Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Tam Hợp Phái

Bài tổng quan

Tính Tình Thiên Đồng, Liêm Trinh, Thiên Phủ, Thái Âm Và Tham Lang

Tử Vi Nam Phái - Tam Hợp Phái17/09/202617 phút đọc6 lượt đọc
Tính Tình Thiên Đồng, Liêm Trinh, Thiên Phủ, Thái Âm Và Tham Lang

Cùng là chính diệu, có sao nghiêng về hưởng thụ, có sao nghiêng về tình cảm, có sao nghiêng về tích trữ. Thiên Đồng là sao phúc, ví như vị thần coi yến tiệc của hoàng đế; khuyết điểm là lãng phí và nhu nhược, và không hẳn ở mười hai cung đều là phúc. Liêm Trinh là đào hoa thứ, trọng tình, phóng túng; gặp Văn Xương, Văn Khúc thì hóa thành phong lưu nghệ thuật. Thiên Phủ như người giữ kho bạc, quản lý tiền chứ không kiếm tiền, rất ưa gặp Lộc. Thái Âm hóa khí thành phú, cùng Thái Dương thành cặp vừa tương đồng vừa tương dị. Tham Lang là đào hoa dương cương, đa tài đa nghệ; gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh thì tài lộc đột phá, còn thuyết suốt đời trộm cắp như chuột cần xử lý thận trọng.


Tính Tình Thiên Đồng

Thiên Đồng miếu ở ba cung Mão, Tị, Hợi; hãm ở ba cung Sửu, Ngọ, Mùi.

Thiên Đồng là sao thứ tư của Nam Đẩu, thuộc dương thủy, hóa khí là "phúc".

Trong Đẩu Số, Thiên Đồng được ví là vị thần chuyên trông coi việc ăn uống, sắp xếp yến tiệc cho hoàng đế, vì vậy đặc tính của nó là hưởng thụ, khuyết điểm là lãng phí và nhu nhược.

Có một khái niệm khá phổ biến, cho rằng "Thiên Đồng ở trong 12 cung đều là phúc trạch", thực ra không phải vậy. Theo Vương Đình Chi, thậm chí có thể nói, Thiên Đồng ở 12 cung đều có khuyết điểm.

Nói về cung mệnh, người có Thiên Đồng thủ mệnh, cát thì chủ về khiêm tốn, thông minh mẫn tiệp, phong thái cao thượng thanh nhã; nếu hung thì chủ về chìm đắm trong dục lạc, hay do dự, thiếu quyết đoán, hoặc chỉ có kế hoạch tốt mà không thực hiện.

Thiên Đồng úy kị tính cứng rắn, hình khắc của Hỏa Tinh và Linh Tinh, nhưng lại không sợ Kình Dương. Đồng độ hoặc hội hợp với Kình Dương ở cung Ngọ, gọi là "Mã đầu đới tiễn", trái lại, sẽ chủ về có thể nắm đại quyền trong quân đội hay cảnh sát.

Thiên Đồng ở cung Hợi không ưa Hóa Kị. Nếu can của cung Hợi Hóa Kị, lại hội tứ sát Địa Không, Địa Kiếp và Thiên Hình, thì chủ về hình khắc cô độc, hoặc bị tai nạn bệnh tật làm tổn thọ.

Rất ưa tọa cung Tuất, gặp Cự Môn Hóa Kị ở đối cung (tức cung Thìn), gọi là "phản bối"; được Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc hội hợp, là hết cơn bĩ cực đến hồi thái lai, biến thành mệnh đại quý.

Nữ mệnh Thiên Đồng, cuộc sống thường sung túc, nhưng dễ cảm thấy tinh thần trống rỗng. Cho nên cổ nhân cho rằng "nữ mệnh Thiên Đồng cư Tị Hợi nhập miếu, thì đẹp mà dâm". Luận đoán này là suy diễn ra từ tính chất tinh thần trống rỗng. Ở phương diện sự nghiệp hoặc phương diện sở thích, nếu có thể làm cho sinh hoạt tinh thần trở nên phong phú thì vẫn tránh được, đời sống hôn nhân sẽ được vui vẻ.

