Bài tổng quan
Cung Huynh Đệ qua mười bốn chính tinh và chuyện chung vốn
Cung huynh đệ thời nay không chỉ nói chuyện ruột thịt, nó còn là bạn bè, người hùn vốn, đồng sự ngồi cạnh mình mỗi ngày. Nhiều tổ hợp sao ở cung này đọc ra một câu nhắc: có nên chung tay làm ăn với ai không, và chung được bao lâu.
CUNG HUYNH ĐỆ KHÔNG CHỈ NÓI CHUYỆN ANH CHỊ EM RUỘT THỊT; Ở THỜI NAY NÓ CÒN LÀ BẠN BÈ, LÀ NGƯỜI CÙNG HÙN VỐN, LÀ ĐỒNG SỰ NGỒI CẠNH MÌNH MỖI NGÀY. Vì vậy mà nhiều tổ hợp sao ở cung này không đọc ra được chữ hình khắc, mà đọc ra một câu nhắc: người này có nên chung tay làm ăn với ai hay không, và nếu chung thì chung được bao lâu.
Tử Vi ở cung huynh đệ
Cung huynh đệ có Tử Vi độc tọa ở hai cung Tí hoặc Ngọ, được "bách quan triều củng" thì được nhờ anh lớn, chị lớn; nhưng cần phải tình nguyện ở địa vị thứ hai, làm phụ tá, mới có thể hợp tác với người khác làm việc. Nếu không đến đại vận hoặc lưu niên có cung huynh đệ là "Vũ Khúc, Thiên Tướng" cùng tọa thủ, hoặc Phá Quân độc tọa, gặp các sao sát, kị, thì quan hệ hợp tác sẽ đổ vỡ. Nếu là cách cục "tại dã cô quân" hoặc "vô đạo", chủ về khó nhờ anh chị em; hợp tác với người khác cũng dễ bị người ta lợi dụng.
"Tử Vi, Phá Quân" đồng độ ở hai cung Sửu hoặc Mùi, gặp sát tinh thì anh em kết thành phe, hoặc hình khắc bất hòa, có anh em khác mẹ. Ý nghĩa này suy rộng ra là quan hệ giữa bản thân mệnh tạo với các đồng sự cũng dễ kết thành phe đảng, mà còn tranh giành quyền lực, đấu đá nhau; gặp sát tinh thì càng đúng, gặp các sao phụ, tá cát thì khá bình hòa.
"Tử Vi, Thiên Phủ" đồng độ ở hai cung Dần hoặc Thân cũng chủ về được nhờ anh lớn, chị lớn; gặp các sao sát, kị, hình thì bị lợi dụng, gây lụy. Cũng có thể mang tính chất này suy rộng ra ở mỗi quan hệ với bạn hợp tác hoặc đồng sự. Trường hợp có các sao sát, kị, hình, lúc đến lưu niên "Tử Vi, Phá Quân" hay Thiên Tướng thủ cung huynh đệ, sẽ xảy ra ứng nghiệm không lành; nếu "Tử Vi, Phá Quân" ở cung huynh đệ của nguyên cục có sao sát hội chiếu, thì khi đến cung huynh đệ của lưu niên là "Vũ Khúc, Thất Sát" hoặc Thiên Phủ độc tọa, sẽ chủ về có ứng nghiệm tốt lành, có thể hợp tác với người khác sáng lập sự nghiệp. Tình hình cát thì thường thường sẽ ứng nghiệm lúc Vũ Khúc, "Thái Dương, Cự Môn", hay Thái Âm thủ cung huynh đệ của lưu niên; tình hình hung thường ứng nghiệm lúc Phá Quân, Thất Sát, Liêm Trinh, Thiên Tướng, hay Cự Môn thủ cung huynh đệ của lưu niên.
"Tử Vi, Tham Lang" đồng độ ở hai cung Mão hoặc Dậu thủ cung huynh đệ, gặp các sao đào hoa, chủ về trong anh chị em, chị gái là con trưởng; gặp sao không, trong anh chị em thì tình hình anh cả là xấu nhất. Gặp nhiều sao cát cũng chủ về được nhờ anh lớn; nếu gặp "Hỏa Tham" thì anh lớn giàu có, nhưng lại không giúp ích gì cho bản thân mệnh tạo. Nếu có các sao sát, kị, hình, hao tụ tập, chủ về bị phụ tá, chủ về loạn luân. "Tử Vi, Tham Lang" ở cung Mão, lúc hợp tác với người khác giỏi thưởng để sinh tình cảm, mà còn chuốc bất lợi. Năm ứng nghiệm thường là Thiên Đồng, Cự Môn thủ cung huynh đệ của lưu niên.
"Tử Vi, Thiên Tướng" đồng độ ở hai cung Thìn hoặc Tuất, cũng chủ về có anh em khác mẹ; nếu gặp Thiên Khôi, Thiên Việt, Tả Phụ, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc, thì thường thường có anh chị em sinh đôi. Gặp cát tinh thì có thể hợp tác tốt; gặp sao hung thì ý kiến trái ngược nhau, năm ứng nghiệm đều thường là lúc "Tử Vi, Thiên Tướng", Phá Quân, "Vũ Khúc, Thiên Phủ" thủ cung huynh đệ của lưu niên. Nếu phá sản, lỗ vốn, thì năm ứng nghiệm đều thường là lúc "Thiên Cơ, Cự Môn", Thiên Lương thủ cung huynh đệ của lưu niên.
