Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Tam Hợp Phái

Bài tổng quan

Cung Giao Hữu và người dưới quyền qua sáu chính tinh đầu

Tử Vi Nam Phái - Tam Hợp Phái21/09/202626 phút đọc4 lượt đọc
Cung Giao Hữu và người dưới quyền qua sáu chính tinh đầu

Tử Vi ở cung Giao Hữu mà được bách quan triều củng trọn vẹn quá, người dưới quyền lại nắm nhiều quyền đến mức chẳng coi mệnh tạo ra gì. Cung xưa gọi là Nô Bộc này không chỉ nói chuyện bạn bè, mà là chuyện ai nâng đỡ, ai lấn át, ai sẽ quay lưng...


SAO Ở CUNG GIAO HỮU QUÁ MẠNH THÌ NGƯỜI DƯỚI QUYỀN LẤN ÁT, QUÁ YẾU THÌ VIỆC GÌ CŨNG PHẢI TỰ TAY MÌNH LÀM. Cung xưa gọi là Nô Bộc này nay được mở rộng ra xem cả bạn bè, nhưng vẫn nghiêng về hậu bối và người có vai thấp hơn, nên chỗ cần tìm luôn là thế trung hòa giữa cung mệnh và cung Giao Hữu. Sáu chính tinh đầu, từ Tử Vi đến Liêm Trinh, cho sáu kiểu quan hệ rất khác nhau.

Cung Giao Hữu, xưa gọi là cung Nô Bộc

Cung Giao Hữu xưa gọi là "cung Nô Bộc", dùng để luận đoán mối quan hệ nhân tế với nô bộc dưới quyền. Ngày nay đổi lại gọi là "cung Giao Hữu", và mở rộng phạm vi luận đoán để xem xét mối quan hệ bạn bè; điều này thực ra chưa hoàn toàn chính xác. Bạn bè mà cung này hiển thị vẫn mang tính chất hậu bối, hay người có vai thấp hơn, nhưng lại không phải là người do bản thân mệnh tạo dìu dắt, giúp đỡ (như môn sinh đệ tử, thì xem cung Tử Nữ). Nếu luận đoán bạn bè ngang vai thì vẫn cần phải xem cung Huynh Đệ. Cung Giao Hữu đối nhau với cung Huynh Đệ, cũng có ảnh hưởng quan trọng.

Anh em nhiều hay ít là xem tinh hệ chính diệu của cung Huynh Đệ để luận đoán. Nhưng bạn bè tương giao ngang vai nhiều hay ít, ngoài trừ cung Huynh Đệ, vẫn xem ảnh hưởng của tinh hệ chính diệu ở cung Giao Hữu mà định. Có điều, cung Huynh Đệ cũng có thể hiển thị bạn tri giao nhiều hay ít, thậm chí anh em có thân thiết hay không, quan hệ bạn bè như thế nào, đều có thể luận đoán.

Tính chất của các sao ở cung Giao Hữu đương nhiên có thể hiển thị quan hệ tương giao, nhưng nếu tổ hợp sao quá mạnh mà các sao ở cung mệnh thì yếu, lại chủ bị người có vai thấp hơn lấn át.

Nếu các sao ở cung mệnh quá mạnh, các sao ở cung Giao Hữu quá yếu, lại chủ người có vai thấp hơn không trợ lực, phàm việc gì mệnh tạo cũng phải đích thân làm. Cho nên lúc luận về mối quan hệ nhân tế với hậu bối thân tín, người có vai thấp hơn, vẫn lấy trung hòa làm tiêu chuẩn.

Cổ nhân nói:

Lộc cư nô bộc, túng hữu quan dã bôn trì.

Nghĩa là sao lộc ở cung Nô Bộc thì dù có làm quan cũng bôn ba. Hễ cung Giao Hữu có Lộc Tồn thì Kình Dương và Đà La ắt sẽ chiếu xạ cung mệnh, cho nên thông thường đều chủ bôn ba.

Tử Vi ở cung Giao Hữu

Đế tinh ngồi ở cung của người dưới quyền thì câu hỏi đầu tiên là ai đang thật sự nắm quyền.

Tử Vi thủ cung Giao Hữu không ưa gặp các sao sát, kị, hình, hao, vì sẽ chủ người dưới quyền ương ngạnh mà còn không đắc lực, thậm chí lấy oán báo ân. Nhưng nếu gặp "bách quan triều củng" quá hoàn mĩ thì lại chủ người dưới quyền có quá nhiều quyền uy, phần nhiều chẳng coi mệnh tạo không ra gì. Đây là đại cương về Tử Vi thủ cung Giao Hữu.

