu tinh hệ kiểu này.
Thiên Đồng an mệnh ở cung Tị là khá tốt, có sao phụ tá cát hóa giải càng đẹp. Nhưng bất kể an mệnh ở cung Tị hay cung Hợi, nếu gặp các sao sát, hình, hung, nhiều từ bốn sao trở lên, thì phần nhiều suốt đời tàn tật, hoặc chủ về cô độc và hình khắc.
Nữ mệnh Thiên Đồng tọa ở hai cung Tị hoặc Hợi, chủ về trán cao mũi thẳng, cơ thể đầy đặn vừa phải, dung mạo xinh đẹp, nên dễ được người khác giới theo đuổi, sau kết hôn vẫn có nhiều người theo dụ dỗ, nếu sa chân lỡ bước, suốt đời hôn nhân bất hạnh.
Về tính chất của hóa diệu và cát hung của đại vận hay lưu niên, bạn đọc có thể tham khảo ở tiết "Thiên Đồng, Thiên Lương".
Cổ Quyết Bát Hỉ Sao Lâu Về Sao Thiên Đồng
Sáu tinh hệ cho thấy phúc tinh ôn hòa chịu ảnh hưởng rất mạnh từ sao đồng cung, đối cung; cổ quyết lại ghi những trường hợp nghịch lí, nơi sát tinh và Hóa Kị trái lại làm nên thành tựu.
天同会吉寿元长。
Thiên Đồng hội cát thọ nguyên trường.
Dịch nghĩa: Thiên Đồng gặp sao cát, chủ về sống thọ. (Xem hình 178, 179)
Chú giải: Trường hợp gặp Lộc Tồn là tốt nhất; gặp Văn Xương, Văn Khúc thì chưa chắc.


天同羊陀居午位,丙戌人镇御边疆。
Thiên Đồng Dương Đà cư Ngọ vị, Bính Mậu nhân trấn ngự biên cương.
Dịch nghĩa: Thiên Đồng, Kình Dương, Đà La ở cung Ngọ, người sinh năm Bính, Mậu chủ về trấn giữ biên cương. (Xem hình 180, 181, 182)
Chú giải: Đây là cách "Mã đầu đới kiếm".



同月陷宫加煞重,技艺,赢黄。
Đồng Nguyệt hãm cung gia sát trọng, kĩ nghệ, luy hoàng.
Dịch nghĩa: Thiên Đồng, Thái Âm ở cung hãm có thêm sát tinh nặng, chủ về làm nghề để sống, thân thể vàng vọt gầy yếu, khốn khó.
Chú giải: "Thiên Đồng, Thái Âm" gặp sát tinh nặng, chủ về là thợ thuyền, mà còn mắc nhiều bệnh. Ở cung Ngọ lạc hãm thì đương nhiên, ở cung Tí cũng có khuynh hướng này, gặp sao Kị thì càng đúng.
天同戌宫化忌,丁人命遇反为佳。
Thiên Đồng Tuất cung hóa kị, Đinh nhân mệnh ngộ phản vi giai.
Dịch nghĩa: Thiên Đồng ở cung Tuất Hóa Kị, người sinh năm Đinh có nó thủ mệnh lại tốt.
Chú giải: Ở đây có chỗ sai lầm. Thiên Đồng ở cung Tuất, người sinh năm Đinh thì Cự Môn Hóa Kị ở cung Thìn, mới là cách cục "phản bối".
女命天同必是贤。
Nữ mệnh Thiên Đồng tất thị hiền.
Dịch nghĩa: Nữ mệnh Thiên Đồng ắt sẽ là vợ hiền.
Chú giải: Ở đây luận chưa chính xác. Nếu "Thiên Đồng, Cự Môn", thì chủ về phần nhiều gặp tình huống rắc rối khó xử về tình cảm. Hơn nữa, nếu Thiên Đồng hóa cát ở hai cung Tị hoặc Hợi, nữ mệnh tuy đẹp nhưng dâm.
Cốt Tủy Của Sao Thiên Đồng
Thiên Đồng là phúc tinh ôn hòa, ưa hưởng thụ. Gặp Thái Âm thì nặng về tình cảm; gặp Cự Môn thì phải hóa giải thị phi bằng nghề miệng lưỡi; gặp Thiên Lương thì thiên về phẩm đức, phục vụ xã hội. Thiếu sao phụ tá cát và sao lộc, phúc tinh dễ biến thành tính buông xuôi khi gặp nghịch cảnh.
Cổ quyết cho thấy Thiên Đồng nhiều khi cần được kích phát: Kình Dương, Đà La ở Ngọ với người sinh năm Bính, Mậu; Hóa Kị ở Tuất với người sinh năm Đinh đều thành cách tốt. Khi luận, cần xét sao kích phát ấy có đi cùng sao cát hay không, rồi mới định phúc dày hay mỏng.
Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tam Hợp Phái
