Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Tam Hợp Phái

Bài tổng quan

Luận đoán cung Mệnh điển hình qua mệnh bàn Gia Cát Lượng và bà B

Tử Vi Nam Phái - Tam Hợp Phái21/09/20267 phút đọc4 lượt đọc
Luận đoán cung Mệnh điển hình qua mệnh bàn Gia Cát Lượng và bà B

Thiên Đồng thủ cung Mệnh vốn là người hành xử theo tình cảm, nên cả đời Gia Cát Lượng gắn với lời thác cô ở Bạch Đế thành, cúc cung tận tụy đến chết mới thôi. Vậy mà nhờ Linh Tinh, Thiên Hình đồng độ, ông vẫn đè nén được tình cảm để gạt lệ trảm Mã Tắc. Lá số của ông còn ghi dấu năm Lưu Bị ba lần đến lều tranh, năm liên Ngô phá Tào ở Xích Bích, và cả tinh hệ uống lầm thuốc năm Giáp Dần. Còn bà B, Thiên Cơ, Thái Âm thủ Mệnh lại gặp Thiên Mã, tính hiếu động trôi nổi tăng lên gấp bội, học nhiều mà bỏ dở nửa chừng. Đời người như thế thì phải dựa vào những cung nào để đứng vững?


Gia Cát Lượng: Thiên Đồng thủ mệnh mà cúc cung tận tụy

CUNG MỆNH CỦA MỆNH TẠO LÀ THIÊN ĐỒNG TỌA THỦ CUNG MÃO, ĐỐI CUNG CÓ THÁI ÂM, TÍNH CHẤT CƠ BẢN LÀ HÀNH XỬ THEO TÌNH CẢM. May mà có Linh Tinh, Thiên Hình đồng độ, trở thành sức mạnh kích phát, và áp chế tình cảm, cho nên Gia Cát Lượng tuy bị tình cảm của Lưu Bị chi phối, mệnh vận một đời chỉ vì lời "thác cô ở Bạch đế thành" mà đã quyết định "cúc cung tận tụy, đến chết mới thôi", nhưng ông cũng có thể đè nén tình cảm, gạt lệ trảm Mã Tắc.

Tinh bàn Gia Cát Lượng, âm nam sinh giờ Tị ngày 23 tháng 7 năm Tân Dậu, Mộc tam cục, cung mệnh Mão có Thiên Đồng, Linh Tinh, Thiên Hình

Xem cung phúc đức, có Thái Dương Hóa Quyền, đối cung có Cự Môn Hóa Lộc. Thái Dương chủ về lao thân, còn Cự Môn chủ về lao tâm; tuy được "Lộc Quyền Khoa" tụ hội, nhưng cũng chủ về vất vả mà có thành tựu, có tính chất không chịu hưởng an nhàn, mà phải thân tâm vất vả.

Tinh hệ phối hợp của cung mệnh là Thiên Đồng, là người ôn hòa đôn hậu, thông minh mẫn tiệp, rất ưa Lộc Tồn hội chiếu, tay trắng mà làm nên nghiệp lớn. Ông phụ tá Lưu Bị chia ba thiên hạ, trong tinh bàn tự đã có điểm ứng. Còn được hội hợp Cự Môn Hóa Lộc, là chủ về khẩu tài; hội hợp Thiên Cơ, là chủ về mưu lược; đều trung tín mà thâm trầm.

Cung mệnh gặp Linh Tinh; còn cung phụ mẫu thì gặp Hỏa Tinh, Đà La, Kình Dương; nên sớm thành cô nhi. Gặp sao đôi Tả Phụ, Hữu Bật, mà không có sao lẻ tụ hội, nên không chủ về có cha mẹ nuôi. (Theo Tam Quốc Chí của Trần Thọ), Gia Cát Lượng còn nhỏ đã mất cha, theo chú là Gia Cát Chi nương nhờ Lưu Biểu ở Kinh Châu, tức ứng nghiệm sớm mồ côi.

