Bài tổng quan
Cách Cục Về Lộc Và Nhật Nguyệt: Song Lộc, Hỏa Tham, Nhật Nguyệt Tịnh Minh
Thời xưa, văn nhân đỗ đạt mới là đường chính để tiến thân. Người lập nghiệp nhờ công lao nơi chiến trường bị xem là đi đường khác. Cổ ca về Tham Lang gặp Hỏa Tinh toàn nói chuyện tung hoành biên cương, nên hàm ý thật của cách này là phú quý không đến từ lối chính. Đặt vào xã hội buôn bán ngày nay, đó là tiền của bất ngờ, có khi phải qua tranh đấu và nguy hiểm mới tới tay. Song Lộc chầu về cung mệnh thì cho một lối giàu khác: cứ vài năm trong vòng mười hai năm lại một lần tài vận thông suốt. Còn Thái Dương, Thái Âm cùng thủ mệnh, cái tên nghe rực rỡ là thế, sao trong hai cung Sửu, Mùi luôn có một vầng thiếu sáng, và vì sao chỉ một thiên can trong mười mới hợp cách?
Quý tinh giáp mệnh cách
Liên quan đến kết cấu của cách cục "Quý tinh giáp mệnh", có nhiều cách giải thích khác nhau, dưới đây sẽ thảo luận tỉ mỉ, nhưng trước tiên chúng ta hãy xem bài cổ ca về cách cục này. Cổ ca nói:
命里无凶天贵夹,
吉星得遇好生涯,
若非翰墨文章士,
也是丰衣足食家.Phiên âm:
Mệnh lí vô hung thiên quý giáp,
Cát tinh đắc ngộ hảo sinh nhai,
Nhược phi hàn mặc văn chương sĩ,
Dã thị phong y túc thực gia.Dịch nghĩa:
Mệnh lí không hung sao quý giáp,
Gặp sao cát sinh nhai tốt đẹp,
Nếu không là văn chương chữ nghĩa,
Thì cũng là y thực đủ đầy.
Bài cổ ca nói cách cục này khá đơn giản, nhưng không dễ đáp ứng. Vì cách cục này có ba thuyết kết cấu khác nhau, như sau:
- Thuyết 1, cho rằng Thiên Khôi, Thiên Việt giáp cung mệnh.
- Thuyết 2, cho rằng Nhật Nguyệt và Tả Hữu giáp cung mệnh.
- Thuyết 3, cho rằng "Tử Vi, Thiên Phủ", Nhật Nguyệt và Tả Hữu giáp cung mệnh.
Vương Đình Chi cho rằng, thuyết 1 thì quá dễ. Phàm người sinh năm Bính Đinh thì Khôi Việt sẽ giáp cung Tuất, cơ hội xuất hiện quá lớn.
Thuyết 2 tương đối khó, được Nhật Nguyệt giáp mệnh, còn cần phải có Tả Phụ, Hữu Bật giáp mệnh, cơ hội xuất hiện không nhiều nhưng hợp lí, bởi vì, không phải mọi con đường đều có thể là "văn chương chữ nghĩa", "y thực đủ đầy".
Thuyết 3 rõ ràng là không thể, được Tử Vi và Thiên Phủ giáp mệnh, tất nhiên không thể được "Thái Dương, Thái Âm" giáp mệnh. Thuyết này nhất định có sự ngoa truyền.
Theo sự truyền dạy của sư phụ, Vương Đình Chi nói cách này phải là Thiên Khôi và Thiên Việt giáp mệnh, cung mệnh gặp Ân Quang và Thiên Quý (Xem hình 83), chủ về thi đỗ ra làm quan.

Lộc hợp uyên ương cách
Sao quý kèm hai bên cho danh phận; còn hai sao lộc tìm đến nhau thì cho thứ mà người xưa gọi bằng một chữ rộng hơn tiền bạc.
Cách cục "Lộc hợp uyên ương", tức là Lộc Tồn thủ mệnh, có Hóa Lộc ở cung hội hợp; hoặc Hóa Lộc thủ mệnh, có Lộc Tồn ở cung hội hợp. Nhưng không có tứ sát, hình, kị xung phá thì mới hợp cách (Xem hình 84).