Phàm Thiên Đồng đóng ở cung mệnh, hoặc ở cung phúc đức, chỉ cần không có Hóa Kị, phần nhiều chủ về có tài năng âm nhạc, hoặc ưa thích cái đẹp, do đó chẳng khó tìm nơi để kí thác về phương diện tinh thần.

Bất kể nam nữ, nếu Thiên Đồng thủ mệnh, gặp sao sát, hình thì trái lại, có thể có năng lực khai sáng, mà không sầu muộn về phương diện tinh thần. Nếu chỉ gặp sao cát mà không gặp các sao sát, hình, thì trái lại, dễ chìm đắm trong lạc thú, trở thành phóng đãng. Đây giống như thời xưa, hoàng đế không có trung thần can gián, lại không gặp họa loạn, dễ vì lời sàm tấu của nịnh thần mà biến thành hôn quân.

Tính Tình Liêm Trinh

Liêm Trinh miếu ở ba cung Dần, Mùi, Thân; hãm ở hai cung Tị, Hợi.

Liêm Trinh là sao thứ năm của Bắc Đẩu, ở ngũ hành thì thuộc âm hỏa. Là sao "đào hoa thứ" trong Đẩu Số, hóa khí làm "tù". Về tính cách, chủ về thông minh mẫn tiệp, bại thì tà ác.

Về phương diện tính cách, người có Liêm Trinh thủ mệnh phần nhiều trọng tình cảm, thiếu lí trí, cho nên là người có phong độ, nhưng lại phóng túng, tận tình. Đây là tính chất cơ bản của sao "đào hoa thứ".

Do tính chất "đào hoa", nên Liêm Trinh rất ưa Văn Xương, Văn Khúc. Bởi vì lúc sao văn tương hội với đào hoa, tính chất đào hoa lập tức biến thành nhàn nhã, không chìm đắm trong nhục dục, có thể hóa giải thành thú phong lưu thơ rượu, hoặc chuyển hóa thành lực sáng tạo trong nghệ thuật. Văn học nghệ thuật phần nhiều mang sắc thái tình yêu, đây là đạo hóa giải. Trên thực tế, phàm là người có Liêm Trinh thủ cung mệnh, phần nhiều cũng yêu thích mĩ thuật, có khuynh hướng về thư họa; nếu không, cũng sẽ có cảm thụ khá đặc biệt về thưởng ngoạn, nhất là lúc hội hợp với Tham Lang thì càng đúng.

Nếu không gặp sao văn, mà chỉ hội hợp với các phụ diệu trong Đẩu Số như Thiên Khôi, Thiên Việt, Tả Phụ, Hữu Bật, trái lại sẽ dễ làm tăng tính hay lúng túng khó xử của Liêm Trinh, dẫn đến tiến thoái bất an.

Lực đề kháng của Liêm Trinh đối với tứ sát Hỏa Tinh, Linh Tinh, Kình Dương, Đà La, rất yếu. Cho nên hễ Liêm Trinh đóng ở cung mệnh thì cần phải không gặp tứ sát, mới nên chuyện. Nhất là ở hai cung Tị hoặc Hợi, gặp tứ sát thì chủ về bôn ba tứ hải; nếu gặp thêm Thiên Hình, Đại Hao, Hóa Kị, càng chủ về sống chết ở tha hương.

Liêm Trinh là sao có tính chất biến hóa rất phức tạp, tuy có thuyết "đào hoa thứ", nhưng lại không chắc chắn là "mệnh đào hoa", hoặc có tính cách dâm đãng. Chỉ có một tính chất cơ bản có thể khẳng định, đó là người này tất sẽ có chút lẳng lơ và dí dỏm, nhưng nội tâm lại chủ quan cực mạnh, không dễ chiều theo ai.

Tham Lang là "đào hoa chính", Liêm Trinh là "đào hoa thứ", cùng thuộc đào hoa, nhưng người Tham Lang thủ mệnh lại khéo ăn khéo ở, khác với Liêm Trinh hơi có chút trôi nổi. Chỗ khác nhau này cần phải phân biệt rõ.

