Bài tổng quan
Tính Tình Cự Môn, Thiên Tướng, Thiên Lương, Thất Sát Và Phá Quân
Cự Môn, Thiên Tướng, Thiên Lương, Thất Sát và Phá Quân đều mang sẵn một mặt khó khăn, và cát hung tùy cách mặt ấy được chuyển hóa. Cự Môn là ám tinh chủ thị phi nhưng cũng chủ khẩu tài; ở Tí, Ngọ là cách Thạch trung ẩn ngọc, tài năng kín đáo nhưng dễ bị tị hiềm khi đứng đầu. Thiên Tướng là sao ấn, công chính cẩn thận, dễ bị hoàn cảnh chi phối. Thiên Lương là thọ tinh che chở, giải ách, nhưng nên hội chiếu hơn là thủ mệnh vì mang nghĩa cô độc hình khắc. Thất Sát là tướng tinh, cô độc, rất ưa phò tá Tử Vi, Thiên Phủ để chuyển sát thành quyền. Phá Quân là tiên phong, công được mà thủ không được, cả đời qua biến động lớn theo lối bỏ cũ canh tân.
Tính Tình Cự Môn
Cự Môn miếu ở bốn cung Dần, Mão, Thân, Dậu; hãm ở hai cung Sửu, Mùi.
Cự Môn là sao thứ hai của Bắc Đẩu, thuộc âm thổ, còn thuộc âm kim. Cổ nhân có thuyết "thổ yên tĩnh chôn kim", vì vậy lấy Cự Môn làm ám tinh, chủ về điều tiếng thị phi và tranh ngoài sáng mà đấu trong tối.
Ngoài điều tiếng thị phi, Cự Môn còn chủ về khẩu tài, rất ưa Hóa Quyền, cách cục cao thì có thể phú quý, nếu không cũng có thể là bậc thầy dạy học đáng kính. Cự Môn hội chiếu với Thái Dương, thì quang minh lỗi lạc, có thể phú quý.
Thời cổ đại do bị hạn chế điều kiện xã hội, người có Cự Môn thủ mệnh bị giới hạn về nghề nghiệp, khác với bối cảnh xã hội hiện đại, có thể làm phát thanh viên, làm việc trong ngành quan hệ công cộng, thậm chí có thể làm công tác ngoại giao hoặc luật sư. Nếu gặp các sao Liêm Trinh, Tham Lang, Long Trì, Phượng Các, Thiên Tài thì có thể hoạt động ở lãnh vực nghệ thuật biểu diễn.
Đặc tính của Cự Môn là "khẩu tài", nhưng về phương diện giao tế nó không giống như Tham Lang thiên về hưởng lạc và ham mê tửu sắc, cũng không như Thiên Cơ xử sự tròn trịa, khéo ăn khéo ở, mà nó khá thực tế.
Khẩu tài của Văn Khúc rơi vào tệ "xảo ngôn lệnh sắc", màu mè chải chuốt, hơi sốc nổi, không thiết thực; còn Cự Môn thì có thể dùng ngôn từ để chiếm lòng tin của người khác. Cho nên lúc Cự Môn Hóa Quyền, lời nói của người này sẽ có tính quyền uy. Nếu Cự Môn Hóa Lộc, thì thích hợp làm nghệ sĩ biểu diễn, đặc biệt là có thể thành người điều khiển chương trình ưu tú. Cự Môn gặp Văn Xương, Văn Khúc, Hồng Loan, Thiên Hỉ, Thiên Diêu, Long Trì thì càng đẹp.
Nếu Cự Môn Hóa Quyền hoặc Hóa Lộc, hội hợp với chính diệu Hóa Khoa, chủ về thanh danh vang dội, nhất định là người có tiếng tăm trong xã hội, thường phát biểu ngôn luận trước đám đông.
Đặc điểm lớn nhất của Cự Môn là bản thân có biểu hiện khá tốt. Nhưng nếu học hành ít, không đủ để vận dụng, thì biến thành thường không phục người khác, do đó dẫn đến tị hiềm đố kị. Vì vậy Cự Môn rất ưa hội các sao Văn Xương, Văn Khúc, Hóa Khoa. Cung mệnh dù không gặp sao văn, nếu cung phúc đức có văn tinh tụ tập đủ cũng có thể bổ cứu.