"Tử Vi, Thất Sát" đồng độ ở hai cung Tị hoặc Hợi, gặp cát tinh thì trong anh em có người quyền quý, cũng chủ về có thể dựa dẫm bạn bè quyền quý. Nếu gặp sát tinh thì bị anh em hay bạn bè bắt nạt, hà hiếp. Trường hợp hội "Vũ Khúc, Tham Lang" đồng cung với Hỏa Tinh, Linh Tinh, lại có sao cát, chủ về nhờ anh em hay bạn bè giúp đỡ mà phát đạt. Cát thì ứng nghiệm lúc Thiên Tướng, "Thái Dương, Cự Môn" thủ cung hạn; hung thì ứng nghiệm lúc "Vũ Khúc, Tham Lang", "Liêm Trinh, Phá Quân" thủ cung hạn.
Thiên Cơ ở cung huynh đệ
Sang sao chủ về cơ động, chỗ đáng lưu ý không còn là nhiều hay ít anh em, mà là tình giao hảo bền được bao lâu.
Thiên Cơ độc tọa ở hai cung Tí hoặc Ngọ, gặp nhiều sao phụ, tá cát, cũng chủ về nhiều anh chị em. Cũng chủ về cuộc đời tuy giao du nhiều, nhưng khó gặp tri kỉ, hoặc có thì nửa chừng xa nhau. Nếu gặp các sao sát, kị, hình thì dễ bị anh em hoặc bạn bè gây lụy, phạm có chuyện là bản thân mệnh tạo tự xuất đầu lộ diện, đứng ra gánh vác. Tinh hệ này không nên đến các cung hạn Thái Dương Hóa Kị, Thái Âm Hóa Kị, chủ về bị anh em, bạn bè gây lụy; bản thân mệnh tạo ưa hợp tác với người khác, trừ phi sao phụ, tá cát trùng trùng, nếu không thì dễ gặp người có cơ tâm, kết cục rất xấu.
Thiên Cơ độc tọa ở hai cung Sửu hoặc Mùi thủ cung huynh đệ, gặp sát tinh thì chủ về hình khắc, hoặc trong anh chị em có người sinh thiếu tháng, sinh khó; gặp thêm cát tinh cũng chủ về sinh non. Còn chủ về hợp tác với người mình không biết rõ, gây ra tổn thất. Nếu các sao sát, kị, hình trùng trùng, dễ xảy ra tranh chấp, kiện tụng với anh em hoặc bạn bè. Năm ứng nghiệm thường là lúc "Thái Dương, Cự Môn", Thiên Lương thủ cung huynh đệ của lưu niên; nếu gặp tình hình cát, sẽ chủ về có anh em, bạn bè vì bản thân mệnh tạo mà phải bôn ba.
"Thiên Cơ, Thái Âm" đồng độ ở hai cung Dần hoặc Thân, gặp Hóa Kị thì giữa anh em, bạn bè dễ sinh âm mưu thủ đoạn; cần phải gặp cát tinh mới có thể bình hòa, nhưng vẫn thiếu trợ lực. Gặp các sao phụ, tá cát thì cuộc đời được anh em, bạn bè giúp sức; hợp tác với người khác tuy không thể lâu dài, nhưng thường thường sử dụng được người ta. Nếu gặp thêm "Lộc Mã giao trì" thì có bạn bè ở phương xa trợ lực. Gặp sát tinh, anh em hay bạn trí giao sống lưu lạc khắp nơi.
"Thiên Cơ, Cự Môn" đồng độ ở hai cung Mão hoặc Dậu, gặp sát tinh chủ về lúc đầu tốt sau xấu; gặp cát tinh thì được nhiều trợ lực tạm thời, không nên mưu cầu quan hệ hợp tác lâu dài. Tinh hệ này cũng chủ về nhiều bạn bè thù tạc, ăn uống. Nếu không nên đến cung hạn "Sát, Phá, Lang" thủ cung huynh đệ; gặp các sao sát, kị, chủ về tuyệt giao, thị phi, kiện tụng.
"Thiên Cơ, Thiên Lương" đồng độ ở hai cung Thìn hoặc Tuất thủ cung huynh đệ, chủ về trong anh chị em có người sinh thiếu tháng; cũng chủ về nửa chừng chia tay với bạn trí giao hoặc người hợp tác. Gặp các sao phụ, tá chỉ làm tăng số người, mà không thay đổi tính chất. Cũng chủ về có bạn giỏi biện luận; gặp cát tinh là bạn tốt, dám nói thẳng, can ngăn. Gặp cát tinh, phần nhiều ứng nghiệm lúc "Thái Dương, Cự Môn", "Vũ Khúc, Tham Lang" thủ cung huynh đệ của đại vận hoặc lưu niên; gặp sát tinh, phần nhiều ứng nghiệm lúc "Thái Dương, Cự Môn", "Liêm Trinh, Phá Quân", "Vũ Khúc, Tham Lang" thủ cung huynh đệ của đại vận hoặc lưu niên.