Liêm Trinh tuy dí dỏm nhẹ nhàng, trong giao tế hơi có chút hài hước, nhưng do có tính chất chủ quan mạnh, cho nên không thể thấy anh ta dí dỏm nhẹ nhàng rồi lấy đó để bàn công việc. Trên thực tế anh ta rất có thể là một người có tính "làm việc theo nguyên tắc". Lúc hội hợp Địa Không, Địa Kiếp, tính chất này càng rõ rệt, cho nên thích hợp theo đuổi công việc nghiên cứu về phương diện khoa học kĩ thuật, bởi vì công trình khoa học kĩ thuật rất cần ngăn nắp thứ tự.

Liêm Trinh đóng ở cung mệnh cũng thích hợp làm về kiến trúc, bởi vì công trình kiến trúc có mang ý vị nghệ thuật.

Liêm Trinh rất ngại Hóa Kị, chủ về bệnh tật máu mủ. Nó cư cung mệnh, cung tật ách và cung thiên di, đều có ảnh hưởng đến vận trình của người đó.

Tính Tình Thiên Phủ

Thiên Phủ miếu ở sáu cung Tí, Sửu, Dần, Thìn, Mùi, Tuất; hãm ở cung Dậu.

Thiên Phủ là chủ tinh của Nam Đẩu, thuộc dương thổ, chủ về hiền năng, là tiền bạc của kho phủ.

Do là chủ tinh nên Thiên Phủ cũng có năng lực lãnh đạo, nhưng tài lãnh đạo này lại theo khuynh hướng thủ thành, thiếu tính khai sáng. Đây giống như người giữ kho bạc, chức trách của ông ta là "quản lí tài chính" chứ không phải "kiếm tiền", cho nên phải làm việc cẩn thận, khi làm việc thường có biểu hiện tỉ mỉ; chớ không rộng rãi như Tử Vi, cũng không phóng khoáng như Thái Dương. Cùng là chủ tinh nhưng có sự phân biệt, bạn đọc cần chú ý.

Vì vậy, người có Thiên Phủ thủ mệnh, chỉ thích hợp phát triển ở cục diện đã có sẵn, thiếu cái nhìn bao quát, cũng không có kiến giải riêng, không có lập trường riêng, có biểu hiện là một chủ quản xứng đáng với chức vụ. Do có tính chất "kho phủ", nên người có Thiên Phủ thủ mệnh khá "thương tiền", cẩn thận, vững vàng, luôn cố tìm sự ổn định. "Kho phủ" không có năng lực kiếm tiền, chỉ có thể giữ tiền và sử dụng tiền bạc, do đó Thiên Phủ rất ưa gặp Lộc. Bất kể là hội hợp với Lộc Tồn hay Hóa Lộc, đều có thể làm tăng cách cục chiếm lợi, trở thành giàu có.

Thiên Phủ cũng ưa hội hợp với Thiên Khôi, Thiên Việt, Tả Phụ, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc, như vậy có thể khiến cho người này có kiến giải riêng, đồng thời cũng làm tăng khí thế lãnh đạo của họ.

Thiên Phủ cũng ưa Tả Phụ, Hữu Bật giáp cung; Long Trì, Phượng Các giáp cung; chủ về người hiền hậu, vững vàng, giỏi giang, cẩn thận, giỏi tính toán, đủ sức đảm nhiệm chức vụ cao.

Người có Thiên Phủ thủ mệnh không ưa gặp tứ sát. Nếu không gặp Lộc mà chỉ gặp tứ sát, thì không thích hợp với tính chất "kho tiền", khó tránh giở thủ đoạn gian xảo để kiếm tiền.

Giả dụ Thiên Phủ gặp tứ sát, đồng thời còn hội hợp với Văn Xương, Văn Khúc, có thể là người giàu có thanh nhã; bởi vì Văn Xương và Văn Khúc chủ về giỏi văn bút, kiêm giỏi biện luận, tuy hơi xảo quyệt nhưng cũng không mất phong thái là văn nhân nho sĩ. Nhưng nếu Văn Xương hoặc Văn Khúc Hóa Kị, thì đây là tinh hệ "Thiên Phủ gặp sát tinh, hội hợp với Văn Xương, Văn Khúc", kết cấu càng lớn càng giảm sắc, người này dễ trở thành hàn nho, bụng đầy lời oán trách, tự cho mình có tài mà không gặp thời.