Cự Môn ở hai cung Tí hoặc Ngọ, gọi là "Thạch trung ẩn ngọc". Chỗ tốt của cách cục này là giảm thiểu những biểu hiện dục vọng của bản thân, tài năng kín đáo, không lộ. Lấy trường hợp gặp Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa làm thượng cách; gặp Lộc Tồn là thứ cách, thảy đều chủ về người có địa vị cao trong xã hội, còn dễ trở nên giàu có. Nhưng người thuộc cách cục này một khi đã có địa vị cao, thành nhân vật "số một", sẽ dễ chuốc tị hiềm đố kị mà dẫn đến thân bại danh liệt. Xét từ cách cục này, có thể thấy Cự Môn phải biết tiết chế biểu hiện của mình, đồng thời cũng cần chú ý tu dưỡng sở học.
Thái Dương hội hợp với Cự Môn, có thể giải "ám" của Cự Môn. Xét về tính chất, đây là vì người "Nhật Cự thủ mệnh" làm việc phần nhiều đều quang minh lỗi lạc, dễ làm cho người ta hiểu rõ.
Tổ hợp tinh hệ "Thái Dương, Cự Môn" còn có tính chất "người ngoại quốc", nên khi tinh hệ này hội hợp với sao cát, xem nó rơi vào cung nào để định tính chất là sùng thượng người ngoại quốc, hay kết hôn với người nước ngoài.
Đối với Hỏa Tinh, Linh Tinh, Kình Dương, Đà La, Kiếp Sát, Thiên Hình, Hóa Kị, Cự Môn đều sợ. Nói chung, Kình Dương, Đà La khiến tình cảm dễ nổi sóng gió; Hỏa Tinh, Linh Tinh khiến đời người thêm nhiều sóng gió; Địa Không Địa Kiếp khiến đời người gập ghềnh, gặp nhiều trở ngại, bất đắc chí, theo thuyết của cổ nhân, có khả năng thuở nhỏ bị cha mẹ bỏ rơi; gặp các sao hình kị thì xảy ra điều tiếng thị phi. Nếu tứ sát cùng chiếu, lại gặp Thiên Hình, cung tật ách không tốt thì dễ yếu mạng.
Tính Tình Thiên Tướng
Thiên Tướng miếu ở ba cung Tí, Sửu, Dần; hãm ở hai cung Mão, Dậu.
Thiên Tướng là sao thứ hai của Nam Đẩu, thuộc dương thủy, hóa khí thành "ấn".
Đặc điểm của sao "ấn" là công chính, cẩn thận, phần nhiều suốt đời chỉ làm một nghề, hiếm khi đứng núi này trông núi nọ, tốt nhất là làm công chức. Bản thân sao "ấn" có thể thiện mà cũng có thể ác, nhưng thiện ác đều do người giữ "ấn". Ví dụ như "ấn" ở trên pháp đường, có thể làm cho người ta phú quý, cốt nhục đoàn tụ, mà cũng có thể khiến người ta bị hình phạt, gia phá người li tán, thiện ác khác nhau là do người giữ "ấn" sử dụng. Cho nên người có Thiên Tướng thủ cung mệnh, tuy có lòng chính nghĩa, nhưng cũng có thể trở nên mềm yếu.
Thiên Tướng ở trên trời có hàm ý tương tự như tể tướng hoặc quân sư; trung với chủ nhân, vì chủ nhân mà lập mưu lập kế, lấy sự lợi hại của chủ nhân làm sự lợi hại của bản thân; vì vậy gặp sao cát thì cát, gặp sao hung thì hung. Cho nên ở 12 cung, Thiên Tướng tùy theo các sao hội hợp mà phân biệt cát hung thiện ác.
Người có Thiên Tướng thủ mệnh, cũng rất dễ bị hoàn cảnh xã hội gây ảnh hưởng. Phàm bối cảnh văn hóa xã hội khác nhau, dù kết cấu mệnh bàn tương đồng, thì sự tao ngộ của mệnh vận cũng khác nhau rất lớn.