Thiên Cơ ở hai cung Tị hoặc Hợi thủ cung huynh đệ, dù không có sát tinh cũng chủ về anh em hoặc bạn bè trở mặt nhau, hiếm có bạn trí giao. Cần phải gặp các sao phụ, tá mới chủ về giao du rộng, nhưng vẫn hiếm bạn trí giao. Tinh hệ này không nên hợp tác với người khác, chủ về có thủ đoạn chiếm đoạt tài sản chung; gặp cát tinh, chỉ nên nhờ trợ lực tạm thời. Thường ứng nghiệm cát hung lúc "Thiên Đồng, Cự Môn", "Vũ Khúc, Thiên Tướng", "Liêm Trinh, Thiên Phủ" thủ cung huynh đệ của đại vận hoặc lưu niên.
Thái Dương ở cung huynh đệ
Với mặt trời đặt ở cung này, sáng hay tối quyết định cả cách anh em nói năng với nhau.
Thái Dương ở hai cung Tí hoặc Ngọ, thủ cung huynh đệ ở cung Tí thì vô lực, ở cung Ngọ thì tuy quý mà không có thực chất, cuộc đời có chỗ khiếm khuyết. Ở cung Tí dễ bị bạn bè soi bói, bới móc; ở cung Ngọ thì có bạn tốt, dám nói thẳng, can ngăn. Gặp các sao sát, kị, anh cả mất, hoặc chủ về vì anh em, bạn bè mà bị phiền phức. Thái Dương ở hai cung này, anh em và bạn trí giao đều dễ li tán; gặp cát tinh thì sau khi xa cách vẫn được trợ lực. Cung hạn Thiên Đồng là thời gian ứng nghiệm sự cố bất lợi.
"Thái Âm, Thái Dương" đồng độ ở hai cung Sửu hoặc Mùi, cùng thủ cung huynh đệ, trong các tình hình thông thường chủ về nhiều anh em, nhiều bạn bè. Nhập miếu và gặp các sao phụ, tá thì được trợ lực; lạc hãm và gặp các sao sát, kị, sẽ chủ về xảy ra tình hình bị tổn hại, hình khắc, lợi dụng. Nếu các sao cát hung lẫn lộn, phần nhiều chỉ qua lại sơ sơ. Đến đại hạn hay lưu niên "Thiên Cơ, Cự Môn" thủ cung huynh đệ, tuyệt đối không nên hợp tác với người khác, chủ về đổ vỡ, gây lụy. Trường hợp ở cung Sửu, nếu Thái Dương Hóa Kị, chủ về bị anh em hoặc bạn bè gây tổn thương, họa hại; trường hợp ở cung Mùi, nếu Thái Âm Hóa Kị, chủ về bị anh em hoặc bạn bè phá tài.
"Thái Dương, Cự Môn" đồng độ ở hai cung Dần hoặc Thân, gặp cát tinh thì được anh em, bạn bè trợ lực, nên phát triển quan hệ nghề nghiệp giữa hai bên. Nếu Hóa Quyền hay Hóa Lộc, chủ về được bạn bè nước ngoài giúp đỡ; Hóa Kị, chủ về anh em, bạn bè lúc đầu tốt sau xấu, xảy ra bất hòa, tranh chấp cực lớn. Năm ứng nghiệm là các cung hạn "Thiên Cơ, Thiên Lương", "Thiên Đồng, Thái Âm". Ở cung Dần thì giao du khá rộng; ở cung Thân, phần nhiều chỉ qua lại sơ sơ. Có các sao cát tụ tập, chủ về bản thân mệnh tạo được anh em, bạn bè phục dịch.
"Thái Dương, Thiên Lương" đồng độ ở hai cung Mão hoặc Dậu, thủ cung huynh đệ, gặp sát tinh, chủ về anh em xa cách, không được trợ lực. Gặp các sao hình kị, chủ về anh em hoặc bạn bè tranh chấp tài sản. Gặp các sao phụ, tá cát, thì có thể nhờ cậy anh chị em, hoặc được bạn bè giúp đỡ. Ở cung Mão ưu hơn ở cung Dậu. Năm ứng nghiệm là lúc cung huynh đệ đến bản cung "Thái Dương, Thiên Lương", hay lúc cung huynh đệ đến đối cung của bản cung.
Thái Dương ở hai cung Thìn hoặc Tuất, trường hợp ở cung Thìn phần nhiều anh em hòa hợp; trường hợp ở cung Tuất phần nhiều anh em bất hòa. Ở cung Thìn phần nhiều có bạn bè khác giới, hay bạn bè nước ngoài; gặp cát tinh còn được trợ lực. Thái Dương Hóa Kị ở cung Thìn cũng chủ về phần nhiều có bạn bè nước ngoài; Thái Dương Hóa Kị ở cung Tuất, chủ về anh em, bạn bè gây nhiều điều tiếng thị phi. Ở hai cung này gặp cát tinh, chủ về có thể hợp tác với bạn bè, nhưng ở cung Tuất thì không được lâu dài. Năm ứng nghiệm là đến các cung hạn "Thiên Đồng, Thiên Lương", Thiên Cơ, Cự Môn thủ cung huynh đệ của đại vận hoặc lưu niên.
