Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Tam Hợp Phái

Bài tổng quan

Tham Lang Thủ Mệnh: Ba Cung Độc Tọa Và Cổ Quyết Bát Hỉ Sao Lâu

Tử Vi Nam Phái - Tam Hợp Phái19/09/202618 phút đọc6 lượt đọc
Tham Lang Thủ Mệnh: Ba Cung Độc Tọa Và Cổ Quyết Bát Hỉ Sao Lâu

Tham Lang độc tọa ở Tí Ngọ, bị Tử Vi đối cung kềm chế, chí hướng cao hơn nhưng mất luôn sở trường giao tế. Ở Dần Thân, đối cung là Liêm Trinh, người ấy ngạo khí, nhanh trí, hợp chính giới; ở cung Dần mà gặp sát tinh thì tuổi trẻ hiển đạt, song tai họa lao ngục cũng đi cùng sự nghiệp. Ở Thìn Tuất, đối cung là Vũ Khúc, gặp Hỏa Tinh hoặc Linh Tinh thành Hỏa Tham, Linh Tham tốt nhất, có thể thành cự phú nhưng phải qua một đại hạn mới phát. Cổ quyết nâng Tham Lang ở Tứ Mộ cùng Hỏa Linh lên bậc hầu bá, nhưng hội sát tinh không có sao cát thì hạ xuống hàng đồ tể. Ranh giới nào tách một bậc hào phú khỏi một kẻ luân lạc khi cả hai cùng mang sao Tham Lang?


Tham Lang Độc Tọa Cung Mệnh Tí Ngọ

Tham Lang độc tọa ở hai cung Tí hoặc Ngọ, đối cung là Tử Vi. Do ở cung Ngọ thì Tử Vi nhập miếu, nên Tham Lang của cung Tí (là đối cung) được ảnh hưởng tốt khá lớn. Còn ở cung Tí thì Tử Vi rơi vào nhàn địa, do đó Tham Lang của cung Ngọ (là đối cung) được ảnh hưởng tốt hơi ít.

Tử Vi đối với ảnh hưởng của Tham Lang, chủ yếu là giảm thiểu tính cách hiếu động trôi nổi, khiến người có Tham Lang đóng ở cung mệnh có khuynh hướng văn nghệ hoặc tôn giáo, triết lí. Nhưng ảnh hưởng này cũng chẳng hoàn toàn tốt, bởi vì sau khi Tham Lang bị Tử Vi kềm chế, đồng thời cũng sẽ mất đi sở trường giao tế, do đó tuy chí hướng cao thượng hơn, nhưng đời người lại gặp nhiều sóng gió, trắc trở hơn.

Tham Lang tọa cung Tí, tất nhiên sẽ chịu ảnh hưởng của Tử Vi khá lớn, do đó sẽ ưa tụ hội với Hỏa Tinh hoặc Linh Tinh. Lấy trường hợp "Linh Tham cách" tốt hơn, trường hợp "Hỏa Tham cách" là kế đó; chỉ cần không gặp thêm các sát tinh khác, thì trong đời ắt sẽ có một lần cơ hội phát lên một cách nhanh chóng, gặp sao lộc thì càng đẹp. Nếu gặp Địa Không, Địa Kiếp, Kình Dương, Đà La thì nên dùng nghề chuyên môn để mưu sinh, đồng thời dễ bị say đắm trong dục vọng, tửu sắc, mà tự cho mình là phong nhã.

Tham Lang ở cung Ngọ chịu ảnh hưởng của Tử Vi ít hơn, nếu ở tam phương tứ chính không có sát tinh, sao ác, thì có thể nắm quyền lớn về tài chính, là bậc hùng tài vĩ lược, gọi là cách "Mộc hỏa thông minh". Gặp Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc càng đẹp. Nếu có sát tinh là phá cách, chỉ nên kinh doanh làm ăn. Cũng ưa Hỏa Tinh, Linh Tinh đồng độ, lấy trường hợp "Hỏa Tham cách" làm thượng cách, "Linh Tham cách" là kế đó; cũng chủ về một đời ắt gặp cơ hội phát một cách đột ngột. Nhưng nếu là cách "Mộc hỏa thông minh" thì không gặp hai sao Hỏa Tinh, Linh Tinh.