Từ lều tranh Long Trung đến trận Xích Bích

Niên hiệu Kiến An thứ 12, năm Đinh Hợi, Gia Cát Lượng 27 tuổi, Lưu Bị ba lần viếng nhà tranh ở Long Trung. Là năm Gia Cát Lượng bắt đầu xuất hiện thi thố tài năng. Theo tinh bàn là thuộc đại hạn Tân Sửu, cung sự nghiệp có Thái Dương song Hóa Quyền, được Cự Môn song Hóa Lộc kèm lưỡng trùng Thiên Mã đến xung, đương nhiên tiền đồ sáng sủa; Văn Xương song Hóa Kị, bất quá chỉ chủ về xuất trận nổi danh nên chuốc đố kị mà thôi.

Qua năm Mậu Tí, Lưu Biểu chết, con của Lưu Biểu là Lưu Tông hàng Tào Tháo, thế là Lưu Bị chạy ra Đương Dương, Gia Cát Lượng phụng mệnh đi sứ sang Đông Ngô, liên kết với Ngô để đại phá Tào Tháo ở Xích Bích. Năm đó cung mệnh có "Liêm Trinh, Thiên Tướng", được Cự Môn Hóa Lộc và Thiên Lương giáp cung, thành cục "Tài ấm giáp ấn"; cung sự nghiệp có Vũ Khúc được Tham Lang Hóa Lộc vây chiếu, lại gặp Tả Phụ, Hữu Bật, Kình Dương Đà La xung xạ mà không có Hóa Kị. Mệnh cách vốn là Thiên Đồng tọa thủ cung mệnh, không gặp sát thì không chủ về tinh anh hơn người.

Đến đại hạn Canh Tí, là 10 năm Gia Cát Lượng làm nên công nghiệp. Đại hạn này cung mệnh là "Tài ấm giáp ấn", cung sự nghiệp là Vũ Khúc Hóa Quyền, Thiên Phủ lại Hóa Khoa có sát tinh đến hội, công nghiệp tuy thành nhưng cũng chủ về vất vả. Cung phụ mẫu được Thái Dương Hóa Lộc ở đại hạn, xung khởi bốn sao hóa Lộc, Quyền, Khoa, Kị cùng chiếu, đây là điểm Lưu Bị vì tâm lí buồn phiền mà trút gánh nặng lên ông.

Nhận di chiếu, trảm Mã Tắc và những năm cuối

Sau năm 43 tuổi, vào đại hạn Kỉ Hợi, thiên bàn chỉ được Quyền Lộc cùng chiếu, lại gặp Văn Xương Hóa Kị. Năm Quý Mão, Lưu Bị chết ở Vĩnh An, ông nhận di chiếu phò tá Lưu Thiện. Thái Âm Hóa Khoa, còn Văn Khúc Hóa Kị xung Hóa Khoa mà vây chiếu cung mệnh, cho nên thanh danh ngày càng thịnh mà âm kị ngày càng sâu.

Gia Cát Lượng có con rất muộn, năm Đinh Mùi 47 tuổi mới sinh Gia Cát Chiêm. Phái Trung Châu chỉ tính được năm mang thai, không tính được năm sinh con. Đương thời, vợ ông mang thai vào lúc ông 46 tuổi (năm Bính Ngọ), là năm cung tử nữ Thiên Đồng Hóa Lộc, xung khởi Cự Môn Hóa Lộc, cung mệnh gặp Hồng Loan Thiên Hỉ.

Lúc ông 48 tuổi (năm Mậu Thân), là Mã Tắc phạm sai lầm, bại trận quay về Hán Trung. Là năm cung nô bộc hội hợp Thiên Cơ Hóa Kị, Văn Khúc Hóa Kị, Văn Xương Hóa Kị.

Qua năm Kỉ Dậu, ông chinh phạt Ngụy, đánh chiếm hai quận Vũ Đô, Âm Bình. Cung sự nghiệp có Thiên Lương song Hóa Khoa xung chiếu Thái Dương Hóa Quyền, đồng thời hội nhập cung mệnh; đáng tiếc là Văn Khúc Hóa Kị lại hội Văn Xương Hóa Kị, cho nên không thể thành công trọn vẹn.