Thái Dương ở hai cung Tị hoặc Hợi, gặp cát tinh, chủ về giao du rộng: trường hợp ở cung Tị là chủ động, trường hợp ở cung Hợi là bị động. Ở cung Tị phần nhiều là bạn bè người ngoại quốc hay người ở phương xa. Thái Dương Hóa Kị ở cung Tị, chủ về bạn trí giao li tán; ở cung Hợi thì chủ về hay tranh chấp thị phi với bạn bè hoặc anh em. Thái Dương ở cung Tị được cát hóa, gặp các sao phụ, tá, chủ về hợp tác với người khác rất tốt đẹp; ở cung Hợi thì bình thường. Năm ứng nghiệm là đến các cung hạn Thái Dương, Cự Môn, Thiên Lương, Thiên Đồng thủ cung huynh đệ.
Vũ Khúc ở cung huynh đệ
Sao cô quả đặt vào cung anh em, và câu hỏi trở thành: người này có nên chung vốn với ai không.
"Vũ Khúc, Thiên Phủ" đồng độ ở hai cung Tí hoặc Ngọ, có sao cát nhiều mới chủ về hòa hợp; hơi gặp sát tinh thì chỉ bằng mặt mà không bằng lòng. Nếu có cát hóa cũng không được trợ lực, trừ phi cung mệnh gặp Tả Phụ, Hữu Bật, mới chủ về được anh em, bạn bè tương trợ. Gặp các sao sát, kị, hình, chủ về bị anh em, bạn bè gây lụy; không gặp sao lộc thì bị lợi dụng tranh đoạt. Cho nên hễ "Vũ Khúc, Thiên Phủ" thủ cung huynh đệ, thông thường không nên hợp tác với người khác. Năm ứng nghiệm là đến các cung hạn "Thiên Cơ, Cự Môn", Phá Quân, "Tử Vi, Thiên Tướng" thủ cung huynh đệ.
"Vũ Khúc, Tham Lang" đồng độ ở hai cung Sửu hoặc Mùi, được cát hóa, có sao cát, chủ về được anh em, bạn bè giúp đỡ, nhưng không được tranh quyền. Gặp các sao sát, kị, hình, thì trái lại, chủ về bản thân mệnh tạo gặp đỡ anh em, bạn bè. Ở cung Mùi ưu hơn ở cung Sửu. Nếu có Hỏa Tinh, Linh Tinh đồng cung, không có các sao hình, kị, mà hai cung thân mệnh lại hội sao cát và được cát hóa, chủ về nhờ anh em, bạn bè mà hoạnh phát. Nếu các sao sát, kị, hình trùng trùng, mà các sao ở hai cung thân mệnh lại yếu, chủ về cuộc đời bị anh em, bạn bè kềm chế.
"Vũ Khúc, Thiên Tướng" đồng độ ở hai cung Dần hoặc Thân, gặp cát tinh sẽ chủ về được trợ lực; gặp sát tinh, hoặc "Hình kị giáp ấn", thì chủ động giúp bạn bè mà còn bị liên lụy. Thường năm ứng nghiệm là cung hạn "Thiên Đồng, Cự Môn" thủ cung huynh đệ. Tinh hệ này lại chủ về anh em hoặc bạn bè tương trợ về nghề nghiệp; có nhiều sao đào hoa lại gặp các sao sát, kị, thì người bạn đời dễ bị bạn bè của bản thân mệnh tạo quyến rũ, dụ dỗ.
"Vũ Khúc, Thất Sát" đồng độ ở hai cung Mão hoặc Dậu, gặp sát tinh, chủ về giữa anh em, bạn bè có tranh chấp tiền bạc; gặp các sao phụ, tá cát, cát hóa, chủ về được trợ lực một thời gian ngắn. Nếu hợp tác với người khác, cần phải đề phòng họ lộng quyền, xâm phạm lợi ích, vì vậy không nên hợp tác. Ứng nghiệm bất lợi thường là năm đến các cung hạn Thiên Cơ, Cự Môn, "Tử Vi, Phá Quân", Thiên Đồng, Thiên Lương thủ cung huynh đệ.
Vũ Khúc ở hai cung Thìn hoặc Tuất, gặp cát tinh, chủ về anh em, bạn bè hòa hợp, nhưng ít được trợ lực; gặp các sao sát, kị, hình thì không được trợ lực, thậm chí còn bị liên lụy. Nếu Kình Dương, Đà La giáp Vũ Khúc Hóa Kị, thì chủ về vì anh em, bạn bè mà bản thân mệnh tạo bị thương tổn, hoặc hao tài rất lớn. Gặp sát tinh, chủ về bị anh em, bạn bè đoạt quyền, vì vậy không nên hợp tác. Ứng nghiệm bất lợi thường là năm đến cung hạn "Vũ Khúc, Phá Quân", Thất Sát thủ cung huynh đệ.
"Vũ Khúc, Phá Quân" ở hai cung Tị hoặc Hợi, dù gặp cát tinh cũng không chủ về được anh em, bạn bè trợ lực, hợp tác cũng không lâu dài. Gặp các sao sát, kị, hình thì chủ về bị anh em, bạn bè gây trắc trở; nhưng giao du với người ngoại quốc hay người ở xứ khác thì tình hình tốt hơn. Nếu hội Liêm Trinh Hóa Kị và "Vũ Khúc, Phá Quân" lại có Hỏa Tinh, Linh Tinh cùng bay đến, chủ về vì anh em hoặc bạn bè mà xảy ra tai nạn chảy máu. Hễ Vũ Khúc ở cung huynh đệ mà gặp Kình Dương hoặc Hỏa Tinh đồng độ, đều chủ về tranh chấp tiền bạc; có sát tinh Địa Không, Địa Kiếp đồng độ, chủ về ít anh em, bạn bè, bản thân mệnh tạo thường cảm thấy bị cô lập.