Thông thường, Thiên Phủ không nên độc tọa, bởi vì quan giữ kho tiền không nên cô độc, cô độc thì dễ thành người mắt thấy tiền thì lòng mưu toan. Nếu độc tọa mà không có sao cát, hội tứ sát, thì biến thành xảo trá, mưu mô. Cũng không nên gặp sao không, chủ về sống cô lập, không có cứu viện. Nếu Thiên Phủ độc tọa, gặp sao không và Thiên Diêu, chủ về người này đầy âm mưu thủ đoạn.

Thiên Phủ và Thiên Tướng, là một cặp "sao đôi" quan trọng trong Đẩu Số; cho nên cổ nhân có thuyết "phùng Phủ tầm Tướng", "phùng Tướng tầm Phủ".

Do là "sao đôi", cho nên "Phủ Tướng triều viên" có thể thành cách cục, "Tử Phủ triều viên" thì rất khiên cưỡng. Tức là, do Thiên Phủ, Thiên Tướng có quan hệ "sao đôi", còn Tử Vi, Thiên Phủ thì không phải "sao đôi".

Nữ mệnh Thiên Phủ, thông thường đều chủ về trung hậu hiền từ, thông minh, khéo léo, thích giúp người. Nếu hội sao cát, đặc biệt là hội hợp với Tả Phụ, Hữu Bật, sẽ có oai nghi của bậc nam tử, cũng có thể phú quý. Gặp các sao tứ sát hình kiếp, thì chồng con bất toàn, hoặc phải tái hôn.

Tính Tình Thái Âm

Thái Âm miếu ở ba cung Hợi, Tí, Sửu; hãm ở ba cung Mão, Tị, Ngọ.

Thái Âm là sao của Trung Thiên, ngũ hành thuộc âm thủy, hóa khí làm "phú" (giàu có).

Thái Âm và Thái Dương là cặp "sao đôi" quan trọng trong Đẩu Số, do đó hai sao có tính chất tương đồng, và cũng có tính chất tương dị. Thái Âm chủ về phú, Thái Dương chủ về quý; Thái Âm chủ về nữ, Thái Dương chủ về nam; Thái Âm chủ về nhu, Thái Dương chủ về cương; Thái Âm thuộc thủy, Thái Dương thuộc hỏa; Thái Âm là mẹ, Thái Dương là cha; Thái Âm là con gái, Thái Dương là con trai.

Thông thường, bất kể nam hay nữ mệnh mà gặp Thái Âm, đều bất lợi cho lục thân phái nữ. Có thể căn cứ cung vị Thái Âm bay đến, và tổ hợp tinh hệ của tam phương tứ chính để luận đoán mệnh vận của người bị bất lợi. Nói chung, thường chủ về lúc nhỏ mẹ bất lợi; nếu là nữ mệnh, thì lúc nhỏ bản thân bất lợi; nếu là nam mệnh, Thái Âm lạc hãm là bất lợi cho vợ hay con gái.

Nam mệnh cung thân gặp Thái Âm, dễ tiếp cận người khác giới, cũng chủ về người này tính tình dịu dàng, nhiều nữ tính. Nếu cung phúc đức và cung phu thê không tốt, có thể có khuynh hướng đồng tính.

Nữ mệnh cung thân gặp Thái Âm, không hội sát tinh, chủ về là người đoan trang, thông minh. Nếu gặp các sao sát, hình, thì có khuynh hướng khắc chống hình con. Nếu gặp các sao đào hoa, mà cung phúc đức và cung phu thê không tốt, thì cũng có thể phát triển thành đồng tính luyến ái.