Tử Vi độc tọa ở hai cung Tí hoặc Ngọ, nếu là "tại dã cô quân" thì người dưới quyền ương ngạnh mà còn bất nghĩa. Nhất là gặp Địa Không, Địa Kiếp thì càng đúng.

Tử Vi độc tọa ở hai cung Tí hoặc Ngọ, hội Tham Lang Hóa Kị ở đối cung, nếu lại gặp các sao hình, kị, sát, sẽ chủ bị thuộc hạ đoạt quyền. Nếu gặp các sao đào hoa, chủ không được xảy ra tình cảm với thuộc cấp khác giới.

Tử Vi độc tọa ở hai cung Tí hoặc Ngọ, có sao phụ, tá cát hội hợp, người dưới quyền tuy trung thành, có thể nhờ cậy, nhưng cũng nên đề phòng quyền lực bị chuyển dời. Cung mệnh có Tả Phụ, Hữu Bật; Tử Vi thủ cung Giao Hữu, hội Văn Xương, Văn Khúc; thì hai bên quan hệ tốt lành, nếu nói kết giao thì có thể được người bạn trung hậu.

"Tử Vi, Phá Quân" gặp các sao phụ, tá cát, chủ người dưới quyền đắc lực, dễ toan tính phát triển riêng, nên bản thân mệnh tạo thường cảm thấy thiếu trợ lực. Gặp sát tinh chủ bị bạn bè hoặc người dưới quyền gây lụy. Nếu lại gặp Địa Không, Địa Kiếp, chủ vì người dưới quyền thân tín mà sự nghiệp bị tổn thất.

"Tử Vi, Phá Quân" hội Vũ Khúc Hóa Kị, gặp sát tinh, cần phải đề phòng người dưới quyền phát triển riêng, làm tổn thất lợi ích của bản thân mệnh tạo. Nếu Liêm Trinh Hóa Kị thì đề phòng bị người dưới quyền uy hiếp.

"Tử Vi, Thiên Phủ" ở cung Giao Hữu, được bạn chất phác dám nói lời thẳng, khuyên can. Nhưng nếu gặp các sao phụ, tá cát, trừ phi toàn tâm mang sự nghiệp giao hết cho người thân tín, nếu không, rốt cuộc sẽ khó mà nghĩ tới quan hệ song phương. Nếu Thiên Phủ là "kho lộ", "kho trống", hoặc có các sao sát, kị, hình hội hợp, thì cũng cần đề phòng người dưới quyền xâm phạm lợi ích. Gặp Vũ Khúc Hóa Kị; hoặc đồng cung với Đà La, Linh Tinh; sẽ chủ bị thuộc hạ gây lụy. Gặp Liêm Trinh Hóa Kị, hoặc đồng cung với Kình Dương và Hỏa Tinh, sẽ chủ bị người dưới quyền phản bội.

"Tử Vi, Tham Lang" đồng cung với các sao đào hoa, Văn Xương, Văn Khúc, cũng chủ không nên xảy ra tình cảm với người khác giới dưới quyền. Tham Lang Hóa Kị thì càng đúng; nếu không chủ bị thuộc hạ đoạt quyền. Trường hợp đồng cung với Hỏa Tinh, Linh Tinh, chủ quan hệ giữa chủ và người làm hay quan hệ hợp tác không thể kéo dài. Rất ưa Thiên Đồng ở cung mệnh Hóa Lộc, chủ được người dưới quyền phò trợ, bản thân tuy vất vả nhưng mối quan hệ cũng tốt đẹp.

"Tử Vi, Thiên Tướng" ở cung Giao Hữu là kết cấu không cát tường, trừ phi vợ chồng cùng nhau phát triển sự nghiệp, nếu không khó mà nhờ cậy được người dưới quyền. Có điều, trường hợp này cung Phu Thê sẽ vô chính diệu, mượn "Thiên Tướng, Cự Môn" để an sao, cho nên cần phải kết hôn muộn mới được người bạn đời giúp đỡ về sự nghiệp. Nếu Thiên Phủ là "kho lộ", "kho trống", lại gặp sát tinh, chủ vì bạn mà phá tài, hoặc chủ bị người dưới quyền gây lụy mà gây ra tổn thất.

"Tử Vi, Thất Sát" ở cung Giao Hữu thì quyền lực quá nặng; gặp cát tinh chủ có thể kết giao bạn bè tốt. Nhưng cần đề phòng thuộc cấp quá nặng quyền lực mà gây nên bất lợi cho bản thân mệnh tạo. Rất ngại gặp Tử Vi Hóa Quyền, hội Vũ Khúc Hóa Kị, sẽ chủ thuộc cấp lộng quyền khiến sự nghiệp của bản thân mệnh tạo bị thất bại; nếu lại đồng độ với Đà La thì không nên vì bạn bè hay người dưới quyền mà ra mặt, nếu không sẽ tự chuốc trắc trở, thất bại.