Thiên Đồng ở cung huynh đệ
Phúc tinh ở cung này thường cho số đông, nhưng số đông không có nghĩa là có chỗ dựa.
"Thiên Đồng, Thái Âm" đồng độ ở hai cung Tí hoặc Ngọ, chủ về nhiều anh em, nhưng trong anh chị em thì chị gái là con đầu. Gặp các sao sát, kị thì trong anh chị em, có anh lớn khó nuôi, chị gái là con đầu thì tốt hơn. Ở cung Tí hoặc Ngọ mà gặp cát tinh thì chỉ chủ về anh em hiền hòa, không trợ lực, bạn bè trợ lực cũng ít. Gặp các sao sát, kị, hình, còn gặp thêm Địa Không, Địa Kiếp, chủ về trong anh em có người bị thiểu năng trí tuệ, còn chủ về bị bạn bè gây lụy. Tinh hệ này hợp tác với bạn bè thường thiếu trách nhiệm; gặp sát tinh thì đổ vỡ tình cảm.
"Thiên Đồng, Cự Môn" đồng độ ở hai cung Sửu hoặc Mùi, gặp sao lộc ắt sẽ xảy ra tranh chấp; gặp sát tinh thì dễ có kết cục rất xấu. Gặp cát tinh cũng chủ về được trợ lực nhất thời, vì vậy không nên có kế hoạch hợp tác lâu dài. Tinh hệ này chủ về mệnh tạo thường do xung động mà hùn vốn với người khác; đến niên hạn các sao Thái Âm, Thiên Cơ, "Thiên Đồng, Cự Môn" thủ cung huynh đệ, sẽ dễ xảy ra tranh chấp.
"Thiên Đồng, Thiên Lương" đồng độ ở hai cung Dần hoặc Thân, hơi gặp sát tinh, chủ về anh em hoặc bạn bè bề ngoài thì vui vẻ, nhưng trong lòng thì ngấm đố kị. Gặp sát tinh nặng, chủ về xảy ra tranh chấp, đấu đá với người hợp tác; gặp cát tinh thì hòa hợp nhưng dễ li tán. Nếu có các sao sát, hình tụ tập, không có anh em trai nhưng có chị em gái. Gặp Văn Xương, Văn Khúc, hoặc gặp Thiên Khôi, Thiên Việt, mà không gặp Tả Phụ, Hữu Bật, chủ về có anh chị em khác mẹ. Các niên hạn Thiên Tướng, Cự Môn thủ cung huynh đệ là thời kì ứng nghiệm đấu đá, tranh chấp, li tán.
Thiên Đồng độc tọa ở hai cung Mão hoặc Dậu: ở cung Mão anh em năm người, ở cung Dậu chỉ anh em ba người, nên là chị cả, nếu là anh cả thì khó nuôi. Tinh hệ này cũng chủ về giao du rộng, nhưng được trợ lực thực tế không lớn; hơi gặp sát tinh, phần nhiều là bạn tửu sắc. Gặp Văn Xương, Văn Khúc thì nhiều chị em gái, ít anh em trai; nếu gặp sao lẻ Thiên Khôi hay Thiên Việt, chủ về anh em khác mẹ.
Thiên Đồng ở hai cung Thìn hoặc Tuất, thủ cung huynh đệ, thường có tranh chấp vô vị giữa anh em hoặc bạn bè. Gặp sát tinh nặng, sẽ chủ về bị gây lụy, hoặc xảy ra đổ vỡ nghiêm trọng. Gặp các sao phụ, tá cát, cũng chủ về nhiều anh em, hoặc giao du rộng, có nhiều cơ hội hợp tác với bạn bè, nhưng chuyện gì cũng vẫn cần đích thân làm.
Thiên Đồng độc tọa ở hai cung Tị hoặc Hợi, cũng chủ về nhiều anh em. Trong các tình hình thông thường, chị em gái nhiều hơn anh em trai, đồng thời cũng chủ về giao du rộng, nhất là hay kết giao với những người có địa vị không bằng mình. Tinh hệ này còn chủ về ngấm tranh chấp với người hợp tác làm ăn; gặp các sao sát, kị, hình nặng thì càng đúng. Có lúc, người bạn đời của mệnh tạo bất hòa với người bạn đời của anh em hay bạn bè, do đó xảy ra chuyện không hay. Niên hạn ứng nghiệm sự cố không hay thường là các cung hạn "Thiên Cơ, Cự Môn", Thiên Lương thủ cung huynh đệ. Hễ Thiên Đồng thủ cung huynh đệ, phần nhiều chủ về anh em hòa hợp; có sát tinh phần nhiều bề ngoài vẫn hòa hợp. Còn chủ về là mệnh tạo có thể kết giao với người ở tầng lớp dưới, không được trợ lực nhiều trong thực tế.