Thiên Tướng ở cung mệnh hoặc cung thân, gặp Hóa Lộc và Thiên Lương giáp cung, là cách "Tài ấm giáp ấn", chủ về phú quý vinh hoa, hưởng thụ vui vẻ. Thiên Tướng ở cung mệnh hoặc cung thân, gặp Hóa Kị và Kình Dương giáp cung, là cách "Hình kị giáp ấn", chủ về có nạn lao ngục, kèm có hình hại, thương tổn.
Thiên Tướng thủ mệnh, không có chính diệu chủ về trí lực vây chiếu, gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh xung phá, dễ bị tàn tật.
Nữ mệnh Thiên Tướng, kị hội hợp Văn Xương, Văn Khúc, chủ về tình cảm nổi sóng.
Tính Tình Thiên Lương
Thiên Lương miếu ở bốn cung Tí, Ngọ, Dần, Mão; hãm ở ba cung Tị, Dậu, Hợi.
Thiên Lương thuộc dương thổ, là sao thứ ba của Nam Đẩu, chưởng quản tuổi thọ, hóa khí làm "lực ấm" (lực che chở), có thể hóa giải tai ách. Thiên Lương nên hội chiếu mà không nên thủ mệnh, tức cũng không nên xung chiếu cung mệnh, vì sẽ mang ít nhiều hàm nghĩa cô độc và hình khắc. Nếu thủ cung mệnh, lục thân của nữ mệnh đều có khuyết điểm, không bằng phúc của nó mang lại.
Thiên Lương ở cung mệnh hay cung thân, chủ về tính tùy tiện, lần lữa, uể oải, thiếu tích cực. Thiên Lương vào cung đại hạn lúc trẻ, gặp nạn tai có thể hóa giải, nhưng ắt sẽ bị bệnh tật; đến già Thiên Lương vào đại hạn, tuy có bệnh nhưng chủ về mang bệnh mà sống thọ.
Thiên Lương ở cung phúc đức thì tư tưởng thanh cao, có phong thái của bậc danh sĩ nhưng không được nhàn hạ, thường làm người điều giải trong những vụ xích mích, khiến người này sẽ vì hư danh mà vất vả bận rộn.
Nếu cung phúc đức của đại hạn gặp Thiên Lương, mà cung mệnh của đại hạn không cát, cung tật ách lại hung, phần lớn là đến hạn tử. Chỉ có chết mới giải hết mọi nạn tai khổ đau, được đại giải thoát, đó cũng là hàm nghĩa của Thiên Lương.
Người có Thiên Lương ở cung mệnh hoặc cung thân, chủ về phùng hung hóa cát, gặp nạn biến lành; nhưng cũng vì vậy mà cuộc đời nhiều nạn tai hung hiểm, hoặc tao ngộ những sự cố không bình thường. Cho nên, Thiên Lương mà đến cung mệnh, ắt sẽ nhiều tai nhiều nạn, nhiều thị phi, nhiều bệnh đau, nhưng có thể hóa giải tai ách hung hiểm, và sống thọ.
Thiên Lương đến cung Tị, gặp rất nhiều nạn tai. Phàm là người có Thiên Lương đến cung mệnh, cung thân, hoặc cung phúc đức, người xưa nói họ có duyên sâu với Thần Phật, gọi là có "thiện căn", thích hợp nghiên cứu triết học, tôn giáo. Nếu đồng độ với Thiên Cơ, phần nhiều có tư tưởng xuất thế, có thể làm tăng nhân, đạo sĩ. Nếu Thiên Lương, Thái Dương, Văn Xương, gặp Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc là cách "Dương Lương Xương Lộc", đại lợi về thi cử, nhất là trong những cuộc thi quan trọng, hoặc các cuộc thi tuyển đề bạt có tính cạnh tranh.
Thiên Lương là thanh quan ngự sử, có thể can gián trực tiếp với hoàng đế, vì vậy rất ngại gặp Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc. Nếu có sao lộc đồng độ, thì khó làm người ta kính phục, phần nhiều dễ chuốc oán giận, thị phi. Vì vậy "Lương Lộc cùng đến", tuy có thể phát tài nhưng lại nhiều lo nghĩ, khó khăn. Thiên Lương cũng không ưa gặp Kình Dương và Thiên Hình, chủ về phạm pháp hay thị phi, hoặc chủ về mắc bệnh phải phẫu thuật.
