Bài tổng quan
Thiên Cơ Thủ Mệnh: Sáu Tinh Hệ Và Cổ Quyết Bát Hỉ Sao Lâu
Thiên Cơ ở cung Tí hay Ngọ đều nhập miếu, chỉ cần Cự Môn ở đối cung không Hóa Kị, người ấy làm việc có lớp lang, có tài ăn nói, mưu trí. Sang Sửu Mùi, sao lạc hãm đối chiếu Thiên Lương, ứng câu Cơ Lương hội hợp giỏi bàn việc binh, thực chất chỉ là thích bàn đề tài người thường không rành. Cùng Thái Âm ở Dần Thân thành cách Cơ Nguyệt Đồng Lương làm viên thư lại; cùng Cự Môn ở Mão Dậu thì miệng lưỡi lanh lẹ nhưng dễ có đầu không đuôi. Cổ quyết nói Cơ Lương ở Thìn Tuất có nghề cao tùy thân, gặp sao không thì làm tăng nhân, đạo sĩ. Trí xảo của mưu tinh rốt cuộc đưa người ta tới quyền biến hay tới cửa thiền?
Thiên Cơ Độc Tọa Cung Mệnh Tí Ngọ
Thiên Cơ ở cung Tí hay cung Ngọ đều độc tọa, mà còn nhập miếu, là cung vị có thể phát huy đặc tính của nó nhất. Do hội hợp với Cự Môn của đối cung, chỉ cần Cự Môn không Hóa Kị, thì sẽ không gây nên điều tiếng thị phi; trái lại sẽ chủ về làm việc có mạch lạc, lớp lang, phản ứng lanh lẹ, mà còn có tài ăn nói, mưu trí và quyền biến.
Thông thường, Thiên Cơ và Cự Môn đối nhau, nếu được Tả Phụ, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc, Hóa Lộc, Hóa Quyền, Thiên Khôi, Thiên Việt hội chiếu, thì có thể nắm giữ uy quyền, trở thành người lãnh đạo công ti lớn, hoặc là thủ trưởng một bộ môn của chính phủ. Nếu có thêm Lộc Tồn, Thiên Mã vây chiếu, thì nguồn tiền tài càng dồi dào. Nếu Văn Xương, Văn Khúc giáp mệnh, thì chủ về thông minh ưu tú, có thể theo đuổi sự nghiệp văn nghệ, cũng thích hợp làm công việc quảng bá, môi giới. Nếu có sao cát đến hội, mà gặp thêm sát tinh, làm việc trong lãnh vực chính trị hoặc thương nghiệp tuy có thể phú quý, nhưng không được lâu dài; không bằng lợi dụng tính chất của sát tinh để "xu cát tị hung". Thông thường, gặp Hóa Kị thì thích hợp công việc quảng bá; gặp Kình Dương thì có thể theo ngành công nghệ, khoa học kĩ thuật; gặp thêm Thiên Hình, thì có thể làm bác sĩ ngoại khoa; gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh hoặc Kình Dương, Đà La, thì nên có nghề chuyên môn để mưu sinh.
Nữ mệnh Thiên Cơ độc tọa ở hai cung Tí hoặc Ngọ, chủ về khéo léo, thông minh cơ trí, nhưng tính rất ham quyền bính, cũng chủ về biết chăm lo gia đình. Rất ngại Thiên Cơ Hóa Kị, có thể vì bị kích thích mà đùa giỡn với tình cảm; nếu Cự Môn của đối cung Hóa Kị, gặp sát tinh, thì nên kết hôn muộn, nếu không sẽ "hình phu khắc tử".
Cung mệnh của đại hạn hoặc lưu niên mà gặp Thiên Cơ độc tọa ở hai cung Tí hoặc Ngọ, thì sự nghiệp có xu thế biến thiên, cần phải xem xét các sao nó hội hợp mà định cát hung.