Liêm Trinh, Thiên Phủ, Thái Âm ở cung huynh đệ
Ba sao này đều xoay quanh một chữ: chữ tín giữa người với người.
"Liêm Trinh, Thiên Tướng" ở hai cung Tí hoặc Ngọ, không có sát tinh, chủ về tình cảm hòa hợp, còn được bạn bè trợ lực, giao du không rộng lắm nhưng cũng nhiều bạn bè. Gặp các sao sát, kị, hình trùng trùng, sẽ chủ về trong anh em có người bị tàn tật, hoặc chủ về kết giao càng thân càng dễ trở mặt thành thù; sát tinh nhẹ thì mức độ giảm nhẹ. Năm ứng nghiệm sự cố trở mặt thường là các cung hạn Thái Dương, Thiên Lương, Cự Môn thủ cung huynh đệ. Tinh hệ này chủ về không nên kết giao bừa bãi, nếu không dễ xảy ra tranh chấp; năm ứng nghiệm thường là cung hạn Phá Quân thủ cung huynh đệ.
"Liêm Trinh, Thất Sát" ở hai cung Sửu hoặc Mùi, gặp Quyền Lộc và các sao cát, chủ về anh em hòa hợp; gặp sát tinh sẽ chủ về bề ngoài hòa hợp, không được trợ lực; nếu lại gặp sao kị, chủ về vì anh em hoặc bạn bè mà bị tổn thương, hao tài. Năm ứng nghiệm thường là lúc cung huynh đệ của lưu niên gặp các sao sát, kị, hình, hao.
Liêm Trinh độc tọa ở hai cung Dần hoặc Thân, chủ về tình cảm anh em tốt đẹp, nhưng không được trợ lực trong thực tế; đối với bạn bè, giao du càng thân thì càng dễ chuốc oán. Vì vậy không nên hợp tác làm ăn với bạn bè; nếu gặp sát tinh thì không quá dà năm sẽ trở mặt. Năm ứng nghiệm thường vào các cung hạn Phá Quân, "Tử Vi, Thiên Tướng" thủ cung huynh đệ.
"Liêm Trinh, Phá Quân" đồng độ ở hai cung Mão hoặc Dậu, gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh, anh em hoặc bạn trí giao trở thành thù địch; gặp cát tinh và cát hóa, có thể hòa hợp lâu dài, còn có thể hợp tác làm ăn, chủ về đắc lực. Nếu gặp sao lẻ phụ, tá, chủ về anh em khác mẹ, cũng chủ về xảy ra tranh chấp với bạn bè. Nếu Liêm Trinh Hóa Kị thì bị gây lụy rất lớn; năm ứng nghiệm thường là lúc đến cung hạn có sao kị xung khởi Liêm Trinh Hóa Kị.
"Liêm Trinh, Thiên Phủ" ở hai cung Thìn hoặc Tuất, chủ về nhiều anh em, giao du cũng khá rộng. Có điều Thiên Phủ không được là "kho lộ", "kho trống", mới cát; nếu không sẽ chủ về bị lợi dụng, gây lụy. Nếu có các sao sát, kị, chủ về giữa những người bạn đời của anh em dễ xảy ra bất hòa, hoặc giữa những người bạn đời của bạn bè xảy ra bất hòa. Nếu gặp Hàm Trì, Đại Hao, Thiên Diêu, Mộc Dục, mà cung mệnh gặp Hồng Loan, Thiên Hỉ, chủ về dễ xảy ra tình huống thầm yêu người bạn đời của anh em hay bạn hợp tác làm ăn; gặp sát tinh thì vì vậy mà gây ra họa lớn.
"Liêm Trinh, Tham Lang" ở hai cung Tị hoặc Hợi, dễ xảy ra oán trách giữa anh em hoặc bạn trí giao, vì vậy không nên hợp tác làm ăn với bạn bè. Gặp Tham Lang Hóa Kị, chủ về bị anh em hoặc bạn hợp tác sai khiến mà vẫn bị oán trách; nhưng bạn hợp tác rất có năng lực làm việc, vì vậy cần phải khéo léo xử sự. Gặp thêm Liêm Trinh Hóa Kị thì còn gặp thêm sát tinh, chủ về bị oán trách rất nặng. Hễ Liêm Trinh thủ cung huynh đệ, giữa anh em, bạn bè đừng nên quá thân mật; nhưng nếu có cát hóa và sao cát tụ tập thì được trợ lực, lúc này cần phải xử sự khéo léo.
Hễ Thiên Phủ thủ cung huynh đệ, không nên là "kho lộ", "kho trống", nếu không sẽ bị anh em hoặc bạn bè lợi dụng, gây lụy. Hội Thiên Diêu, Thiên Hư, Đại Hao, chủ về anh em hoặc bạn bè có âm mưu, thủ đoạn. Gặp một cặp trong số các sao phụ, tá, nhưng sao khác thì gặp "sao lẻ", chủ về anh em khác mẹ; gặp các sao sát, kị, hình, chủ về ít anh em trai hoặc chủ về nhiều anh em nhưng có hình khắc; gặp các sao phụ, tá mới chủ về nhiều anh em. Thiên Phủ rất ngại hội Liêm Trinh Hóa Kị, chủ về bị anh em hoặc bạn trí giao trở mặt, ân biến thành oán; cũng ngại hội Vũ Khúc Hóa Kị, chủ về vì anh em hoặc bạn bè mà phá tài; sát tinh nặng là điểm tượng tranh chấp tiền bạc.