Cổ ca nói:
禄合鸳鸯福气高,
欺人文武必英豪,
堆金积玉身荣贵,
爵位高迁衣紫袍.Phiên âm:
Lộc hợp uyên ương phúc khí cao,
Khi nhân văn vũ tất anh hào,
Đôi kim tích ngọc thân vinh quý,
Tước vị cao thiên y tử bào.Dịch nghĩa:
Lộc hợp uyên ương phước khí nhiều,
Hơn người văn vũ là anh hào,
Vàng ngọc đầy nhà thân vinh quý,
Tước vị áo bào thăng chức cao.
Cách cục này còn có thuyết khác, tức Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc không thủ cung mệnh, nhưng thủ cung phu thê, có sao lộc đến hợp. Nhưng kết cấu cách cục như vậy thì chỉ chủ về nhờ lấy vợ mà được tiền của vợ, không hợp với nguyên ý của bài cổ ca đã dẫn ở trên. Cho nên Vương Đình Chi chọn thuyết "Sao lộc thủ cung mệnh".

Cổ nhân luận mệnh số, lấy "lộc" làm chủ, cho nên còn gọi là "lộc mệnh". "Lộc" thực ra chẳng tương đương với "tài bạch" (tiền bạc của cải); ví dụ như "lộc" của "quan lộc", "lộc" của "tước lộc", tức có liên quan với thân phận địa vị của người đó, người có địa vị chưa chắc đã làm quan, cho nên mới xem lộc là "tài bạch".
"Lộc hợp uyên ương", là người có vàng bạc đầy nhà và có tước vị cao, tức phú quý song toàn. Trong xã hội cổ đại, cách luận đoán như vậy là rất đúng, nhưng trong xã hội thương nghiệp hiện đại, như đã thuật ở trên, địa vị xã hội của người giàu có cũng cao, vì vậy cách cục này có thể định thẳng là mệnh giàu có. Người làm quan có thể quý mà không phú, nếu làm quan mà giàu có một phương thì phần nhiều thuộc quan tham, do đó không phù hợp với cách này.
Dùng Đẩu Số để luận mệnh; thường thường cần phải căn cứ bối cảnh xã hội để luận đoán, không thể câu nệ thuyết xưa, cách này là thuộc loại như vậy. Bài cổ ca ở trên cần sửa đổi.
Song Lộc triều viên cách
Hai sao lộc không nhất thiết phải có một sao ngồi tại mệnh; chúng còn có thể đứng ở tam phương mà chầu về.
Cách cục "Song Lộc triều viên" có chỗ khác với "Lộc hợp uyên ương", trong "Lộc hợp uyên ương" là sao lộc thủ mệnh, và sao lộc khác đến hợp; còn "Song Lộc triều viên" thì cung mệnh không có sao lộc, nhưng Lộc Tồn và Hóa Lộc chia ra ở cung tam phương của cung mệnh. Như cung mệnh ở cung Tí, Lộc Tồn ở cung Thân, Hóa Lộc ở cung Thìn; ba cung Thân, Tí, Thìn tương hợp; hoặc sao lộc ở đối cung cũng có thể hợp cách. Cổ ca nói:
财官二处与迁移,
双禄逢之最有宜,
德合乾坤人敬重,
滔滔富贵世稀奇.Phiên âm:
Tài Quan nhị xứ dữ thiên di,
Song lộc phùng chi tối hữu nghi,
Đức hợp kiền khôn nhân kính trọng,
Thao thao phú quý thế hi kì.Dịch nghĩa:
Hai cung tài quan cùng thiên di,
Gặp được song lộc là rất nên,
Đức hợp kiền khôn người kính trọng,
Giàu sang phú quý thời rất hên.
Cách cục này nếu song lộc cùng thủ một cung thì không hợp cách. Mà cần phải một sao thủ cung tài bạch, một sao thủ cung quan lộc; hay một sao thủ cung tài bạch, một sao thủ cung thiên di; hoặc một thủ cung quan lộc, một thủ cung thiên di, như vậy mới là cách cục tốt. (Xem hình 85)

Nếu có sao Kị xung phá cung mệnh hoặc tam phương, thì cũng không thể gọi là hợp cách.
Chỗ hay của "Song Lộc triều viên" là dễ phát tài, nhất là song Lộc phân bố ở cung tam hợp, mỗi 12 năm là một vòng tuần hoàn, chí ít có 3 lần cung mệnh của lưu niên được song Lộc hội hợp, cách vài năm thì có một lần nguồn tiền tài thuận lợi, khí thế tài vận của cuộc đời người này nhờ vậy cũng dễ xuyên suốt.