Thiên Cơ Độc Tọa Cung Mệnh Sửu Mùi
Thiên Cơ độc tọa ở hai cung Sửu hoặc Mùi là lạc hãm, đặc điểm của nó là đối chiếu với Thiên Lương của đối cung. Cổ nhân nói: "Thiên Cơ Thiên Lương hội hợp thì giỏi bàn việc binh" (机梁会合善读兵 Cơ Lương hội hợp thiện đàm binh), thực ra câu nói này chẳng biểu thị người này có tài năng quân sự, mà chỉ biểu thị người này thích bàn luận đề tài mà người bình thường không rành, hơn nữa còn biểu hiện phong thái hùng tài vĩ lược, tất nhiên là giỏi biện luận, nhạy bén, mưu trí và quyền biến. Thông thường, không nên làm công việc kinh doanh buôn bán, có thể trở thành nhân tài tham mưu, cố vấn.
Thiên Cơ Hóa Lộc không những chủ về tiền đến tiền đi, mà còn rất khó tích tụ, nhưng lại dễ có vận may kiếm tiền một cách đột ngột. Nếu Thiên Cơ Hóa Quyền, có thể làm tăng quyền thế, hoặc có cơ hội quen biết với người quyền thế, trợ giúp cho sự nghiệp phát triển và nâng cao địa vị của bản thân. Thiên Cơ Hóa Khoa ở hai cung Sửu, Mùi, ắt phải được văn tinh giáp cung hoặc vây chiếu mới có biểu hiện tốt, chủ về thông minh xuất chúng, nói năng lanh lẹ, phản ứng nhạy bén.
Thiên Cơ ở hai cung Sửu hoặc Mùi rất ngại gặp các sao sát, kị. Cổ nhân nói: "Thiên Cơ mà thêm các sao ác sát đồng cung thì như chó trộm chuột cắp" (天机加恶杀同宫,狗偷鼠窃 Thiên Cơ gia ác sát đồng cung, cẩu thâu thử thiết), tức là nói trường hợp ở hai cung Sửu hoặc Mùi. Nhưng tất nhiên phải có các sao sát, hình, kị hội chiếu, không có sao cát hội hợp, mà còn gặp Âm Sát, Thiên Hư mới đúng; nhưng cũng chỉ chủ về nhân phẩm thấp, vẫn có thể dùng nỗ lực tu dưỡng hậu thiên để bổ cứu.
Nữ mệnh Thiên Cơ Hóa Kị ở hai cung Sửu hoặc Mùi, đặc biệt nhiều lo nghĩ và trở ngại về tình cảm, yêu ghét hay do dự, thay đổi bất định, nội tâm đau khổ chưa hẳn là do người khác gây ra.
Cung mệnh của đại hạn hoặc lưu niên mà gặp trường hợp trên, nếu đứng núi này trông núi nọ sẽ bất lợi. Nếu Hóa Kị và có sát tinh đồng độ, thì có thể phải thay đổi, nhưng thay đổi thì bất lợi.
Thiên Cơ, Thái Âm Đồng Cung Mệnh
"Thiên Cơ, Thái Âm" đồng độ ở hai cung Dần hoặc Thân; cung tài bạch có Thiên Đồng, cung sự nghiệp có Thiên Lương, là một tinh hệ điển hình của cách cục "Cơ Nguyệt Đồng Lương". Cổ nhân nói: "Cơ Nguyệt Đồng Lương là làm thư lại" (机月同梁作吏人 Cơ Nguyệt đồng lương tác lại nhân), trong trường hợp này rất là đúng tiêu chuẩn.
Đặc tính các sao của bản cung là xử sự có mạch lạc, lớp lang, ngăn nắp, thứ tự, có thể dựa vào đó để định phương kế và kế hoạch làm việc, cho nên thích hợp làm công chức, hoặc đảm nhiệm chức vụ trong công ti. Xã hội hiện đại xem trọng việc quản lí công ti, rất thích hợp với người có mệnh cách này.
Ở phương diện khác, cách cục "Cơ Nguyệt Đồng Lương", còn chủ về mệnh tạo thiên về mặt âm nhu, phái nam nhờ vậy mà dễ tiếp cận phái nữ, biết rõ tâm lí nữ giới; phái nữ cũng chủ về dung mạo xinh đẹp, giàu tình cảm, dễ được phái nam theo đuổi.
Nhưng tính cách âm nhu này cũng có thể phát triển thành có thủ đoạn xấu bên trong, như kiểu mua chuộc lòng người. Đây cũng là nhân tố cơ bản của "lại nhân" (nhân viên trông coi văn thư trong huyện phủ thời xưa).