Thiên Cơ ở cung Giao Hữu

Đế tinh lo người dưới lấn quyền, còn Thiên Cơ thì lo một chuyện khác: người đến rồi lại đi.

Thiên Cơ ở cung Giao Hữu thường thay đổi người dưới quyền; về phương diện bạn bè quen biết cũng hay thay đổi. Gặp các sao phụ, tá cát, đồng thời cũng gặp sát tinh, thì tình hình thuật ở trên càng rõ rệt.

Thiên Cơ nhập miếu thì bạn bè hoặc người dưới quyền đều có trợ lực; gặp các sao phụ, tá cát thì càng tốt. Cho nên các trường hợp như Thiên Cơ độc tọa ở hai cung Tí hoặc Ngọ, hoặc "Thiên Cơ, Thiên Lương" đồng độ ở hai cung Thìn hoặc Tuất là rất được.

Thiên Cơ gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh thì quan hệ thay đổi càng nhanh; dù gặp các sao phụ, tá cát cũng chỉ chủ trợ lực nhất thời.

Thiên Cơ đồng độ với Kình Dương, Đà La, chủ giữa bạn bè và người dưới quyền có nhiều bất hòa, tranh chấp, hoặc chủ bị gây lụy. Nếu gặp thêm Địa Không, Địa Kiếp thì tổn thất càng lớn.

Thiên Cơ Hóa Kị chủ hai bên đều có tư tâm; nếu lại gặp sát tinh thì chủ bị bạn bè hay người dưới quyền nói xấu, bêu rếu sau lưng.

Thiên Cơ Hóa Lộc ở cung Hợi, hội Thái Âm Hóa Kị ở cung Tị, chủ tin lầm tiểu nhân, giao du với người xấu. Gặp sát tinh thì bị gây lụy không ít; nếu gặp thêm các sao đào hoa hội hợp thì phải đề phòng vì sắc mà chuốc họa. Nếu có sao phụ, tá cát hội hợp thì mức độ bị gây lụy sẽ giảm bớt.

Thiên Cơ Hóa Lộc, không gặp Hóa Kị, tuy chủ giao du không thường, nhưng lại có thể được trợ lực. Thiên Cơ Hóa Quyền thì quan hệ với bạn bè khá ổn định, quan hệ với người dưới quyền cũng vậy.

Thiên Cơ gặp Thiên Lương đồng độ hoặc vây chiếu; ở cung Thìn hay cung Tuất ưu hơn ở cung Sửu hay cung Mùi. Ở hai cung Sửu hoặc Mùi, không gặp sát tinh, chỉ chủ quan hệ dễ xa cách.

"Thiên Cơ, Thiên Lương" gặp cát tinh, chủ có bạn hữu lớn tuổi có thể nhờ cậy, hoặc có thuộc hạ thân tín lớn tuổi mà đắc lực.

Thiên Cơ độc tọa ở hai cung Sửu hoặc Mùi bị lạc hãm, vì vậy gặp sát tinh thì dễ tự chuốc thị phi, oán trách, hay bị người dưới quyền phản bội; gặp thêm Địa Không, Địa Kiếp thì tổn thất càng lớn.

"Thiên Cơ, Thái Âm" đồng độ ở hai cung Dần hoặc Thân, và Thiên Cơ ở hai cung Tị hoặc Hợi là đối nhau với Thái Âm, đều chủ quan hệ không ổn định. Gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh thì càng nặng. Thiên Cơ Hóa Kị, hoặc Thái Âm Hóa Kị, lại gặp sát tinh, Thiên Hình, Đại Hao, Âm Sát, Thiên Diêu, đều chủ bị âm mưu hãm hại. Nếu Thái Âm nhập miếu, Hóa Lộc, lại gặp cát tinh, chủ nhờ bạn hay người dưới quyền mà kiếm được tiền.

"Thiên Cơ, Thái Âm" đồng cung với các sao đào hoa, Văn Xương, Văn Khúc, chủ phần nhiều giao du với bạn tửu sắc, người dưới quyền thân tín phần nhiều cũng thuộc loại a dua, nịnh hót.

Tổ hợp Thiên Cơ và Cự Môn, dù không gặp các sao sát, kị, cũng chủ dễ xảy ra hiểu lầm với người dưới quyền hoặc bạn bè. Người xưa nói, người mà "Thiên Cơ, Cự Môn" giao du thường lúc đầu tốt mà về sau xấu. Nếu lại Hóa Kị thì bất hòa, tranh chấp càng lớn; cần phải xem mức độ các sao sát, kị, hình, hao hội hợp mà định. Cho nên hễ Thiên Cơ gặp Cự Môn đồng cung hay vây chiếu, với bạn bè đều cần phải giữ khoảng cách, cũng không nên quá thân thiết với người dưới quyền, để tránh bị trở mặt.