Nếu không nhập cách "Hỏa Tham", "Linh Tham" hoặc "Mộc hỏa thông minh", dù có gặp sao lộc cũng không nên kinh doanh làm ăn, có thể làm những nghề có tính tiêu dùng, hoặc ở lãnh vực văn hóa văn nghệ. Nếu gặp các sao đào hoa, nên theo các nghề như nghệ thuật biểu diễn, trang điểm, làm tóc, thời trang.

Tham Lang không cần phải gặp sao đào hoa; ở cung Tí thì không ngại Hóa Kị, có thể lấy tính chất đào hoa chuyển hóa thành tài năng về phương diện văn nghệ; Hóa Kị ở cung Ngọ, thì chủ về là người đoạt tình, còn có thiên hướng giỏi trang điểm, thích chải chuốt.

Tham Lang Hóa Quyền thì cần không gặp sát tinh, nếu gặp tứ sát, trái lại sẽ chủ về vì thù tạc mà phá tài. Tham Lang Hóa Lộc cần đồng thời gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh; nếu không, tuy cũng chủ về có tiền nhưng số lượng không nhiều, lại còn dễ chuốc đào hoa.

Người sinh năm Thân, Tí, Thìn, an mệnh ở cung Tí; người sinh năm Dần, Ngọ, Tuất, an mệnh ở cung Ngọ; đều là Tham Lang nhập cung vượng, chủ về tham lợi nhỏ, còn dễ bị rắc rối khó xử về tình cảm. Tham Lang nhập vượng, ham muốn vật chất và dục tình đều nặng, nếu có các sao sát, kị cùng đến thì nhân phẩm kém.

Phàm Tham Lang ở cung mệnh, thì cung thân không nên gặp Thất Sát hoặc Phá Quân, nếu không dễ mê đắm tửu sắc, thậm chí háo sắc dâm bôn. Dù gặp cát tinh cũng chủ về hiếu động trôi nổi.

Nữ mệnh Tham Lang độc tọa, phần nhiều đều có sở thích. Tốt thì hội họa, khiêu vũ, làm đẹp, nhiếp ảnh, sưu tập tem, v.v...; không lành mạnh thì hút sách, rượu chè, cờ bạc... Nhưng đều có khuynh hướng sùng tín tôn giáo, chỉ trường hợp Tử Vi ở đối cung thiên di mới có thể nghiên cứu triết học.

Nữ mệnh Tham Lang độc tọa nhập miếu, gặp Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên Phúc, Thiên Quý, Thiên Quan, Thiên Khôi, Thiên Việt là chủ về quý; gặp Lộc Tồn, Hóa Lộc, Hỏa Tinh, Linh Tinh là chủ về phú. Đều có trí tuệ hơn chồng, tính tình cương nghị. Nếu ở cung lạc hãm thì chủ về làm kế thất.

Cung mệnh của đại hạn hoặc lưu niên gặp Tham Lang độc tọa, không có sát tinh, chủ về "khứ cựu canh tân" (bỏ cũ đổi mới), sự nghiệp tiền bạc đều có thăng tiến; gặp Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, thì mừng được thăng chức, hoặc kết hôn, sinh con; gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh thì chủ về mừng được đắc ý về tiền bạc một cách bất ngờ, có biểu hiện phát một cách đột ngột. Nếu gặp các sao sát, hình, kị, lại ở cung lạc hãm, thì chủ về vì giao tế mà xảy ra nạn tai; hoặc cờ bạc, đầu cơ thất bại; nếu gặp Hàm Trì, Thiên Diêu, thì vì sắc mà xảy ra nạn tai. Nhưng nếu có vợ sinh con thì điểm nạn tai hóa thành điểm lành.