Cho nên bất kể nam mệnh hay nữ mệnh, không nên có Văn Xương, Văn Khúc đồng độ hay hội chiếu. Bởi vì thêm vào văn tinh là âm nhu thái quá, không những dễ thành tệ màu mè không thực, còn dễ có thói nói năng khéo léo để làm người khác vui lòng.
Cách cục của bản cung rất nên gặp Tả Phụ, Hữu Bật và Lộc Tồn, có thể làm tăng khí thế, còn khiến tâm chí trở nên cao thượng. Nếu gặp Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa cùng chiếu, thì có thể phú quý, tuy chỉ là tham mưu, cố vấn vẫn có thể nắm giữ chức quyền. Có điều, nếu Thiên Cơ Hóa Lộc ở cung tài bạch thì có hiện tượng sau khi hao tốn mới có tiền vào; gặp sát tinh thì thu không bằng chi; gặp cát tinh thì chi ít mà thu nhiều.
Nữ mệnh "Thiên Cơ, Thái Âm", bề ngoài xinh đẹp, nội tâm thì nhiều bối rối, hay rơi vào các tình huống lúng túng khó xử; nếu Thiên Cơ Hóa Kị thì đa sầu đa cảm, đối với người khác giới thì lúc lạnh lúc nóng, lúc thì thân thiết lúc thì xa cách. Nếu có tứ sát xung đột, thì có thể làm kế thất, nếu không sẽ khó tránh hình khắc. Gặp thêm các sao đào hoa, thì thích hợp với sự nghiệp nghệ thuật biểu diễn; gặp Thiên Đồng chủ về thích âm nhạc, nên suy tính việc theo nghề ca hát; nhưng vẫn dễ được người khác giới theo đuổi.
Cung mệnh của đại hạn hoặc lưu niên có "Thiên Cơ, Thái Âm", cũng chủ về có biến động, thay đổi. Nếu gặp Thiên Mã, thì thường xuất ngoại đi công tác; gặp thêm Lộc Tồn, đặc biệt lợi về đi xa cầu tài. Thông thường, gặp cát tinh thì biến động thay đổi sẽ như ý, có thêm tài phúc; gặp sao hung thì bị hoàn cảnh ảnh hưởng, muốn có thay đổi nhưng không được như ý, hoặc bị buộc phải thay đổi theo hướng bất lợi.
Thiên Cơ, Cự Môn Đồng Cung Mệnh
"Thiên Cơ, Cự Môn" đồng độ ở hai cung Mão, Dậu. Tổ hợp này có một đặc điểm, là cung sự nghiệp vô chính diệu, cần phải mượn các sao của cung phu thê để an cung. Vì vậy, tam phương tứ chính sẽ biến thành tổ hợp Thiên Cơ, Cự Môn, Thái Âm, Thái Dương và Thiên Đồng. Theo phái Trung Châu, bản cung là tinh hệ có kết cấu "Âm Dương Đồng Cơ Cự".
Sắc thái đặc biệt của tổ hợp này là miệng lưỡi lanh lẹ, phản ứng nhạy bén, nhưng làm việc uể oải, dễ có đầu không đuôi. Vả lại, do bị ảnh hưởng của Thái Âm và Thái Dương nên tình người cũng lúc nóng lúc lạnh, còn có tính khí hẹp hòi.
Mệnh cục này rất kị gặp các sao sát, kị, dù phú quý cũng không bền; kị nhất là gặp Kình Dương, Đà La, chủ về nhiều thị phi sau lưng, vận lúc trẻ còn bị nhiều trắc trở, bất đắc chí, tổ nghiệp suy bại. Nữ mệnh đặc biệt bất lợi về hôn nhân, dễ có trở ngại tình cảm.
Thiên Cơ Hóa Lộc, được tiền bạc ắt phải tốn nhiều miệng lưỡi; nếu Thiên Cơ Hóa Quyền, thì trải qua gian khổ nhưng sự nghiệp có thành tựu, lợi nhất là làm việc công, hoặc phục vụ trong công ti lớn, nếu kinh doanh làm ăn thì sóng gió, trắc trở ắt sẽ khá lớn. Thiên Cơ Hóa Khoa, vẫn chủ về gian khổ, nhưng có lợi trong cạnh tranh, nhờ đã vất vả vạch ra kế sách nên có thể được hưởng danh dự.