"Thiên Cơ, Cự Môn" gặp Văn Xương, Văn Khúc và các sao đào hoa, nên đề phòng bọn người miệng lưỡi trơn tuột, nói năng ngọt ngào; gặp sát tinh thì bị tổn thất.

Thiên Cơ hội hợp các sao đào hoa, không chủ nữ sắc, mà chủ thân cận tiểu nhân.

Thiên Cơ Hóa Khoa chủ có bạn bè và người dưới quyền thành tín, nhưng không làm tăng sự ổn định, vẫn hay thay đổi người.

Thiên Cơ gặp Tả Phụ, Hữu Bật, chủ có nhiều bạn bè và người dưới quyền, nhưng cũng không làm tăng sự ổn định, vẫn hay thay đổi người.

Thái Dương ở cung Giao Hữu

Thiên Cơ đổi người liên tục, Thái Dương thì tỏa sáng cho nhiều người, nhưng ánh sáng ấy có lúc chỉ đổi lại sự vô ơn.

Thái Dương tuy chủ "động", nhưng chỉ khi nhập miếu mới giao du rộng; nếu lạc hãm thì người quen biết không nhiều, cũng không nói tới giao tình (chỉ trường hợp "Thái Dương, Thái Âm" đồng độ ở cung Sửu là vẫn chủ giao du rộng; đây là do ảnh hưởng của Thái Âm).

Thái Dương ở cung Giao Hữu lạc hãm, dù không gặp các sao sát, kị, cũng chủ thi ân mà chẳng được gì. Nếu gặp các sao sát, kị, càng chủ ân biến thành thù.

Hễ Thái Dương ở cung Giao Hữu thì cung mệnh ắt sẽ có Liêm Trinh tọa thủ. Người Liêm Trinh tọa mệnh phần nhiều ưa làm việc trong chính giới, mà hoạn lộ cũng thường có nhiều bạn tri giao. Cho nên Thái Dương lạc hãm, gặp sát tinh, thì không nên theo con đường sĩ hoạn; nếu không, hậu quả ân biến thành thù càng ác liệt hơn. Trường hợp gặp các sao phụ, tá, và được "bách quan triều củng", cung mệnh có các sao hữu lực, chủ có bạn quý.

Tổ hợp "Thái Dương, Thiên Lương", nếu Thái Dương nhập miếu, hoặc Thiên Lương Hóa Quyền hay Hóa Khoa, không gặp sát tinh, sẽ chủ có bạn bè tốt, dám nói thẳng, can ngăn, hoặc người dưới quyền chính trực. Nhưng "Thái Dương, Thiên Lương" khá cô lập, vì vậy nên chú ý các mối quan hệ nhân tế để bổ cứu mệnh vận. Gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh đồng độ, chủ dễ xa cách bạn tri giao. Nếu lại gặp Thiên Hình, Đại Hao, sẽ chủ bị bạn bè hay người dưới quyền soi bói, đả kích, dẫn đến bị tổn thất.

Thái Dương, Thiên Lương, Thiên Hình, Đại Hao, gặp tứ sát và Địa Không, Địa Kiếp, chủ bạn bè hay người dưới quyền lấy oán báo ân, không những gây điều tiếng mà còn nói xấu, gièm pha; do đó mà hao tài, sự nghiệp tổn thất.

Tổ hợp Thái Dương và Cự Môn, không gặp các sao sát, kị, đã chủ điều tiếng; nếu gặp các sao sát, kị, thì chủ phạm pháp, kiện tụng. Thái Dương Hóa Kị chủ nhận lỗi thay cho người khác.

Nếu Thái Dương và Cự Môn một sao Hóa Quyền, một sao Hóa Lộc, sẽ chủ có bạn bè nước ngoài, còn được lợi ích. Nếu lại gặp cát tinh vây chiếu hay hội hợp thì chủ được nâng đỡ.

Tổ hợp Thái Dương và Cự Môn thủ cung Giao Hữu, trường hợp Thái Dương ở cung Hợi là xấu nhất; lúc này cung mệnh là "Liêm Trinh, Thiên Tướng", có đặc tính hợp tác với người khác, ỷ lại người khác, nhưng nếu cung Huynh Đệ và cung Giao Hữu đều xấu thì vợ chồng nên đồng lòng.

Tổ hợp "Thái Dương, Thái Âm" cần phải gặp các sao phụ, tá mới chủ có bạn bè và người dưới quyền trợ lực. Nếu không, giao du rộng chỉ mất công vô ích.