Thái Âm hội hợp Văn Xương, Văn Khúc, chủ về có tài năng, học rộng, có thể phát về văn chương. Rất ưa hội hợp với Lộc Tồn, Hóa Lộc, bởi vì Thái Âm chủ về cất giấu, phú, tĩnh, khí vị hợp với Lộc Tồn và Hóa Lộc. Hội hợp với Hóa Quyền, Hóa Khoa, thì có thể cương nhu tương tế.

Thái Âm và Thái Dương hội hợp, nếu hai sao đều nhập cung miếu vượng, cũng cương nhu tương tế, người này có nội tài, nhưng cao thượng độ lượng, phóng khoáng bất phàm.

Thái Âm ở cung hãm không ngại Hóa Kị, vì Thái Âm của cung hãm vốn không sáng, đương nhiên không sợ mây mù che kín. Ở cung vị miếu vượng thì lại sợ Hóa Kị, vì có mây mù che trăng sáng. Nhưng Hóa Kị ở cung Hợi, thì gọi là "biến cảnh", trừ phi có các sao sát, hình cùng chiếu, nếu không "biến cảnh" chỉ làm tăng vẻ rực rỡ của ánh trăng.

Theo kinh nghiệm của Vương Đình Chi, phàm là Thái Âm thủ mệnh, lúc luận đoán rất nên xem kèm cung phúc đức. Bởi vì Thái Âm chủ về phú, xã hội cổ đại khá đơn thuần, tuy có cạnh tranh nhưng không kịch liệt, do đó việc chủ về sự hưởng thụ tinh thần của cung phúc đức có ảnh hưởng không lớn. Còn trong xã hội hiện đại thì cạnh tranh kịch liệt, thủ đoạn cạnh tranh cũng nhiều âm mưu hơn, nếu cung phúc đức mà không tốt, do Thái Âm chủ về phú, thông thường sẽ trái lại, dễ dẫn đến đau khổ về phương diện tinh thần, khi luận đoán cần phải chú ý.

Tính Tình Tham Lang

Tham Lang miếu ở bốn cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, hãm ở hai cung Tị, Hợi.

Tham Lang là sao thứ nhất của Bắc Đẩu, thuộc dương mộc, thuộc thủy, hóa khí thành "đào hoa".

Trong Đẩu Số, Tham Lang và Liêm Trinh là "sao đôi", tính chất của hai sao có chỗ tương đồng mà cũng có chỗ tương dị. Vì vậy, cùng là sao đào hoa, nhưng Tham Lang thì có khuynh hướng dương cương, còn Liêm Trinh thì có khuynh hướng âm nhu. Cũng có thể nói, đào hoa của Tham Lang rõ nét đam mê tửu sắc, còn Liêm Trinh thì ham thích thanh sắc nhưng còn biết tự kềm chế.

Tham Lang ở cung mệnh hay thân, chủ về có sở trường giao tế, còn có tài nghệ ở nhiều phương diện, hiếu động, khéo ăn khéo ở. Nhưng lại dễ chìm đắm trong thị hiếu, sở thích.

Nếu hội hợp với Văn Xương Văn Khúc, thì có sở thích cầm kì thi tửu; xét về phương diện vật dục, là ham mê tửu sắc. Nếu gặp Hoa Cái, thì chủ về ưa thích triết học thần bí; xét về phương diện vật dục, là ưa thích sự vật thần bí.

Có điều, nếu Tham Lang hội hợp với các sao Hỏa Tinh, Linh Tinh, Kình Dương, Đà La, Hóa Kị, thì tính chất vật dục rất sâu nặng, dễ thành đam mê tửu sắc, cờ bạc, hút sách.

Cổ nhân đối với Tham Lang, có thuyết "Tham Lang ở cung vượng, suốt đời trộm cắp như chuột" (Tham cư vượng cung, chung thân thử thiết), gọi là "Tham cư vượng cung", tức là:

Người sinh năm Thân, Tí, Thìn, Tham Lang cư cung Tí.
Người sinh năm Dần, Ngọ, Tuất, Tham Lang cư cung Ngọ.
Người sinh năm Hợi, Mão, Mùi, Tham Lang cư cung Mão.
Người sinh năm Tị, Dậu, Sửu, Tham Lang cư cung Sửu.