Nếu Cự Môn Hóa Lộc, chủ về nhờ miệng lưỡi mà kiếm tiền, tuy có sốc nổi, thiếu thiết thực; do đó thích hợp theo ngành quảng cáo. Cự Môn Hóa Quyền, chủ về có sức thuyết phục, làm tăng địa vị xã hội của mệnh tạo, có thể nhờ làm việc trung thực mà nắm quyền hành.
Nhưng nếu Thiên Cơ Hóa Kị, hoặc Cự Môn Hóa Kị, sẽ chủ về nhiều lo toan nghĩ ngợi một cách vô vị, làm việc hay do dự, dễ đánh mất cơ hội, dẫn đến cảm thấy mình có tài mà không gặp thời. Thiên Cơ thường mang đến cơ hội trong nháy mắt, không chú ý nắm bắt một cách quả quyết là không xong.
"Thiên Cơ, Cự Môn" đồng cung, gặp Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc, hoặc gặp Lộc Tồn ở đối cung; nếu không có sát tinh đều chủ về sự nghiệp có biểu hiện tốt, được người ta đề bạt, có địa vị cao. Nếu gặp sát tinh thì chỉ bình thường, nhưng vẫn có địa vị nhất định. Không có sao cát, mà có các sát tinh cùng chiếu, thì cuộc đời ắt sẽ gặp hiểm trở.
Nữ mệnh "Thiên Cơ, Cự Môn", cũng không nên Hóa Kị, nếu không, dễ sa chân lỡ bước, hơn nữa còn thích đùa với lửa.
Nếu cung mệnh ở Mão, mượn "Thiên Cơ, Cự Môn" của cung Dậu nhập vào; hoặc cung mệnh ở cung Dậu, mượn "Thiên Cơ, Cự Môn" của cung Mão nhập vào, thì các sao hội hợp không phải là Thái Âm, Thái Dương, Thiên Lương, tính chất sẽ thay đổi. Phân biệt chủ yếu là càng lợi về phát huy tài ăn nói, thì làm việc càng có mạch lạc, lớp lang, nhưng bên trong lại có thủ đoạn, về phương diện tình cảm thì khá lạnh nhạt.
Cung mệnh của đại hạn hoặc lưu niên gặp "Thiên Cơ, Cự Môn", nếu không có sao cát hội hợp thì chủ về điều tiếng thị phi, phiền phức. Gặp các sao sát, kị, thì phần nhiều không được yên ổn, xử sự hay thay đổi, phiền muộn trong lòng. Nếu gặp các sao phụ tá cát, thì nên thay đổi; gặp Lộc Tồn, Thiên Mã, đặc biệt lợi về thay đổi để cầu tài.
Thiên Cơ, Thiên Lương Đồng Cung Mệnh
"Thiên Cơ, Thiên Lương" đồng độ ở hai cung Thìn hoặc Tuất; cung tài bạch gặp "Thiên Đồng, Thái Âm", cho nên cũng thuộc cách cục "Cơ Nguyệt Đồng Lương". Nhưng "Thiên Cơ, Thiên Lương" đóng ở cung mệnh, lại khác với "Thiên Cơ, Thái Âm" đóng ở cung mệnh; "Thiên Cơ, Thiên Lương" chủ về thích biện luận, khéo sai khiến, cho nên thiên nặng về ngoại tài (tài ứng biến bên ngoài), khác với "Thiên Cơ, Thái Âm" thiên về nội tài (tài xử lí trong công việc).
Nhưng do ảnh hưởng của Thiên Lương, các sao của bản cung có một đặc tính, dù có cát tinh giao hội, nhưng phú quý vẫn không thể lưỡng toàn, hoặc giàu mà không được hưởng lâu, hoặc giàu nhưng chỉ là hư danh.
Đặc biệt Thiên Lương không nên Hóa Lộc; nếu Hóa Lộc ắt sẽ thị phi náo loạn, bị mọi người đòi hỏi. Dù có Thiên Cơ Hóa Lộc đồng cung cũng không đủ để gây ảnh hưởng; không những không giữ được tiền bạc, mà còn dễ bị tiền bạc gây phiền phức.
Thiên Cơ rất nên Hóa Quyền, có Thiên Lương Hóa Khoa cùng tụ tập ở cung mệnh, có thể giảm thiểu tính chất hiếu động, trôi nổi, mà còn làm tăng năng lực hóa giải rắc rối của Thiên Lương.