Tham Lang Độc Tọa Cung Mệnh Dần Thân

Tham Lang độc tọa ở hai cung Dần hoặc Thân, đối cung ắt là Liêm Trinh, cho nên có ngạo khí và nhanh trí, tháo vát; thích hợp làm việc trong chính giới, hoặc đảm nhiệm chức vụ hành chính.

Tham Lang ở cung Dần, nếu có sát tinh hội chiếu, chủ về tuổi trẻ đã hiển đạt, đắc chí, thông minh nhưng chí cao khí ngạo, tai họa lao ngục thường cùng đến với sự nghiệp, phát mà không được lâu, cần phải đè nén tâm chí, kiểm soát hành vi mới có thể giữ được hưng thịnh và yên lành.

Tham Lang ở cung Thân, tuổi trẻ đường đời gặp nhiều gập ghềnh, trắc trở, sự nghiệp một đời nhờ phấn đấu gian khổ mà có, nhưng thường thì sau khi thành công dễ chìm đắm trong tửu sắc, kết quả lại quay trở về thất bại. Nếu không có sát tinh, thì từ tay trắng mà thành sự nghiệp lớn, tuy bị người ta chỉ trích, nhưng ở mặt khác cũng có người suy tôn. Nếu các sao sát, kị, hình, kiếp cùng đến, thì cũng dễ bị tai họa lao ngục, hoặc nếm mùi khổ sở đắng cay, lưu vong xứ người.

Tham Lang ở cung Dần hoặc Thân, ưa Hỏa Tinh, là "Hỏa Tham cách", gặp Linh Tinh thì không thành cách. "Hỏa Tham cách" cũng chủ về phát đột ngột; gặp Lộc Tồn, Hóa Lộc là tốt nhất; không gặp các sát tinh khác và Hóa Kị, Địa Không, Địa Kiếp, thì có thể kinh doanh làm ăn, nhưng nên có liên quan đến ngành nghề mang tính mĩ quan và tính tiêu dùng. Gặp Kình Dương và Đà La, tuy có thể phát đột ngột, nhưng không nên kinh doanh làm ăn, chỉ nên dùng nghề nghiệp liên quan đến tính mĩ quan và tính tiêu dùng để mưu sinh. Nếu gặp Địa Không, Địa Kiếp, thì trái lại, không nên làm những nghề nghiệp vừa kể, mà có thể theo ngành thiết kế kĩ thuật hoặc kĩ thuật công nghiệp.

Tham Lang không ưa gặp Văn Xương, Văn Khúc, vì chủ về làm việc hư giả nhiều mà thực chất ít, nhưng rất hào phóng. Tham Lang gặp Đà La ở cung Dần, gọi là "phong lưu thái trượng", chủ về vì sắc mà gây họa.

Tham Lang Hóa Quyền ở hai cung Dần và Thân, nữ mệnh nên kết hôn muộn, nếu không sẽ khó gặp đối tượng lí tưởng; nam mệnh thì được vợ giỏi việc, có điều bị vợ nắm giữ tiền bạc. Tham Lang cũng ưa gặp Hỏa Tinh đồng độ, chủ về có lợi lộc bất ngờ; phần nhiều làm nghề phải tiếp xúc với người khác giới.

Tham Lang Hóa Kị, thì đào hoa hóa thành tài nghệ, nhưng vẫn nên được Liêm Trinh Hóa Kị xung chiếu; nếu lại gặp thêm sát tinh, chủ về lúc bé nhiều bệnh, một đời tâm tình sầu khổ; trong vận hạn không tốt, đừng nên đi xa.

Phàm Tham Lang ở cung mệnh, thì cung thân không nên gặp Thất Sát hoặc Phá Quân, nếu không dễ mê đắm tửu sắc, thậm chí háo sắc dâm bôn. Dù gặp cát tinh cũng chủ về hiếu động trôi nổi.

Nữ mệnh Tham Lang độc tọa, phần nhiều đều có sở thích. Tốt thì hội họa, khiêu vũ, làm đẹp, nhiếp ảnh, sưu tập tem, v.v...; không lành mạnh thì hút sách, rượu chè, cờ bạc... Nhưng đều có khuynh hướng sùng tín tôn giáo, chỉ trường hợp Tử Vi ở đối cung thiên di mới có thể nghiên cứu triết học.