Thái Dương Hóa Lộc thì giao du rất rộng; nhưng không bằng Thái Âm Hóa Lộc, Hóa Quyền, hay Hóa Khoa, còn được giúp ích thực tế.

Nếu Thái Dương Hóa Kị chủ tự chuốc thị phi, oán trách; Thái Âm Hóa Kị thì đề phòng bị bạn bè dụ dỗ đầu tư gây ra tổn thất.

"Thái Âm, Thái Dương" ở cung Giao Hữu, gặp Tả Phụ, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc đồng độ hoặc giáp cung, không những giao du rộng mà còn có nhiều người dưới quyền. Nhưng nếu đồng thời gặp thêm sát tinh thì không được ích lợi gì.

Thái Dương đồng độ với sao không, gặp cát tinh, phần nhiều chỉ giao du qua loa, nhưng cũng có hai ba tri kỉ. Nếu gặp thêm Văn Xương, Văn Khúc, thì hai bên không những trái ngược nhau mà còn đều có thể đứng riêng. Người làm việc trong chính giới hay kinh doanh buôn bán mà gặp mệnh cục này cũng không hợp, chỉ hợp với người theo đuổi nghệ thuật.

Thái Dương đồng độ với Kình Dương làm tăng thị phi; đồng độ với Đà La chủ bị gây lụy; đồng độ với Hỏa Tinh, Linh Tinh chủ nhiều tranh chấp; Thái Dương Hóa Lộc chủ giao du rộng; Thái Dương Hóa Quyền chủ quan hệ dễ ổn định; Thái Dương Hóa Khoa chủ phần nhiều chỉ qua lại sơ sơ; được "bách quan triều củng" mà gặp sát tinh cũng chủ phần nhiều chỉ qua lại sơ sơ.

Vũ Khúc ở cung Giao Hữu

Vầng mặt trời trao ánh sáng, còn sao tài Vũ Khúc thì trao tiền bạc, nên chuyện bạn bè của nó hay dính đến chữ lợi.

Vũ Khúc ở sáu cung Tí, Ngọ, Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thủ cung Giao Hữu, chủ giao du rộng. Tức là ba tinh hệ "Vũ Khúc, Thiên Phủ", "Vũ Khúc, Tham Lang", Vũ Khúc đối nhau với Tham Lang; nhưng tổ hợp Vũ Khúc và Tham Lang phần nhiều là bạn tửu sắc, cho nên chỉ còn "Vũ Khúc, Thiên Phủ" ở hai cung Tí hoặc Ngọ mới chủ có nhiều bạn bè hữu ích.

Vũ Khúc Hóa Lộc ở cung Giao Hữu, cần phải gặp Tả Phụ, Hữu Bật mới chủ người dưới quyền đắc lực; nếu không có Tả Phụ, Hữu Bật, sẽ chủ vì bạn bè hay người dưới quyền mà phải bôn ba, lao tâm tổn thần. Nếu Vũ Khúc Hóa Kị sẽ chủ bị người dưới quyền xâm phạm, bị bạn bè lợi dụng, hoặc vì bạn bè, người dưới quyền gây lụy mà gây nên tổn thất.

Vũ Khúc Hóa Kị đồng độ với Hỏa Tinh, Linh Tinh, chủ bị bạn bè hay người dưới quyền bán đứng. Đồng độ với Kình Dương, Đà La, chủ gặp nhiều trắc trở, tranh chấp, phản bội; gặp thêm Địa Không, Địa Kiếp thì hao tổn rất nặng.

Chỉ trong tình hình "Vũ Khúc, Thiên Phủ" đồng độ, gặp sao lộc (cũng không nên có Lộc Tồn đồng độ), lại gặp thêm cát tinh, mới chủ giao du rộng, còn có nhiều trợ lực.

"Vũ Khúc, Thiên Phủ" thủ cung Giao Hữu, mà Thiên Phủ là "kho lộ", "kho trống", chủ vì bạn bè hay người dưới quyền phá tài.

"Vũ Khúc, Tham Lang" thủ cung Giao Hữu thì có nhiều bạn bè ăn uống, tiệc tùng; đồng cung với các sao đào hoa thì càng nặng; nếu gặp thêm các sao sát, kị, hình, hao, không, kiếp, thì vì vậy mà chuốc họa, hoặc bị kiện tụng, phạm pháp.

"Vũ Khúc, Tham Lang" đồng độ với Hỏa Tinh, Linh Tinh, thì giao du với bạn bè trước nồng ấm sau nguội lạnh, thậm chí còn có kết cục rất xấu; gặp sát tinh thì càng nặng.