Nếu Thiên Cơ Hóa Khoa, thường chỉ có hư danh, còn hay bị rơi vào các tình huống lúng túng, khó xử, vì dễ nảy sinh tình cảm. Nếu Thiên Cơ Hóa Kị, thì khốn khó trùng trùng, nhiều ưu phiền, lo nghĩ; tuy có Thiên Lương hóa giải nhưng cũng sẽ bị tình trạng một phen hú vía.
Cả "Thiên Cơ, Cự Môn" và "Thiên Cơ, Thiên Lương" đều chủ về tài ăn nói, ví dụ như rất thích hợp trong việc dẫn dụng điều luật.
Thiên Cơ chủ về thay đổi, hiếu động, trôi nổi, phản ứng nhạy bén; Thiên Lương thì giữ nguyên tắc, theo luật lệ; hai sao kết hợp, sức phân tích sẽ rất cao cường. Đặc điểm của tinh hệ ở bản cung là, nếu gặp các sao sát, hình, kị, thì Thiên Lương sẽ lộ ra tính chất cô độc và hình khắc, bất kể mệnh nam hay nữ mệnh, đều ít có duyên phận với lục thân.
"Thiên Cơ, Thiên Lương" sẽ rất cát nếu gặp Tả Phụ, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc; sẽ khiến cho tài năng đủ để vận dụng, có thể trở thành nhân vật có địa vị trong xã hội.
So sánh hai cung Thìn và Tuất, cung Thìn có "Thiên Đồng, Thái Âm" và "Thái Dương, Cự Môn" hội hợp, đều nhập miếu, thừa vượng; còn ở cung Tuất các sao hội hợp đều lạc hãm, cho nên cung Thìn tốt hơn cung Tuất nhiều, cách cục khá cao.
Nữ mệnh rất ngại Thiên Cơ Hóa Kị, Cự Môn Hóa Kị, hoặc Thái Âm Hóa Kị; nếu gặp sao kị hội hợp, còn gặp thêm Địa Không, Địa Kiếp và các sao hình, sát, thì "lực hình khắc" chồng con càng nặng. Tuy chủ về sống thọ, nhưng đời người khó tránh cô độc, vì vậy nên kết hôn muộn, cũng nên có con muộn.
Đại hạn hay lưu niên gặp "Thiên Cơ, Thiên Lương", chủ về trải qua phiền phức, bất hòa, tranh chấp mới có thay đổi để thành tựu; nhưng nếu có các sao sát, kị trùng trùng, thì tình huống thay đổi vẫn không như ý.
Thiên Cơ Độc Tọa Cung Mệnh Tị Hợi
Thiên Cơ ở cung Tị hay cung Hợi đều độc tọa. Nhưng khi ở cung Tị, Thái Âm của đối cung nhập miếu; khi ở cung Hợi, Thái Âm của đối cung bị lạc hãm, cho nên tính chất của cung Tị tốt hơn nhiều so với cung Hợi.
Thiên Cơ đối chiếu với Thái Âm, bị ảnh hưởng của Thái Âm rất mạnh. Vì vậy, bất kể nam nữ, đều có biểu hiện quan tâm chăm sóc và dịu dàng đối với người khác giới, trong đời có nhiều tình cảm. Nhất là nữ mệnh, rất dễ nảy sinh tình cảm với người khác giới. Nếu Thiên Cơ Hóa Kị hoặc Thái Âm Hóa Kị, càng dễ xảy ra tình yêu không bình thường; nhưng họ lại cho rằng vết thương tình cảm là kỉ niệm đẹp, do đó hay đùa giỡn với ái tình.
Thiên Cơ và Thái Âm đối nhau, lại gặp Kình Dương, là phụ nữ xinh đẹp kiêu kì, càng hấp dẫn người khác giới.
Thiên Cơ Hóa Lộc, thì Thái Âm ắt sẽ Hóa Kị. Nếu Thiên Cơ ở cung Tị thì Thái Âm không sợ Hóa Kị, trái lại còn lợi về biến động thay đổi. Nếu Thiên Cơ ở cung Hợi thì Thái Âm không nên Hóa Kị, biến động thay đổi chưa chắc có lợi.