Nữ mệnh Tham Lang độc tọa nhập miếu, gặp Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên Phúc, Thiên Quý, Thiên Quan, Thiên Khôi, Thiên Việt là chủ về quý; gặp Lộc Tồn, Hóa Lộc, Hỏa Tinh, Linh Tinh là chủ về phú. Đều có trí tuệ hơn chồng, tính tình cương nghị. Nếu ở cung lạc hãm thì chủ về làm kế thất.

Cung mệnh của đại hạn hoặc lưu niên gặp Tham Lang độc tọa, không có sát tinh, chủ về "khứ cựu canh tân" (bỏ cũ đổi mới), sự nghiệp tiền bạc đều có thăng tiến; gặp Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, thì mừng được thăng chức, hoặc kết hôn, sinh con; gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh thì chủ về mừng được đắc ý về tiền bạc một cách bất ngờ, có biểu hiện phát một cách đột ngột. Nếu gặp các sao sát, hình, kị, lại ở cung lạc hãm, thì chủ về vì giao tế mà xảy ra nạn tai; hoặc cờ bạc, đầu cơ thất bại; nếu gặp Hàm Trì, Thiên Diêu, thì vì sắc mà xảy ra nạn tai. Nhưng nếu có vợ sinh con thì điểm nạn tai hóa thành điểm lành.

Tham Lang Độc Tọa Cung Mệnh Thìn Tuất

Tham Lang độc tọa ở hai cung Thìn hoặc Tuất, đối cung là Vũ Khúc. Vũ Khúc là sao chủ tài bạch, cho nên rất ưa Tham Lang đồng độ với Hỏa Tinh hoặc Linh Tinh, là "Hỏa Tham cách" và "Linh Tham cách" tốt nhất; có thể trở thành cự phú, hoặc nắm quyền lớn về kinh tế.

Nhưng do bị ảnh hưởng của Vũ Khúc nên chủ về chậm phát. Phải qua một đại hạn mới có thành tựu, vì vậy cần phải kiên nhẫn, chịu đựng trắc trở nửa đời người.

Nếu Tham Lang Hóa Kị, thì hóa đào hoa thành tài nghệ, nhưng vẫn chủ về có nhiều sở thích khác nhau. Nếu gặp Hóa Lộc và Kình Dương, Đà La hội chiếu, thì vì tiền bạc mà tranh chấp. Cung mệnh của niên hạn có Tham Lang tọa cung Thìn hay cung Tuất, gặp Lưu Hóa Lộc, Lưu Dương, và Lưu Đà thì cũng vậy.

Nếu không thành cách "Hỏa Tham", "Linh Tham", mà có sao cát thì cũng chủ về trước nghèo sau giàu; không có sao cát thì bình thường, chủ về làm nghề để sinh nhai; gặp sao sát, hình, kị, thì lúc bé phần nhiều dễ bị nạn tai tật bệnh, hoặc phải mang bệnh nhưng sống lâu.

Tinh hệ của bản cung không nên là nữ mệnh. Nếu là nữ mệnh thì nên lấy chồng lớn tuổi hơn mình, mới có thể sống với nhau đến bạc đầu, mọi tâm tình khổ đau thời gian sẽ xóa sạch.

Phàm Tham Lang ở cung mệnh, thì cung thân không nên gặp Thất Sát hoặc Phá Quân, nếu không dễ mê đắm tửu sắc, thậm chí háo sắc dâm bôn. Dù gặp cát tinh cũng chủ về hiếu động trôi nổi.

Nữ mệnh Tham Lang độc tọa, phần nhiều đều có sở thích. Tốt thì hội họa, khiêu vũ, làm đẹp, nhiếp ảnh, sưu tập tem, v.v...; không lành mạnh thì hút sách, rượu chè, cờ bạc... Nhưng đều có khuynh hướng sùng tín tôn giáo, chỉ trường hợp Tử Vi ở đối cung thiên di mới có thể nghiên cứu triết học.