Trên đây là bí truyền của phái Trung Châu; người sinh năm Tị, Dậu, Sửu, Tham Lang cư Dậu không phải là "cung vượng", đây là điều chưa có sách nào ghi chép, các phái cũng không lưu truyền.

Thuyết của cổ nhân là do tâm lí chấp trước vào câu "Tham cư vượng cung", là dễ phát triển thành dục vọng chiếm hữu quá sâu, nên có luận đoán "suốt đời trộm cắp như chuột". Đối với thuyết này cần phải xử lí thật cẩn thận, nhất là đối với người có cung phúc đức hội hợp sao cát, không được khư khư luận là "suốt đời trộm cắp như chuột". Nếu cung mệnh của con gái mà gặp cách cục này thì phải quản giáo cho khéo, để giảm bớt dục vọng chiếm hữu của nó.

Tham Lang hội hợp sao cát, chủ về vinh hoa phú quý, thậm chí có thể nắm đại quyền trong quân đội hay cảnh sát.

Tham Lang gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh, là "Hỏa Tham cách" hoặc "Linh Tham cách", đều chủ về tài lộc dồi dào, phát triển có tính đột phá. Lấy "Hỏa Tham cách" làm thượng cách, "Linh Tham cách" là kế đó. Lại còn lấy trường hợp gặp ở hai cung Thìn, Tuất làm thượng cách, hai cung Sửu, Mùi là kế đó, các cung khác là sau đó nữa. Nhưng nếu gặp thêm Kình Dương hoặc Đà La thì không hợp cách. Hợp cách là gặp Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc, đặc biệt sẽ có nguồn tiền tài bất ngờ, có thể giàu đột ngột.

Tham Lang rất ghét Kình Dương, Đà La, cũng sợ Hóa Kị, nhưng gặp Địa Không Địa Kiếp thì trái lại có thể thành người có hành động thiết thực. Cho nên gặp Địa Không Địa Kiếp, phần nhiều chủ về có nghề chuyên môn; nếu không gặp Hóa Kị, có thể theo ngành nghiên cứu khoa học kĩ thuật; nếu gặp Hóa Kị, thì nên làm thợ.

Tham Lang gặp Kình Dương, Đà La, toàn làm tăng sự trắc trở gập ghềnh, bất đắc chí và vất vả trong đời người. Ở hai cung Hợi hoặc Tí thì gọi là "Phiếm thủy đào hoa", chủ về phong lưu, vì sắc tình mà chuốc họa; có sao cát thì có thể nhuyễn hóa thành nho nhã thanh tao. Tham Lang gặp Đà La ở cung Dần, gọi là "phong lưu thái trượng", cũng chủ về vì tham sắc mà gặp họa.

Nữ mệnh Tham Lang, đặc điểm lớn nhất là có sở thích riêng, đồng thời thích chuyện thần bí, có khuynh hướng sùng bái tôn giáo tín ngưỡng. Thời Đường Tống, phụ nữ có mệnh này dễ làm "nữ đạo sĩ", "nữ đạo sĩ" thời ấy tương đương với kĩ nữ cao cấp. Cho nên cổ nhân có thuyết "nữ mệnh Tham Lang ắt là xướng kĩ". Ở thời hiện đại, có thể thành người làm công việc giao tế, quan hệ công cộng; nhất là khi có Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên Khôi, Thiên Việt, Thiên Phúc, Thiên Quan, Thiên Quý hội hợp, nữ mệnh cũng có thể sang quý, hoặc có địa vị xã hội. Nếu hội sao lộc, mà còn được Hỏa Tinh, Linh Tinh cùng chiếu, đều chủ về giàu có. Mệnh tạo tính tình cương nghị, vượng phu ích tử.

Cung mệnh hoặc cung phúc đức có Tham Lang, Liêm Trinh hội hợp, chủ về nhạy cảm đối với cái đẹp, cũng chủ về yêu thích nghệ thuật, nhất là ưa vận động hoặc khiêu vũ. Nếu Tham Lang độc tọa, thì có khuynh hướng yêu thích vận động.


Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tam Hợp Phái

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Tam Hợp Phái