Thiên Cơ Hóa Quyền sẽ làm tăng tính chủ động khi có biến động thay đổi. Nếu Thiên Cơ Hóa Khoa, thì Thái Âm ắt sẽ Hóa Lộc, lợi về biến động thay đổi, tiền bạc và danh dự đều tăng, nhưng tất nhiên phải gian khổ làm việc rồi mới có thu hoạch.
Thiên Cơ ở hai cung Tị hoặc Hợi, không nên gặp các sao sát, kị, chủ về học nhiều mà không thành, còn dễ đánh mất cơ hội. Thế là cuộc đời khó tránh phiêu bạt, bụng đầy lời oán trách, có lúc mượn rượu giải sầu, đến lúc nào đó nhiều khi phải dùng kế mọn để làm vốn mưu sinh. Cho nên cổ nhân nói "Thiên Cơ, Thái Âm" gặp nhau ở Tị Hợi, là người thích uống rượu, rời xa quê hương, rất gian xảo.
Phép xu cát tị hung là nên tinh thông một nghề để mưu sinh.
Nữ mệnh gặp kết cấu tinh hệ kiểu này, cần phải chú ý chuyện tình ái nam nữ.
Cổ Quyết Bát Hỉ Sao Lâu Về Sao Thiên Cơ
Sáu vị trí thủ mệnh cho thấy Thiên Cơ gần như luôn mang dáng dấp của sao đối chiếu; cổ quyết thì chỉ ra những tổ hợp mà cổ nhân đã thấy ứng nghiệm, nhiều nhất là cặp Cơ Lương.
机梁会合善谈兵。
Cơ Lương hội hợp thiện đàm binh.
Dịch nghĩa: Thiên Cơ, Thiên Lương hội hợp giỏi bàn việc binh.
Chú giải: Chú thích xưa: ở cung Tuất cũng luận là tốt. Cho nên cục này là nói "Thiên Cơ, Thiên Lương" ở cung Thìn.
机梁守命加吉曜,富贵慈祥。
Cơ lương thủ mệnh gia cát diệu, phú quý từ tường.
Dịch nghĩa: Thiên Cơ, Thiên Lương thủ mệnh thêm sao cát, phú quý tốt lành.
Chú giải: Chú thích xưa: thêm các sao hình, kị là tăng nhân, đạo sĩ.
机梁同照命身空,偏宜僧道。
Cơ lương đồng chiếu mệnh thân không, thiên nghi tăng đạo.
Dịch nghĩa: Thiên Cơ, Thiên Lương cùng chiếu cung mệnh hay cung thân có sao không, chủ về làm tăng nhân, đạo sĩ. (Xem hình 161)
Chú giải: "Thiên Cơ, Thiên Lương" thủ cung mệnh, Thiên Đồng thủ cung thân.

机梁七杀破军冲,羽客僧流命所逢。
Cơ lương Thất Sát Phá Quân xung, vũ khách tăng lưu mệnh sở phùng.
Dịch nghĩa: Thiên Cơ, Thiên Lương, Thất Sát, Phá Quân xung, mệnh làm tăng nhân, thuật sĩ cửu lưu.
Chú giải: Thiên Cơ, Thiên Lương thủ mệnh, đến niên hạn Thất Sát, Phá Quân, chủ về xuất gia. Nhưng phải gặp sao sát, sao không mới đúng.
机月同梁作吏人。
Cơ nguyệt đồng lương tác lại nhân.
Dịch nghĩa: Cơ Nguyệt Đồng Lương làm viên thư lại.
Chú giải: Thiên Đồng, Thiên Lương tọa mệnh, gặp Thiên Cơ, Thái Âm.
天机加恶煞同宫,狗偷鼠窃。
Thiên Cơ gia ác sát đồng cung, cẩu thâu thử thiết.
Dịch nghĩa: Thiên Cơ có thêm sao ác, sao sát đồng cung, là chó trộm, chuột cắp.
Chú giải: Thiên Cơ có các sao hình, kị, sát, không, hao đồng cung.
天机巳宫卯酉逢,好饮离宗奸狡重。
Thiên Cơ Tị cung Mão Dậu phùng, hiếu ẩm li tông gian giảo trọng.
Dịch nghĩa: Thiên Cơ gặp ba cung Tị Mão Dậu, ham uống rượu, rời bỏ quê hương, rất gian giảo.