Nữ mệnh Tham Lang độc tọa nhập miếu, gặp Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên Phúc, Thiên Quý, Thiên Quan, Thiên Khôi, Thiên Việt là chủ về quý; gặp Lộc Tồn, Hóa Lộc, Hỏa Tinh, Linh Tinh là chủ về phú. Đều có trí tuệ hơn chồng, tính tình cương nghị. Nếu ở cung lạc hãm thì chủ về làm kế thất.

Cung mệnh của đại hạn hoặc lưu niên gặp Tham Lang độc tọa, không có sát tinh, chủ về "khứ cựu canh tân" (bỏ cũ đổi mới), sự nghiệp tiền bạc đều có thăng tiến; gặp Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, thì mừng được thăng chức, hoặc kết hôn, sinh con; gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh thì chủ về mừng được đắc ý về tiền bạc một cách bất ngờ, có biểu hiện phát một cách đột ngột. Nếu gặp các sao sát, hình, kị, lại ở cung lạc hãm, thì chủ về vì giao tế mà xảy ra nạn tai; hoặc cờ bạc, đầu cơ thất bại; nếu gặp Hàm Trì, Thiên Diêu, thì vì sắc mà xảy ra nạn tai. Nhưng nếu có vợ sinh con thì điểm nạn tai hóa thành điểm lành.

Cổ Quyết Bát Hỉ Sao Lâu Về Sao Tham Lang

Ba vị trí độc tọa cho thấy sao đối cung định hướng dục vọng của Tham Lang; cổ quyết thì ghi lại cả hai thái cực mà cổ nhân đã chứng kiến, từ hầu bá tới đồ tể.

贪狼铃火四墓宫,豪富家资侯伯贵。
Tham Lang Linh Hỏa tứ mộ cung, hào phú gia tư hầu bá quý.

Dịch nghĩa: Tham Lang, Linh Tinh, Hỏa Tinh ở Tứ Mộ cung, chủ về giàu sang phú quý, địa vị tôn quý đến bậc hầu bá.
Chú giải: Tứ Mộ tức bốn cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi. Linh Tinh, có Hỏa Tinh và Tham Lang đồng độ là tốt; ở đối cung thì hơi kém hơn.

贪狼入庙寿元长。
Tham Lang nhập miếu thọ nguyên trường.

Dịch nghĩa: Tham Lang nhập miếu, chủ về sống thọ.
Chú giải: Ở đây nói Tham Lang ở bốn cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi; hai cung Sửu, Mùi thì kém hơn.

贪狼会煞无吉曜,屠宰之人。
Tham Lang hội sát vô cát diệu, đồ tể chi nhân.

Dịch nghĩa: Tham Lang gặp sát tinh, không có sao cát, là đồ tể.
Chú giải: "Liêm Trinh, Tham Lang" gặp sát tinh là đúng; Hóa Kị thì càng đúng. (Xem hình 194)

Hình 194: người sinh giờ Mão năm Quý Mùi, Liêm Trinh Tham Lang Hóa Kị thủ mệnh ở Tị, Kình Dương Linh Tinh ở cung tài bạch Sửu, Đà La ở Hợi
H. 194

贪狼子午卯酉,鼠窃狗偷之辈,终身不能有为。
Tham Lang Tí Ngọ Mão Dậu, thử thiết cẩu thâu chi bối, chung thân bất năng hữu vi.

Dịch nghĩa: Tham Lang Tí Ngọ Mão Dậu, là bọn trộm cắp, suốt đời chẳng làm được gì.
Chú giải: Luận đoán này còn có chỗ chưa rõ ràng. Theo sự tương truyền của phái Trung Châu, người sinh năm Tị, Dậu, Sửu mà mệnh ở cung Sửu thì đúng. Bốn cung Tí, Ngọ, Mão, Dậu gọi là cung "Tứ Vượng"; hỏa vượng ở cung Ngọ, kim vượng ở Dậu, mộc vượng ở Mão, thủy vượng ở Tí. Phái Trung Châu không lấy cung vượng của kim cục, mà lấy cung Sửu Mộ Khố, ngay cả Vương Đình Chi cũng không biết tại sao.