Thái Âm thủ cung huynh đệ nhập miếu, người sinh vào ban đêm rất tốt; lạc hãm, đối với trường hợp người sinh vào ban đêm, cần phải gặp cát tinh mới chủ về anh em hòa hợp; nếu gặp sát tinh, phần nhiều có hình khắc hoặc bất hòa. Đối với người sinh vào ban ngày, dù nhập miếu cũng không hòa hợp; gặp sát tinh thì chủ về hình khắc, bất hòa; gặp cát tinh mới hòa hợp, nhưng cũng có những khiếm khuyết đáng tiếc. Nếu người sinh vào ban ngày gặp Thái Âm lạc hãm thì hình khắc rất nặng. Thái Âm thủ cung huynh đệ có sao hình, phần nhiều chủ về có chị em gái, khác với Thái Dương thủ cung huynh đệ có sao hình thì chủ về có anh em trai. Thái Âm Hóa Kị thủ cung huynh đệ mà không có sát tinh, tuy chủ về bị anh em hay bạn bè hợp tác gây lụy, nhưng phần nhiều là do vô tình chứ không cố ý. Thái Âm Hóa Kị ở cung Hợi, thủ cung huynh đệ, nam mệnh thì trái lại sẽ chủ về được chị em gái trợ lực, hoặc nên hợp tác làm ăn với phái nữ.
Tham Lang, Cự Môn, Thiên Tướng, Thiên Lương, Thất Sát, Phá Quân ở cung huynh đệ
Sáu sao còn lại của cung huynh đệ, mỗi sao một lối, nhưng đều dẫn về chuyện chung vốn và giữ tình.
Tham Lang thủ cung huynh đệ, ngoài trừ ở hai cung Tị hoặc Hợi là Tham Lang ở hãm địa, trong các tình hình thông thường đều chủ về anh em hòa mục, cũng chủ về giao du rộng. Nhưng nếu không được cát hóa và có sao cát, phần nhiều là bạn bè tửu sắc. Tham Lang ở hai cung Tị hoặc Hợi là hãm địa, sao đôi mà gặp lẻ, còn gặp sao đào hoa, phần nhiều chủ về có anh em khác mẹ; gặp sát tinh thì giữa anh em hay bạn trí giao dễ xảy ra oán trách, hoặc ý kiến khác nhau. Nếu Tham Lang Hóa Kị, chủ về bị gây lụy. Tham Lang thủ cung huynh đệ, nếu đồng độ với Hỏa Tinh, Linh Tinh, gặp Thiên Thọ, chủ về được anh em hoặc bạn hợp tác trợ lực; gặp các sao sát, kị thì chủ về đột nhiên bị gây lụy, khi chuyện chưa xảy ra không có dấu hiệu gì báo trước. Tham Lang ở cung huynh đệ mà thành cách cục "Phiếm thủy đào hoa", bình sinh nhiều bạn bè tửu sắc, thường vì vậy mà bị gây lụy; thành cách cục "Phong lưu thái trượng" cũng vậy. Tham Lang ở cung huynh đệ rất ngại Vũ Khúc Hóa Kị và Tham Lang Hóa Kị tương chiếu, nếu lại gặp cách "Linh Xương Đà Vũ", sẽ chủ về bị gây lụy mà thất bại, hoặc dẫn đến tai nạn bất trắc.
Cự Môn ở cung huynh đệ, có sao ác đồng cung, phần nhiều chủ về cốt nhục tương tàn. Dù có sao phụ, tá cát, hoặc được cát hóa, cũng chỉ chủ về trong anh em có người thành tựu, mà chẳng chủ về tình cảm anh em sâu nặng. Hơi gặp sát tinh, thì nhiều thị phi. Nếu có các sao sát, kị, hình tụ tập, sẽ chủ về bị anh em liên lụy, dẫn đến kiện tụng, hao tài. Cho nên phàm là Cự Môn thủ cung huynh đệ, tuyệt đối không nên hợp tác làm ăn với người khác; nhưng trường hợp "Thái Dương, Cự Môn" thủ cung huynh đệ thì có thể hợp tác với người ngoại quốc hay người ở phương xa. Cổ nhân nói "Cự Môn giao du với người, lúc đầu tốt sau xấu", cho nên Cự Môn ở cung huynh đệ thì không nên thâm giao với bạn bè tửu sắc, chỉ nên giao du với quân tử. Cự Môn thủ cung huynh đệ, bề ngoài thì bạn bè nhiều, nhưng một khi thâm giao thì dễ đính tới chuyện lén lút, có thể vì vậy mà chuốc họa; gặp các sao sát, kị, hình là đúng.
