Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Tam Hợp Phái

Bài tổng quan

Liêm Trinh Thủ Mệnh: Sáu Tinh Hệ Và Cổ Quyết Bát Hỉ Sao Lâu

Tử Vi Nam Phái - Tam Hợp Phái19/09/202625 phút đọc8 lượt đọc
Liêm Trinh Thủ Mệnh: Sáu Tinh Hệ Và Cổ Quyết Bát Hỉ Sao Lâu

Liêm Trinh cùng Thiên Tướng ở Tí Ngọ không giữ được sự nghiệp cha ông để lại, nhưng tự tìm ra con đường riêng. Cùng Thất Sát ở Sửu Mùi thì tuy dám khai sáng mà vẫn thận trọng, giỏi quản lí tài chính; độc tọa ở Dần Thân, người sinh đúng năm lại thành cách Liêm Trinh thanh bạch, mượn sức Kình Dương, Đà La để khắc chế tính đào hoa. Cùng Phá Quân ở Mão Dậu thì tay trắng làm nên, cùng Tham Lang ở Tị Hợi thì cả hai sao lạc hãm. Cổ quyết nói Liêm Trinh nhập miếu gặp tướng quân uy mãnh như Trọng Do, có sao lộc thì phú quý, nhưng gặp tứ sát tinh thì chủ về hình phạt, chết chóc. Ngôi sao hai mặt ấy đứng về phía thanh bạch hay phía gông cùm, do đâu mà định?


Liêm Trinh, Thiên Tướng Đồng Cung Mệnh

"Liêm Trinh, Thiên Tướng" đồng độ ở hai cung Tí hoặc Ngọ, hội chiếu các sao mạnh mẽ như Vũ Khúc của cung sự nghiệp, Phá Quân của cung thiên di, và "Tử Vi, Thiên Phủ" của cung tài bạch. Cho nên bất kể có sát tinh hội chiếu hay không, đều chủ về không có sự nghiệp của cha ông để lại, dù có thì cũng vì hoàn cảnh xã hội biến thiên mà phá tán, nhưng bản thân lại có năng lực tìm ra con đường riêng cho mình.

Về tính cách, thì có tinh thần trách nhiệm, trọng tình cảm, xử sự cẩn thận, nhưng hay lo trước lo sau, nên tính khai sáng không mạnh, chỉ có thể làm cho người khác. Nhưng nếu tương hội hoặc đồng độ với Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc, thì có thể làm từng bước một, đúng lễ đúng lối, từ từ lên đến chức vị chủ quản. Nhưng chỉ nên thủ thành, không nên phá bỏ cái cũ để sáng lập cái mới. Nếu kinh doanh làm ăn, thì cũng nên hùn hạp, không nên bỏ vốn làm một mình.

Rất ngại Liêm Trinh Hóa Kị, chủ về phát lên một cách đột ngột rồi suy sụp cũng rất nhanh chóng, phú quý không được lâu, nhất là lúc Liêm Trinh Hóa Kị lại gặp các sao đào hoa, chủ về khi ở vào cảnh ngộ thuận lợi, sự nghiệp thành tựu thì quyến luyến chuyện trăng gió, vì tửu sắc mà phá tán, thất bại. Người gặp kết cấu tinh hệ kiểu này nên biết tự kiềm chế lúc đã có thành tựu.

Liêm Trinh gặp Văn Xương, Văn Khúc, chủ về biết tự kiềm chế, mà còn biết lễ nghĩa; lại gặp Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc là thêm tinh hệ chủ về có năng lực làm giàu.

Nếu Liêm Trinh có Kình Dương đồng độ, chủ về chuốc nhiều thị phi; gặp Thiên Hình hoặc Địa Không, Địa Kiếp, chủ về kiện tụng hoặc thất bại. Nếu Kình Dương đồng độ với Phá Quân của cung thiên di thì bất lợi về đi xa, xuất ngoại. Người sinh năm Bính, Liêm Trinh Hóa Kị, chủ về chết ở tha hương. Nếu gặp sao cát hóa giải, như các sao phụ tá và các sao Thiên Đức, Giải Thần, Thiên Thọ, Thiên Phúc hội chiếu, thì chỉ gây ra tình trạng rối rắm ở tha hương đất khách; nếu lại gặp Thiên Nguyệt, thì chủ về nhiễm bệnh ở nơi xa.

"Liêm Trinh, Thiên Tướng" nếu gặp tứ sát, Địa Không, Địa Kiếp, và sao hình tụ tập hoặc hội chiếu, thì có họa bất trắc, hoặc vì bệnh mà phải phẫu thuật, phần nhiều chủ về sỏi thận, sỏi mật, sỏi bàng quang, hoặc khối u, phù thũng, hơn nữa thường bị dị ứng. Nếu Liêm Trinh Hóa Kị, dễ bị tai nạn đè, sập mà bị thương, hoặc thú dữ cắn.