贪狼加吉坐长生,寿考永如彭祖。
Tham Lang gia cát tọa Trường Sinh, thọ khảo vĩnh như Bành Tổ.

Dịch nghĩa: Tham Lang thêm sao cát tọa ở cung Trường Sinh, chủ về sống thọ như Bành Tổ.
Chú giải: Thêm sao cát là nói Thiên Khôi, Thiên Việt, Tả Phụ, Hữu Bật. Nếu thêm Văn Xương, Văn Khúc thì không đúng.

贪狼巳亥加煞,不为屠户便遭刑。
Tham Lang Tị Hợi gia sát, bất vi đồ hộ tiện tao hình.

Dịch nghĩa: Tham Lang Tị Hợi thêm sát tinh, không phải là đồ tể thì cũng bị hình khắc.
Chú giải: Là đồ tể, cũng chủ về đoản mệnh. (Xem hình 195)

Hình 195: người sinh giờ Mão năm Quý Mùi, Liêm Trinh Tham Lang Hóa Kị thủ mệnh ở Tị, Kình Dương Linh Tinh ở cung tài bạch Sửu, Đà La ở Hợi
H. 195

贪狼武曲同行,晚景边夷神服。
Tham Lang Vũ Khúc đồng hành, vãn cảnh biên di thần phục.

Dịch nghĩa: Tham Lang và Vũ Khúc đồng độ, về già các nơi mới thần phục.
Chú giải: Đây là nói sau trung niên mới phát đạt; nhưng cung hạn của đại vận cần phải được cát hóa.

贪武先贫而后富。
Tham Vũ tiên bần nhi hậu phú.

Dịch nghĩa: Tham Lang, Vũ Khúc thủ mệnh, chủ về trước nghèo sau giàu.
Chú giải: Vận hạn gặp sao lộc mới đúng.

贪狼昌曲同宫,多虚少实。
Tham Lang Xương Khúc đồng cung, đa hư thiểu thực.

Dịch nghĩa: Tham Lang, Văn Xương, Văn Khúc đồng cung, nhiều giả mà ít thực.
Chú giải: Trừ phi Văn Xương, Văn Khúc Hóa Khoa.

贪狼申宫为下格。
Tham Lang thân cung vi hạ cách.

Dịch nghĩa: Tham Lang ở cung Thân là hạ cách.
Chú giải: Gặp Liêm Trinh Hóa Kị ở đối cung mới đúng.

贪狼忌煞同乡,女伦期而男鼠窃。
Tham Lang kị sát đồng hương, nữ luân kì nhi nam thử thiết.

Dịch nghĩa: Tham Lang kị đồng độ với sát tinh, nữ mệnh thì luân lạc, còn nam mệnh thì trộm cắp.
Chú giải: Đây là nói ở cung "Tứ Vượng".

贪狼四生四墓宫;破军忌煞百工通。
Tham Lang Tứ Sinh Tứ Mộ cung; Phá Quân kị sát bách công thông.

Dịch nghĩa: Tham Lang ở cung "Tứ Sinh", "Tứ Mộ"; Phá Quân, sao kị, sát trăm nghề đều thông.
Chú giải: Đây là nói gặp Phá Quân, Hóa Kị, và tứ sát tinh.

贪狼武曲同守身命,无吉命反不长。
Tham Lang Vũ Khúc đồng thủ thân mệnh, vô cát mệnh phản bất trường.

Dịch nghĩa: Tham Lang Vũ Khúc cùng thủ cung thân hay cung mệnh, không có sao cát, chủ về mệnh không thọ.
Chú giải: Đây là nói không có sao cát mà còn gặp Kình Dương, Đà La.

贪武破军无吉曜,迷花恋酒以亡身。
Tham Vũ Phá Quân vô cát diệu, mê hoa luyến tửu dĩ vong thân.