Nhưng cách cục này có phân biệt cao thấp. Nếu sao thủ cung mệnh cát lợi mà còn có lực mạnh, thì cách cục cao. Nếu sao của cung mệnh có tính hiếu động, trôi nổi, như "Thiên Cơ, Cự Môn", thì cách cục thấp. Còn cần phải xem sự phân bố của tứ sát, cung mệnh hội sát tinh nhiều thì nhiều tiền mà cũng nhiều họa.
Tam hợp Hỏa Tham cách
Tiền đến đều đặn theo vòng mười hai năm là một lối giàu; còn có lối giàu đến như lửa bén, mà cũng dễ tàn như lửa.
Tham Lang thủ cung mệnh, có Hỏa Tinh đồng cung, lại không gặp các sát diệu còn lại, cũng không gặp Hóa Kị, Địa Không, Địa Kiếp, là cách tốt nhất (thượng cách) của "Hỏa Tham cách". Nếu Tham Lang thủ cung mệnh, Hỏa Tinh chỉ tương hội ở tam phương, không gặp sát tinh, cũng hợp cách, nhưng cách cục này kém hơn (Xem hình 86). Còn nếu có các sát tinh khác đồng cung với Hỏa Tinh, ví dụ như Kình Dương và Hỏa Tinh đồng độ, Đà La và Hỏa Tinh đồng độ, đều không hợp cách.
Cổ ca nói:
贪狼遇火必英雄,
指日边庭立大功,
更得福元临庙旺,
帐呼千万虎贲门.Phiên âm:
Tham Lang ngộ hoả tất anh hùng,
Chỉ nhật biên đình lập đại công,
Canh đắc phúc nguyên lâm miếu vượng,
Trướng hô thiên vạn hổ bí môn.Dịch nghĩa:
Tham Lang gặp Hoả tất anh hùng,
Tung hoành biên cương lập đại công,
Mệnh được nguồn phúc lâm miếu vượng,
Trướng hô ngàn vạn quân lính reo.

Theo Vương Đình Chi, bài cổ ca này, ngày nay cần phải sửa đổi triệt để. Thời cổ đại, văn nhân nhờ thi cử mà công danh phát đạt, được xem là con đường chính (chính lộ) để xuất thân, nhưng nếu nhờ công lao nơi chiến trường mà khởi nghiệp thì lại bị coi là "dị lộ" (không phải con đường chính, mà là con đường khác). Cho nên hàm nghĩa của "Hỏa Tham cách" là nói "lộc mệnh" của người này, phú quý không xuất phát từ con đường chính. Nếu đã hiểu được hàm nghĩa này, thì "Hỏa Tham cách" phần lớn là chủ về được tiền của bất ngờ; bởi vì trong xã hội thương nghiệp ngày nay ít có khả năng nhờ công lao nơi chiến trường mà lập nên sự nghiệp. Nhưng kiếm được tiền bạc có thuận lợi hay không, còn phải xem tổ hợp sao ở tam phương của cung mệnh mà định. Nếu hội hợp các sao không cát tường, thì càng có khả năng phải trải qua tranh đấu và nguy hiểm, đây là tính chất đặc thù của "Hỏa Tham cách".
Nhật Nguyệt hội minh cách
Rời chuyện tiền tài, mạch cách cục quay về hai vầng sáng lớn nhất của tinh bàn, và một lần nữa tên gọi đẹp không bảo đảm cho nội dung.
Cách cục "Nhật Nguyệt hội minh" là an mệnh ở cung Sửu, được Thái Âm ở cung Tị và Thái Dương ở cung Dậu tương hội; hoặc an mệnh ở cung Mùi, được Thái Dương ở cung Mão và Thái Âm ở cung Hợi tương hội (Xem hình 87, 88). Cổ ca nói:
二曜常明气象新,
少年学问扬声名,
几番升转功名盛,
定作朝中燮理人.Phiên âm:
Nhị diệu thường minh khí tượng tân,
Thiếu niên học vấn dương thanh danh,
Kỉ phiên thăng chuyển công danh thịnh,
Định tác triều trung nhiếp lí nhân.Dịch nghĩa:
Hai sao thường sáng khí tượng tân,
Thiếu niên học vấn đã dương danh,
Mấy phen thăng chuyển công danh thịnh,
Định làm tể tướng chốn triều đình.