Nhưng Thiên Lương dù gặp các sao sát, hình, kị, vẫn có thể dựa vào sức mạnh của bản thân để hóa giải, chỉ là, khó tránh nguy hiểm trùng trùng, đời người gặp nhiều cảnh ngộ không bình thường.
Tính Tình Thất Sát
Thất Sát miếu ở bốn cung Sửu, Dần, Thân, Tuất; hãm ở hai cung Mão, Dậu.
Thất Sát là sao thứ năm của Nam Đẩu, thuộc âm kim, hóa khí làm "quyền", cũng là tướng tinh bên cạnh hoàng đế, chủ về "túc sát" (nghiêm và có sát khí), cho nên cuộc đời cô độc, phần nhiều không có tri kỉ. Nhưng cũng có thể lợi dụng mà phát triển tính cách độc lập này thành tự sáng lập sự nghiệp một cách bất ngờ.
Tử Vi tương hội với Thất Sát, có thể giúp cho đế tinh cầm cương ra oai, chuyển hóa thành quyền lực, nhờ vậy mà khí "túc sát" cũng trở thành hòa hoãn.
Do Thất Sát là sao đại tướng, cho nên rất ưa phò tá Tử Vi, Thiên Phủ, chủ về có thể được quý nhân đề bạt mà hoạn lộ thênh thang. Dù gặp sát tinh, cũng có thể theo ngành kinh doanh buôn bán mà trở nên giàu có.
Nếu theo con đường kinh doanh, chỉ thích hợp với ngành công thương nghiệp, còn có thể làm nhân viên giỏi, nhưng không được đầu cơ, dễ xảy ra phá tán, thất bại, mà không còn cơ hội để đứng lên.
Phàm người có Thất Sát thủ cung mệnh, trong đời ắt sẽ có một lần bị gãy đổ rất lớn; cung mệnh mà gặp Địa Không, Địa Kiếp, Đại Hao thì càng nặng. Nếu theo ngành công thương nghiệp, tuy có trở ngại nhưng vẫn được người ta tín nhiệm, rất dễ khôi phục nguyên khí, vì vậy tuyệt đối không nên đầu cơ, làm ăn mạo hiểm.
"Thất Sát, Liêm Trinh" đồng độ ở cung Mùi, hoặc Thất Sát thủ mệnh ở cung Ngọ, còn Liêm Trinh thủ cung phúc đức, đều gọi là cách "Hùng tú kiền nguyên", chủ về phách lực hùng hậu. Đây là vì âm kim của Thất Sát được âm hỏa của Liêm Trinh tôi luyện mà thành hữu dụng. Nếu Thất Sát thủ mệnh ở cung Tí thì tốt kế đó.
Thất Sát ở cung Sửu, tuy cũng có Liêm Trinh đồng độ, nhưng cách cục bình thường. Nếu hội chiếu tứ sát Hỏa Tinh, Linh Tinh, Kình Dương, Đà La, sẽ chủ về hình khắc, khốn khó, tổn thương, họa hại, nặng thì cuối cùng sinh tàn tật.
Thất Sát rất ngại lạc hãm, Hóa Kị, cũng không ưa các sao tứ sát, Địa Không, Địa Kiếp, Thiên Hư, Âm Sát, chủ về cô độc, phúc khí bất toàn. Phần nhiều tìm đến tôn giáo để giải thoát trần thế, còn chủ về ảo tưởng, nhiều lúc cảm thấy tâm hồn trống rỗng.
Thất Sát cư hai cung Sửu hoặc Mùi, cung thiên di ắt là Thiên Phủ, chủ về bề ngoài cứng rắn mà bên trong giàu tình cảm, dễ có tư tưởng xuất thế, phần lớn hay buồn bã không duyên cớ, dễ mủi lòng, còn bất lợi về hôn nhân.
Thất Sát gặp "Thái Dương, Cự Môn" ở cung Đế Vượng, gọi là "cát xứ tàng hung" (trong cát có hung), chủ về ở trong thuận cảnh bỗng sinh biến cố, nên giấu bớt tài năng.