Dịch nghĩa: Tham Lang, Vũ Khúc, Phá Quân, không có sao cát, chủ về đam mê tửu sắc mà mất mạng.
Chú giải: Gặp các sao đào hoa mới đúng, gặp sát tinh chỉ chủ về nghề thủ công.

贪月同煞会机梁,贪财无厌作经商。
Tham Nguyệt đồng sát hội Cơ Lương, tham tài vô yếm tác kinh thương.

Dịch nghĩa: Tham Lang, Thái Âm, Thiên Đồng, sát tinh hội Thiên Cơ, Thiên Lương, chủ về tham tiền, làm ăn kinh doanh không biết chán.
Chú giải: Xem các mục liên quan đến cách cục "Cơ Nguyệt Đồng Lương" trong sách này.

贪狼廉贞同度,男多浪荡女多淫。
Tham Lang Liêm Trinh đồng độ, nam đa lãng đãng nữ đa dâm.

Dịch nghĩa: Tham Lang và Liêm Trinh đồng độ, nam mệnh phần nhiều phóng đãng, nữ mệnh phần nhiều đa dâm.
Chú giải: Gặp sát tinh và sao đào hoa, còn gặp Thiên Mã mà không có sao lộc; hoặc gặp Hỏa Tinh mà không có sao lộc mới đúng. (Xem hình 196, 197)

Hình 196: ví dụ 1, sinh giờ Sửu năm Đinh Mão, Liêm Trinh Tham Lang cùng Đà La, Thiên Mã, Văn Khúc, Thiên Diêu thủ mệnh ở Tị, chủ về nam lãng đãng, nữ tham dâm
H. 196
Hình 197: ví dụ 2, sinh giờ Mùi năm Canh Thìn, Liêm Trinh Tham Lang cùng Văn Khúc, Hồng Loan, Đại Hao, Thiên Diêu ở cung thiên di Hợi, chủ về nam nữ tham dâm
H. 197

贪遇羊陀居亥子,名为泛水桃花。
Tham ngộ Dương Đà cư Hợi Tí, danh vi Phiếm thủy đào hoa.

Dịch nghĩa: Tham Lang gặp Kình Dương, Đà La ở cung Hợi và Tí, gọi là "Phiếm thủy đào hoa".
Chú giải: Xem các mục liên quan đến cách cục "Phiếm thủy đào hoa" trong sách này.

贪狼陀罗在寅宫,号曰风流彩杖。
Tham Lang Đà La tại Dần cung, hiệu viết Phong lưu thái trượng.

Dịch nghĩa: Tham Lang và Đà La ở cung Dần, gọi là "Phong lưu thái trượng".
Chú giải: Xem các mục liên quan đến cách cục "Phong lưu thái trượng" trong sách này.

女命贪狼多嫉妒。
Nữ mệnh Tham Lang đa tật đố.

Dịch nghĩa: Nữ mệnh Tham Lang thủ mệnh, chủ về nhiều đố kị.
Chú giải: Gặp Kình Dương, Đà La mới đúng.

Cốt Tủy Của Sao Tham Lang

Tham Lang là sao của dục vọng, và sao đối cung quyết định dục vọng ấy chảy về đâu: Tử Vi kềm chế thì hướng về văn nghệ, tôn giáo; Liêm Trinh thì hướng về chính giới, hành chính; Vũ Khúc thì hướng về tài lộc, đắc cách nhất khi có Hỏa Tinh, Linh Tinh.

Cổ quyết cho thấy Tham Lang đắc ở Tứ Mộ với Hỏa Linh, được sống thọ khi nhập miếu, nhưng kị sát tinh không có sao cát, kị Văn Xương, Văn Khúc đồng cung vì nhiều hư ít thực, kị đi cùng Liêm Trinh và các sao đào hoa. Khi luận, xét sao đối cung trước, sau mới xét Hỏa Linh, sát tinh và sao đào hoa.


Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tam Hợp Phái

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Tam Hợp Phái