"Vũ Khúc, Tham Lang" thủ cung Giao Hữu mà Tham Lang Hóa Kị, cũng chủ bị chiếm đoạt. Nếu Tham Lang Hóa Lộc thì không nên gặp các sao đào hoa và Văn Xương, Văn Khúc, nếu không sẽ có nhiều bạn tửu sắc. Nếu gặp cát tinh thì chủ được trợ lực và gặp cơ hội là nhờ ăn uống, tiệc tùng.

"Vũ Khúc, Thiên Tướng" thủ cung Giao Hữu, gặp "Hình kị giáp ấn", sẽ chủ bị bạn bè hay người dưới quyền bán đứng, còn bị uy hiếp.

"Vũ Khúc, Thiên Tướng" thủ cung Giao Hữu mà "Tài ấm giáp ấn", chủ bạn bè có thể để giúp cho cơ hội, trong số thuộc cấp dưới quyền có người thành thực, có thể phụ giúp trong sự nghiệp.

"Vũ Khúc, Thiên Tướng" không ưa Vũ Khúc Hóa Kị, chủ bị gây lụy; cũng không ưa hội Liêm Trinh Hóa Kị, chủ tranh chấp tiền bạc, hay bị người dưới quyền xâm phạm.

"Vũ Khúc, Thiên Tướng" hội Thiên Phủ là "kho lộ", "kho trống", chủ vì bạn mà phá tài, hoặc vì bạn bè và người dưới quyền mà ra mặt, dẫn đến tự chuốc thị phi. Nếu Thiên Phủ là "kho phủ đầy ắp" thì không những giao du rộng mà còn được trợ lực.

"Vũ Khúc, Thất Sát" không nên có sát tinh đồng độ, chủ bị bạn bè hay người dưới quyền bán đứng.

"Vũ Khúc, Thất Sát" gặp Liêm Trinh Hóa Lộc, chủ được trợ lực, nhưng không lâu dài. Tham Lang Hóa Lộc sẽ chủ tình cảm trước nồng ấm sau nguội lạnh; gặp Phá Quân Hóa Lộc thì trợ lực lúc có lúc không; nếu Phá Quân Hóa Kị thì có kết cục rất xấu.

"Vũ Khúc, Thất Sát" mà Vũ Khúc Hóa Kị, bị Hỏa Tinh và Linh Tinh giáp cung, chủ vì bạn bè hay người dưới quyền mà sự nghiệp thất bại.

"Vũ Khúc, Phá Quân" nếu không Hóa Lộc, chủ có bạn bè hay người dưới quyền khẩu thị tâm phi. Gặp các sao sát, kị, hình, hao, không, kiếp, thì bị gây lụy mà hao tài; nặng thì dẫn đến thất bại.

Hễ Vũ Khúc tọa cung Giao Hữu, tính chất cơ bản là bất lợi; giao du không rộng, người dưới quyền vô lực. Nhưng nếu gặp Thiên Phủ đồng độ hoặc vây chiếu thì giao du nhiều, nhưng vẫn không đắc lực. Gặp cát tinh thì có thể có hai ba người bạn tri giao hoặc có trợ lực. Nếu gặp các sao sát, kị, thì chủ bị gây lụy, hoặc bị xâm phạm.

Thiên Đồng ở cung Giao Hữu

Sau sao tài khô cứng là Thiên Đồng, sao của tình cảm ôn hòa, nên bạn bè đến với nó dễ dàng hơn.

Thiên Đồng ở cung Giao Hữu chủ giao du rộng. Vì Thiên Đồng có tính chất tình cảm mà còn ôn hòa, cho nên dễ kết giao bạn bè; quan hệ với người dưới quyền cũng tốt. Gặp cát tinh thì trợ lực tăng lên.

Thiên Đồng Hóa Lộc thì giao du được bạn bè hữu ích; nếu Thiên Đồng Hóa Kị sẽ chủ thiếu trợ lực. Hóa Kị còn gặp sát tinh thì chủ có kết cục rất xấu.

Thiên Đồng đồng độ với Kình Dương, Đà La, sau trung niên mới có bạn bè hữu ích, trợ lực không thiếu. Có Hỏa Tinh, Linh Tinh đồng độ thì trợ lực không lâu dài.

Tổ hợp Thiên Đồng và Thái Âm, thông thường chủ có bạn bè hữu ích. Hóa Lộc thì giao du bạn bè ở nhiều phương diện; nhưng nếu không gặp cát tinh thì không thể kéo dài. Gặp sát tinh chủ bị bạn bè hay người dưới quyền gây lụy. Thái Âm Hóa Kị sẽ chủ phá tài, rất không nên hợp tác đầu tư với bạn bè. "Thiên Đồng, Thái Âm" đồng độ với Hỏa Tinh, Linh Tinh, chủ không được bạn bè hay người dưới quyền tôn trọng.