Đây cũng là một cách cục vô lí, suy diễn mơ hồ. Vương Đình Chi phân tích cách cục này như sau. Lúc an mệnh ở cung Sửu là mệnh vô chính diệu, mượn "Thiên Đồng, Cự Môn" của đối cung để an cung, kết cấu chẳng được tốt. Thái Âm ở cung sự nghiệp là sao tiền tài, nhưng lạc hãm; ở cung tài bạch là Thái Dương, Thiên Lương, cũng chẳng chủ về vượng tài, nhiều lắm thì cũng chỉ có thể nói người này sang quý thanh cao, nhưng lại dễ chuốc oán. Không biết cách cục này tốt chỗ nào?


Lại xem tình hình thủ mệnh ở cung Mùi, cung tài bạch có Thái Dương, Thiên Lương nhập miếu, tốt một điểm, nhưng Thái Dương chẳng chủ về phú; cung sự nghiệp Thái Âm nhập miếu, cũng chỉ chủ về "tài phú của quan viên".
Thêm vào đó, "Thiên Đồng, Cự Môn" ở đối cung của cung mệnh bị "thất địa", Vương Đình Chi cho rằng đây chỉ là cách cục của nhân viên thu thuế.
Có người thêm vào cách cục này điều kiện "Văn Xương, Văn Khúc giáp cung", hoặc "Văn Xương, Văn Khúc đồng cung", nhưng như thế chỉ là sức mạnh của Văn Xương, Văn Khúc, không phải sức mạnh của Thái Âm, Thái Dương. Lấy tổ hợp tinh hệ của bản cung mà nói, thì không đủ để cho rằng tuổi trẻ đã làm quan cao.
Nhật Nguyệt tịnh minh cách
Hai vầng sáng hội chiếu từ xa đã vậy; khi cùng ngồi một cung, chúng lại thành một phép thử khác về sự do dự.
"Nhật Nguyệt tịnh minh cách" tức là an mệnh ở cung Sửu hoặc Mùi, Thái Dương và Thái Âm cùng thủ cung mệnh (Xem hình 89, 90). Cổ ca nói:
命宫日月喜相逢,
更遇科权在化中,
此命武官须建节,
文官定主位三公.Phiên âm:
Mệnh cung Nhật Nguyệt hỉ tương phùng,
Cánh ngộ Khoa Quyền tại hoá trung,
Thử mệnh vũ quan tu kiến tiết,
Văn quan định chủ vị tam công.Dịch nghĩa:
Cung mệnh Nhật Nguyệt thích tương phùng,
Nếu gặp Khoa Quyền ở trong cung,
Mệnh làm quan võ mà nên nghiệp,
Quan văn nhất định bậc tam công.
Người ở hai đời Minh Thanh khi luận mệnh, thích suy diễn mơ hồ, hơn nữa còn thích nhìn bề ngoài để xác nhận bản chất, nên cho rằng mệnh cách "Thái Âm, Thái Dương" là rất tốt. Nhưng về sau căn cứ vào đó để luận mệnh thì không ứng nghiệm, cho nên thêm vào điều kiện cung mệnh phải gặp Hóa Khoa và Hóa Quyền.
Trên thực tế, tình hình "Thái Âm, Thái Dương" đồng cung chỉ xuất hiện ở hai cung Sửu và Mùi. Khi ở cung Sửu, Thái Âm nhập miếu mà Thái Dương thất địa; tóm lại có một sao thiếu độ sáng, về căn bản không thể nói là "Nhật Nguyệt tịnh minh" (Nhật Nguyệt đều sáng).


Huống hồ, phàm "Thái Âm, Thái Dương" đồng cung, trong tam phương tứ chính nhất định sẽ có cung vô chính diệu, cung sự nghiệp là Thiên Lương lạc hãm đóng, cung tài bạch thì phải mượn "Thiên Cơ, Cự Môn" của đối cung, tính chất sao không được tốt, làm sao gọi là cách cục tốt được?
Nếu muốn nói trường hợp Hóa Khoa, Hóa Quyền hội hợp hoặc đồng cung, thì chỉ có người sinh năm Đinh hoặc Mậu là hợp cách; hơn nữa, chỉ có người sinh năm Mậu thì Thái Âm Hóa Quyền, Thái Dương Hóa Khoa, lại hội Lộc Tồn của cung Tị, là cách cục toàn mĩ. Mười thiên can mà chỉ quy về một thiên can, chỉ là miễn cưỡng tình cờ hợp cách, cách cục này khó tránh có chỗ thiên lệch, thiếu sót.
Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tam Hợp Phái