Chú giải: Thiên Cơ ở ba cung Tị, Mão, Dậu; gặp sao hung mới đúng.
巨陷天机为破格。
Cự hãm Thiên Cơ vi phá cách.
Dịch nghĩa: Cự Môn ở cung hãm với Thiên Cơ là phá cách.
Chú giải: Đây là nói "Thiên Cơ, Cự Môn" an mệnh ở hai cung Mão hoặc Dậu, nữ mệnh rất kị; chủ về nam tà, nữ dâm.
天机卯酉,必退祖而自兴。
Thiên Cơ Mão Dậu, tất thoái tổ nhi tự hưng.
Dịch nghĩa: Thiên Cơ ở hai cung Mão hoặc Dậu, ắt sẽ lụn bại tổ nghiệp mà tự làm nên.
Chú giải: Gặp sao lộc mới đúng; gặp các sao sát, kị thì như chú giải trên.
机梁贪月同机会,暮夜经商无眼睡。
Cơ Lương Tham Nguyệt Đồng Cơ hội, mộ dạ kinh thương vô nhãn thuỵ.
Dịch nghĩa: Thiên Cơ, Thiên Lương, Tham Lang, Thái Âm, Thiên Đồng mà gặp nhau, chủ về ngày đêm làm ăn không ngủ.
Chú giải: Hễ Thiên Cơ, Thiên Lương, Tham Lang, hay Thái Âm tọa mệnh, đến cung hạn "Thiên Đồng, Thiên Cơ" thì như thuyết này.
机梁同辰戌,必有高艺随身。
Cơ Lương đồng Thìn Tuất, tất hữu cao nghệ tùy thân.
Dịch nghĩa: Thiên Cơ, Thiên Lương cùng ở Thìn Tuất, ắt sẽ có nghề cao tùy thân. (Xem hình 162)
Chú giải: Mượn sao an cung thì không đúng, còn phải gặp cát tinh và sát tinh.

机巨酉上化吉曜,纵遇财宫也不荣。
Cơ Cự Dậu thượng hóa cát diệu, túng ngộ tài cung dã bất vinh.
Dịch nghĩa: Thiên Cơ, Cự Môn ở cung Dậu hóa sao cát, dù gặp cung tài cũng không vinh.
Chú giải: Thái Dương ở cung Sửu hay Mùi là có hào quang, nhưng Thái Dương ở cung Sửu ưu hơn ở cung Mùi vì mặt trời đã hơi ngả về tây. "Thiên Cơ, Cự Môn" ở cung Mão vì hội hợp với Thái Dương của cung Sửu (mượn sao an cung), cho nên tốt hơn "Thiên Cơ, Cự Môn" ở cung Dậu.
机梁同在辰戌宫,加吉曜富贵慈祥。
Cơ Lương đồng tại Thìn Tuất cung, gia cát diệu phú quý từ tường.
Dịch nghĩa: Thiên Cơ và Thiên Lương cùng ở hai cung Thìn hoặc Tuất, thêm sao cát, chủ về phú quý cát tường.
Chú giải: Gặp các sao sát, kị thì thiên về làm tăng nhân, đạo sĩ, nhưng cũng tốt lành.
Cốt Tủy Của Sao Thiên Cơ
Thiên Cơ là sao mưu trí, tính chất phụ thuộc rất nhiều vào ngôi sao đứng cùng hoặc đối chiếu: Cự Môn đem tới tài ăn nói nhưng cũng đem điều tiếng khi Hóa Kị; Thiên Lương đem tới sở thích biện luận, thiên về ngoại tài; Thái Âm đem tới nếp làm việc ngăn nắp, hợp làm công chức, quản lí công ti. Cổ quyết bổ sung những trường hợp đã ứng nghiệm: Cơ Nguyệt Đồng Lương làm thư lại, Cơ Lương ở Thìn Tuất có nghề cao tùy thân, gặp sao không thì hướng về tăng đạo.
Khi luận Thiên Cơ thủ mệnh, cần xét Cự Môn có Hóa Kị hay không, Thái Âm miếu hay hãm, cùng các sao không và sát tinh ở tam phương, rồi mới định người ấy thiên về mưu lược, về chuyên môn hay về con đường tôn giáo.
Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tam Hợp Phái