Tổ hợp Thiên Đồng và Cự Môn, dù không gặp sát tinh cũng chủ dễ sinh hiểu lầm; nếu gặp sát tinh sẽ chủ đổ vỡ tình cảm, tự chuốc thị phi, oán trách. Nếu "Thiên Đồng, Cự Môn" ở cung Giao Hữu thì cung mệnh ắt sẽ là Phá Quân, thường có khuynh hướng hợp tác với người khác làm việc, nhưng thường thường chia tay giữa đường, mà còn xảy ra hiểu lầm sâu nặng; gặp các sao sát, kị thì bị tổn thất.

Thiên Đồng chủ tình cảm, gặp Cự Môn đồng độ hay vây chiếu thì tình cảm bị ảnh hưởng của Cự Môn mà xảy ra "u ám", cho nên dễ sinh hiểu lầm. Nếu có sát tinh Địa Không, Địa Kiếp hội hợp, lại gặp Âm Sát, sẽ chủ giao du với người xấu mà bị gây lụy.

Tổ hợp Thiên Đồng và Thiên Lương chủ có bạn thẳng thắn; Thiên Lương Hóa Khoa thì càng tốt. Có điều, trong các tình huống thông thường đều chủ người lớn tuổi, cũng chủ có người dưới quyền nhờ cậy được. Nếu có Thiên Thọ đồng độ thì tuổi tác chênh lệch rất lớn.

"Thiên Đồng, Thiên Lương" ở cung Giao Hữu không nên Hóa Lộc, dù Thiên Đồng Hóa Lộc cũng không nên. Nếu không, sẽ chủ vì tiền mà gây hiểu lầm. Nếu gặp các sao sát, kị, hình, sẽ chủ bị tổn thất.

"Thiên Đồng, Thiên Lương" cũng chủ dễ chia li với bạn tri giao hoặc người dưới quyền đắc lực; gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh đồng độ, thường thường do bị hoàn cảnh ép buộc mà chia li với bạn tri giao hoặc người dưới quyền đắc lực. Gặp Lộc Tồn, Thiên Mã, sẽ chủ bản thân mệnh tạo thường vì bạn bè hay người dưới quyền mà phải bôn ba bận rộn.

Hễ Thiên Đồng tọa cung Giao Hữu, gặp Kình Dương, Đà La, chủ tự chuốc thị phi; gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh, chủ tự chuốc oán, hoặc quan hệ xa cách; gặp Địa Không, Địa Kiếp, chủ vì bạn bè hay người dưới quyền mà bị tổn thất, cũng chủ bị phản bội.

Thiên Đồng đồng độ với Lộc Tồn, chủ bản thân mệnh tạo rất nhiệt tình với bạn bè, thường vì bạn bè hay người dưới quyền mà bôn tẩu. Nếu gặp Lộc Tồn và Thiên Mã thì bạn bè hay người dưới quyền không ở yên một nơi, may mà bản thân thường rời xa quê hương, tứ hải là nhà. Cung mệnh có sao cát sẽ chủ sự nghiệp to tát.

"Thiên Đồng, Cự Môn" ở hai cung Sửu hoặc Mùi, và "Thiên Đồng, Thái Âm" ở cung Ngọ, đều rơi vào hãm địa. Thiên Đồng ở cung Thìn đối nhau với Cự Môn ở cung Tuất; Thiên Đồng ở cung Tuất đối nhau với Cự Môn ở cung Thìn; Cự Môn ở hai cung Thìn, Tuất đều lạc hãm, nên chủ thị phi rất lớn. Vì vậy, hễ Thiên Đồng thủ cung Giao Hữu, tuy giao du rộng, nhưng vẫn nên đề phòng không có hiệu quả tốt. Nhất là ứng nghiệm của Cự Môn, thường chủ đột nhiên xảy ra hiểu lầm.

Liêm Trinh ở cung Giao Hữu

Thiên Đồng kết giao bằng sự ôn hòa, Liêm Trinh cũng giao du rộng, nhưng tình của nó thường dừng ở bề ngoài.

Liêm Trinh thủ cung Giao Hữu cũng chủ giao du rộng, nhưng khác với Thiên Đồng. Thiên Đồng chủ kết giao rộng mà còn trọng giao tình, và không có khuynh hướng giao du bạn tửu sắc; cũng khác với Thiên Cơ, Thiên Cơ phần nhiều chỉ qua lại sơ sơ, nhưng chưa chắc thường thù tạc; phân biệt với Tham Lang, Tham Lang thì nặng ý vị tửu sắc, còn Liêm Trinh thì có thành phần tình cảm trong đó. Điều cần chú ý nhất là, Liêm Trinh có tình cảm, nhưng thường là bề ngoài, cho nên không có nhiều bạn thâm giao.