Thất Sát là tướng tinh, các sao Thiên Khôi, Thiên Việt, Văn Xương, Văn Khúc, cho tới Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, đối với nó mà nói, đều quan trọng, có thể làm tăng thanh thế cho nó. Vì vậy không bằng trường hợp các sao cát phân phối đều ở các cung khác, lúc ấy cách phối trí mệnh bàn sẽ quân bình hơn. Nam mệnh Thất Sát, cung phúc đức nên gặp các sao cát; nữ mệnh Thất Sát, cung phu thê nên gặp các sao cát.
Tính Tình Phá Quân
Phá Quân miếu ở ba cung Tí, Ngọ, Mùi; hãm ở ba cung Dần, Thân, Dậu.
Phá Quân là sao thứ bảy của Bắc Đẩu, ngũ hành thuộc âm thủy, hóa khí làm "hao".
Trong Đẩu Số, Phá Quân là sao tiên phong, gặp núi thì mở đường, gặp nước thì làm cầu, hơn nữa còn xung phong phá trận, cho nên tính chất cơ bản của nó là có thể công mà không thể thủ. Tính chất này khiến cho người có Phá Quân thủ mệnh dễ có tính khí nóng nảy, bộp chộp, nhưng lại chính trực, cứng rắn; ở trong hoàn cảnh khốn khó sẽ biểu hiện tài năng lãnh đạo và phách lực khai sáng cục diện mới.
Do tính cách sở trường về khai sáng mà không giỏi thủ thành, nếu cung phúc đức gặp "Tử Vi, Thiên Phủ", sẽ biến thành người có năng lực, chịu khó và tính chủ quan rất mạnh, nhưng không nhẫn nại một khi đã thành cục diện phát triển, thậm chí lúc sự nghiệp đã ổn định, có khi còn muốn thay đổi cục diện mới.
Phá Quân tranh thành đoạt trại, phá hoại trước rồi kiến thiết sau, cho nên bản thân gặp nguy nan cũng nhiều, dễ thành vượt quá tầm kiểm soát, rơi vào cảnh nguy khốn mà không thể tự đứng lên được. Khi xử sự, thường dễ biến trở ngại nhỏ thành trắc trở lớn.
Cho nên Phá Quân rất ưa gặp sao lộc, tiền tài có nguồn viện trợ phía sau không ngừng bổ sung, gọi là "có gốc rễ". Phá Quân có Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc đồng cung là tốt nhất, hội hợp với chính diệu Hóa Lộc khác là kế đó, trường hợp hội hợp với Lộc Tồn là kế đó nữa.
Hóa Quyền, Thiên Khôi, Thiên Việt, Tả Phụ, Hữu Bật hội chiếu hoặc đồng độ với Phá Quân, có thể làm tăng khí thế sáng lập sự nghiệp. Nếu gặp Địa Không Địa Kiếp, thì một đời nhiều trở ngại; gặp tứ sát Hỏa Tinh, Linh Tinh, Kình Dương, Đà La, phàm có biến động, đều gặp bất lợi trước; gặp Thiên Khốc, Thiên Hư, thì chủ về tâm hồn trống rỗng.
Do Phá Quân có hàm nghĩa phá hoại trước, kiến thiết sau, nên cuộc đời và sự nghiệp phải gặp biến động lớn. Nhưng hễ có biến động thì đều có tính chất "bỏ cũ mà canh tân", cho nên trong kinh doanh làm ăn phần nhiều đều từ sự nghiệp cũ mà lập nên cục diện mới, phần lớn cũng chủ về có hai sự nghiệp một lúc; làm công ăn lương thì chủ về kiêm thêm chức vụ khác, hoặc thường gánh vác công việc quá mức. "Người giỏi, làm nhiều" chính là hình ảnh của Phá Quân đóng ở cung mệnh.
Nữ mệnh Phá Quân, thông thường đều nên kết hôn muộn; gặp Kình Dương, Đà La thì càng như vậy. Nếu Phá Quân Hóa Lộc, thì có khuynh hướng thích sửa sắc đẹp, lúc này cần lưu ý xem tiểu hạn có tương hội sao hình, sát, kị hay không. Nếu đúng thì phải cẩn thận kẻo để lại dấu vết.
Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tam Hợp Phái