Thiên Tướng bay đến cung huynh đệ, cần chú ý hai cách cục "Hình kị giáp ấn" và "Tài ấm giáp ấn", không được chỉ xem xét các sao hội chiếu Thiên Tướng. Nếu là "Hình kị giáp ấn", thì chủ về bị anh em hoặc bạn bè gây lụy rất nặng; nếu là "Tài ấm giáp ấn", sẽ chủ về được anh em hoặc bạn bè trợ lực. Năm ứng nghiệm là cung hạn có "giáp ấn" ở cung huynh đệ của lưu niên. Thiên Tướng rất mẫn cảm đối với ba sao Vũ Khúc, Liêm Trinh, Phá Quân; ba sao này hóa cát thì cát, Hóa Kị hoặc thêm sát tinh thì hung. Thiên Tướng gặp Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phụ, Hữu Bật giáp cung hoặc hội hợp, mà không có các sao hư, hao, sát, hình, thì chủ về có anh em sinh đôi, nhưng phải là gia tộc có nhiều anh em sinh đôi mới đúng. Thiên Tướng thủ cung huynh đệ rất mẫn cảm đối với sát tinh; gặp tứ sát tinh và Địa Không, Địa Kiếp, phần nhiều chủ về cô độc, cũng chủ về có anh em là con nuôi, hay bản thân là con nuôi.
Thiên Lương thủ cung huynh đệ, nhập miếu thì hòa hợp, lạc hãm thì bất hòa; hội Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên Khôi, Thiên Việt thì hòa hợp; hội sát tinh thì bất hòa. Thiên Lương không có sao cát hội hợp, chủ về ít anh em trai, phần nhiều là khác mẹ; gặp các sao đào hoa, chủ về nhiều chị em gái, ít anh em trai. Thiên Lương ở tình hình cát, sẽ chủ về được anh em hoặc bạn bè ngấm trợ lực; ở tình hình hung sẽ chủ về bị ngấm tranh chấp, bài xích, chèn ép. Cát hung đều xảy ra ngấm, không công khai. Thiên Lương có tính chất "cô độc và hình khắc", nên dù gặp cát tinh cũng không nên hợp tác với người khác; trừ phi người hợp tác lui về hậu trường, để bản thân mệnh tạo là người ra mặt. Thiên Lương rất mẫn cảm đối với hai sao Thiên Cơ, Thái Âm: cát hóa thì hòa hợp và được trợ giúp; nếu Hóa Kị mà còn gặp sát tinh, thì chủ về anh em hay bạn hợp tác lộng quyền, hoặc có âm mưu quỷ kế. Thiên Lương có Thiên Diêu đồng độ, chủ về anh em hay bạn hợp tác là người thâm trầm, xảo quyệt; gặp thêm các sao sát, hình, và hội Thái Dương lạc hãm, sẽ chủ về kiện tụng, tranh chấp. Gặp kết cấu sao dạng này, không nên hợp tác với người khác.
Thất Sát thủ cung huynh đệ, gặp Lộc, Quyền, Khoa và Tả Phụ, Hữu Bật, thì chủ về nhiều anh em. Nếu cung mệnh gặp Tả Phụ, Hữu Bật mà Thất Sát ở cung huynh đệ tuy không hội các sao phụ, tá cát, cung chủ về nhiều anh em, nhưng có hình khắc hoặc bất hòa. Thất Sát ở cung huynh đệ, có sát tinh tụ hợp, sẽ chủ về cô độc; nếu gặp thêm Thiên Hình thì chủ về hình khắc, nếu không thì từ nhỏ anh em đã chia li. Nếu Thất Sát ở cung huynh đệ có các sao sát, hình, mà cung mệnh lại gặp Tả Phụ, Hữu Bật và các sao cát, là có cha mẹ "lưỡng trùng": ví dụ như bản thân mệnh tạo có nhiều anh em, sau khi cho làm con nuôi thì không có anh em, hoặc vốn nhiều anh em nhưng bị hình khắc mà thành cô độc. Nói "hình khắc", suốt đời tàn tật cũng là ứng nghiệm của "hình khắc". Hễ Thất Sát ở cung huynh đệ, cung mệnh ắt sẽ có Thái Âm ở đối cung, căn cứ Thái Âm miếu hay hãm, có thể trợ giúp luận đoán quan hệ nhân tế giữa anh em, bạn bè.
Phá Quân thủ cung huynh đệ, phần nhiều chủ về có khuyết điểm; hội sát tinh chủ về cô độc; hội các sao hình, kị thì anh em bị "hình khắc", bạn trí giao trở mặt. Dù hội các sao phụ, tá cát, cũng bất lợi về anh em hay chị cả; hợp tác với người khác cũng chủ về lập ra mà không chủ về thu hoạch. Phá Quân thủ cung huynh đệ, có thể không có anh em; nếu không, anh em tuổi tác chênh lệch rất nhiều, từ tám đến mười tuổi. Nếu có Hỏa Tinh, Linh Tinh đồng độ, còn gặp Địa Không, Địa Kiếp, chủ về anh em có cha mẹ "lưỡng trùng", như cho làm con nuôi, bị bỏ rơi lúc nhỏ; nếu không, sẽ chủ về chia li nơi khác. Cho nên gặp cách cục này, không nên hợp tác với người khác, nếu không sẽ dễ đổ vỡ giữa chừng. Phá Quân thủ cung huynh đệ, có sao phụ, tá cát tụ tập, có thể mượn lực của người khác mà sáng lập sự nghiệp; chú ý lúc có Lộc Tồn đồng độ thì tình hình sẽ ngược lại.
Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tam Hợp Phái