Đại hạn Mậu Tuất, cung mệnh có Tham Lang Hóa Lộc, được Vũ Khúc triều củng, cho nên lúc 54 tuổi xuất binh đến Tà Cốc, Tư Mã Ý cam chịu tiếng hèn, không dám ứng chiến, oai danh của Gia Cát Lượng có thể nói là cực hiển hách.

Nhưng đại hạn cung tật ách, có Thái Dương, Văn Xương Hóa Kị hội Thiên Lương; lại có Kình Dương, Đà La giáp cung; là tinh hệ uống lầm thuốc. Lúc ông 54 tuổi năm Giáp Dần, cung tật ách Thái Âm tọa thủ, Văn Khúc Hóa Kị cùng đến, vừa khớp Thái Dương Hóa Kị, Văn Xương Hóa Kị hội hợp, Thiên Lương ở tam phương đến hội, là ứng nghiệm uống lầm thuốc, nên người ta nghi ngờ cái chết của Gia Cát Lượng là do uống lầm thuốc.

Bà B: Thiên Cơ, Thái Âm gặp Thiên Mã

Gia Cát Lượng lấy tình cảm làm gốc mà vẫn đè nén được tình cảm; một lá số khác lại cho thấy một người có tinh hệ biến động, mà chỗ đỡ lại nằm ở cung phụ mẫu và cung điền trạch.

Mệnh tạo này "Thiên Cơ, Thái Âm" tọa thủ cung mệnh, có Thiên Mã đồng độ. "Thiên Cơ, Thái Âm" đã thuộc tinh hệ biến động bất định, lại gặp Thiên Mã càng làm tăng tính hiếu động, trôi nổi của chúng. Còn gặp Thiên Đồng, Đà La ở cung tài bạch; Thiên Lương Hóa Lộc ở cung sự nghiệp; có khả năng đời người lên xuống thất thường, nhưng cũng có thể chỉ thuộc người có tư tưởng thất thường, cần phải xem xét cung phụ mẫu và cung điền trạch mà định.

Tinh bàn bà B, dương nữ Kim tứ cục, cung mệnh Dần có Thiên Cơ, Thái Âm, Thiên Mã

Cung phụ mẫu gặp hai cặp sao đôi Văn Khúc, Văn Xương, và Tả Phụ, Hữu Bật, nhưng chỉ gặp sao lẻ Thiên Khôi, lại có Hồng Loan, Hàm Trì, chỉ ứng có hai mẹ mà thôi, được cha mẹ dạy dỗ.

Cung điền trạch lại gặp các sao khoa văn, sao đào hoa nặng, gặp Vũ Khúc Hóa Kị cùng với Phá Quân đến hội, là điểm lúc nhỏ mẹ mất, cha tục huyền nhưng dạy dỗ chẳng thiếu sót.

Cung phụ mẫu và cung điền trạch đều có Hỏa Tinh, Linh Tinh chiếu xạ, cung mệnh lại gặp Thiên Mã, là ứng lúc nhỏ đã xa nhà, hiện giờ đang du học, tình huống này đã thành hiện tượng rất phổ biến.

Xem đến cung phúc đức. Cự Môn ở cung Thìn lạc hãm, Kình Dương, Đà La chiếu xạ tuy có tác dụng kích phát; nhưng các sao chúng hội lại là Thái Dương, Thái Âm, Thiên Cơ, Thiên Đồng, toàn thuộc loại hiếu động, trôi nổi. Phối hợp luận đoán với sao của cung mệnh, người này thuộc loại có học nhưng không có thực chất. Tức thích học tập nhiều ngành, ngay cả những tri thức không có liên quan gì đến nghề nghiệp của mình, nhưng đều bỏ dở nửa chừng.

Mệnh tạo này đắc lực ở hai cung cát là điền trạch và phụ mẫu. Nếu không tốt, thì tính tình có thể bị ảnh hưởng xấu, khiến trở thành người hay chỉ trích người khác, không theo một nghề, đời người sẽ gặp khá nhiều gập gềnh, bất đắc chí.

Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tam Hợp Phái

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Tam Hợp Phái