Liêm Trinh đồng độ với Hỏa Tinh, Linh Tinh, chủ tình cảm xung động. Vì vậy nên bình tĩnh, kềm chế quan hệ đối đãi với bạn bè và người dưới quyền; không nên vì xung động mà nhiệt tình quá đáng, cũng không nên vì xung động mà làm đổ vỡ tình cảm.

Liêm Trinh đồng độ với Kình Dương, Đà La, chủ vì tình cảm mà khởi thị phi. Nếu gặp thêm các sao Thiên Hình, Đại Hao, sẽ chủ hao tài, phá tán, tổn thất.

Liêm Trinh có Địa Không, Địa Kiếp đồng cung, chủ tình cảm dễ đổ vỡ, cũng chủ người dưới quyền phản bội, bỏ đi.

Liêm Trinh có sao cát hội hợp thì giao du rộng, có nhiều người dưới quyền, mà còn có trợ lực. Nếu Liêm Trinh Hóa Lộc càng chủ có ích lợi.

Liêm Trinh có Văn Xương, Văn Khúc đồng độ, phần nhiều là bạn thi tửu phong lưu; quan hệ với người dưới quyền cũng hòa hợp.

"Liêm Trinh, Thiên Tướng" không nên gặp các sao sát, kị, hình, hao, chủ bạn phá tài, hoặc bị người dưới quyền phản bội dẫn đến hao tài, phá tán. Bị "Hình kị giáp ấn", lại gặp sát tinh, cũng chủ bị bạn bè gây lụy, người dưới quyền oán trách.

"Liêm Trinh, Tham Lang" gặp Văn Xương, Văn Khúc, và các sao đào hoa, chủ phần nhiều là bạn bè tửu sắc; Liêm Trinh Hóa Kị thì vì vậy mà hao tài, phá tán; nếu Tham Lang Hóa Kị thì giao du nhiều nhưng toàn là bạn bè xấu. Nếu Liêm Trinh Hóa Lộc, lại hội sao cát, chủ nhờ giao tế thù tạc mà kiếm được tiền; cũng chủ giao hảo với người dưới quyền, có thể được họ trợ lực. Tham Lang Hóa Lộc thì trợ lực không lâu dài.

"Liêm Trinh, Tham Lang" nếu giao hội với các sao sát, kị, hình, hao, không, động, thì chủ vì bạn bè hay người dưới quyền mà tự chuốc tai họa, hoặc bị người dưới quyền bán đứng, hãm hại, dẫn đến phạm pháp, kiện tụng, phá tài, tổn thất.

"Liêm Trinh, Thiên Phủ" chủ có bạn bè hữu ích, người dưới quyền cũng có trợ lực. Có điều, nếu Thiên Phủ là "kho lộ", "kho trống", sẽ chủ tổn hao.

"Liêm Trinh, Thiên Phủ" cũng chủ giao du rộng; nhưng chỉ có trường hợp Thiên Phủ Hóa Khoa, Liêm Trinh Hóa Lộc, mới chủ có trợ lực, còn có thể kiếm được tiền; trường hợp có sao phụ, tá cát hội hợp thì có lợi cho sự nghiệp.

"Liêm Trinh, Phá Quân" gặp các sao sát, kị, hình, hao, chủ tình cảm với bạn bè dễ bị rạn nứt, người dưới quyền phần nhiều cũng phản bội, bỏ đi. Nếu Phá Quân Hóa Lộc sẽ chủ nhờ bạn bè mà được quen biết với người có trợ lực, cũng chủ người dưới quyền có thể vì mệnh tạo mà giải quyết những vấn đề khó khăn nghiêm trọng. Trường hợp Liêm Trinh Hóa Lộc chủ hay thay đổi bạn và người dưới quyền, nhưng lúc có mâu thuẫn hay cộng sự thì tỏ ra có giao tình. Nếu Liêm Trinh Hóa Kị, hoặc đồng độ với Kình Dương, đều dễ kết giao lầm tiểu nhân; có Hỏa Tinh, Linh Tinh đồng độ thì dễ xa cách.

"Liêm Trinh, Thất Sát" gặp các sao sát, kị, hình, chủ bị bạn bè hay người dưới quyền gây lụy. Có điều, nếu gặp Lộc Tồn, Hóa Lộc, lại gặp thêm cát tinh, thì có thể kiếm được tiền.

Hễ Liêm Trinh có Văn Khúc Hóa Kị đồng độ, chủ kết giao lầm tiểu nhân nên bị gây lụy; không nên nghe lời xu nịnh mà bị lừa.

Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tam Hợp Phái

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Tam Hợp Phái