Nữ mệnh không gặp Lộc Tồn, Hóa Lộc, Văn Xương, Văn Khúc, dù không gặp sát tinh, cũng chủ về dễ bị lừa dối tình cảm; nếu gặp sát tinh, hoặc gặp các sao đào hoa nặng thì phải đề phòng sa chân lỡ bước.

Cung mệnh của đại hạn hoặc lưu niên gặp "Liêm Trinh, Thiên Tướng", thì ưa gặp Văn Xương Văn Khúc, hoặc Lưu Xương Lưu Khúc, Hóa Lộc hoặc Lưu Lộc nhập cung mệnh hoặc hội chiếu, chủ về được thăng chức hay thăng tiến trong nghề nghiệp, hoặc sự nghiệp mở rộng. Nếu Hóa Kị và Thiên Hình cùng hội hợp, thì dễ mắc bệnh về máu mủ, hoặc phải phẫu thuật (nữ mệnh nếu là năm sinh đẻ thì không phải vậy). Nếu các sao kị, hình cùng đến, mà không có các sao Văn Xương, Văn Khúc, Lộc Tồn giải cứu, thì có nguy cơ về tính mệnh, hoặc tai họa lao ngục.

Liêm Trinh, Thất Sát Đồng Cung Mệnh

"Liêm Trinh, Thất Sát" đồng độ ở hai cung Sửu hoặc Mùi, hội hợp với các sao "Vũ Khúc, Phá Quân", "Tử Vi, Tham Lang", và gặp Thiên Phủ của cung thiên di, tuy toàn là sao mạnh, nhưng bị Thiên Phủ của đối cung ảnh hưởng, nên lại chủ về tuy dám khai sáng, nhưng vẫn thận trọng, sở trường nhất là quản lí tài chính, sẽ không vì hưng phấn nhất thời mà phạm sai lầm, có điều vẫn khó tránh khỏi tình trạng chìm đắm trong thú hưởng lạc.

Liêm Trinh bị ảnh hưởng Thất Sát, phần nhiều tâm tính hay thay đổi, vì vậy không nên làm việc quá lâu ở một bộ phận nào, nếu không sẽ có tâm trạng buồn bực. Mệnh tạo này cũng không được thừa hưởng tổ nghiệp hoặc giữ nghiệp của cha, thậm chí còn không ưa kế thừa nghề của cha. Do hay thay đổi nên đời người cũng khó tránh phải trải qua nhiều gian khổ.

"Liêm Trinh, Thất Sát" ưa biến động thay đổi, nên thích hợp làm các chức vị hành chính; do tính chất đào hoa của Liêm Trinh bị Thất Sát ảnh hưởng, nên cũng yêu thích văn nghệ, nhất là thi phú âm nhạc; vì vậy, nếu gặp Văn Xương, Văn Khúc hội hợp, cũng có thể làm công tác văn nghệ. Nếu các sao sát, kị cùng tụ tập, phần nhiều khó tránh có sở thích không lành mạnh, văn nghệ hóa thú phong hoa tuyết nguyệt, mê đắm tửu sắc. Nhưng bất kể thế nào, họ cũng đều có tiết chế, sẽ không vì tửu sắc mà khuynh gia phá sản.

Do kết cấu tinh hệ giàu tính thay đổi, giỏi quản lí tài chính, nhưng cũng nên hợp tác với người khác để sáng lập sự nghiệp kinh doanh, hơn nữa, không nên ở địa vị lãnh đạo, nếu không, sự nghiệp sẽ phát triển không thuận lợi. Có một hai sát tinh hội hợp, nên theo ngành công nghệ.

"Liêm Trinh, Thất Sát" an mệnh ở cung Mùi, có Văn Xương Văn Khúc, gặp sao Lộc, không có các sao sát, kị, là cách cục "Hùng tú kiền nguyên", chủ về phải trải qua gian khổ mới được phú quý. Nếu sát tinh nhẹ thì cũng có thể cần kiệm tích lũy mà trở nên giàu có.

"Liêm Trinh, Thất Sát" tọa cung mệnh, chủ về đường hô hấp yếu; nếu có Hồng Loan, Thiên Hỉ đồng cung và đối chiếu, thì dễ mắc bệnh hen suyễn. Nếu Hóa Kị mà còn gặp Đà La đồng độ, phần nhiều chủ về bệnh về máu mủ; Hóa Kị lại gặp tứ sát cùng chiếu, mà không có Hóa Lộc hoặc Lộc Tồn và Văn Xương Văn Khúc giải cứu, cả đời thân thể hư nhược, hoặc yếu mạng; có tứ sát cùng chiếu mà còn gặp các sao hình kị, chủ về các bệnh máu như tăng bạch huyết cầu, thiếu máu bẩm sinh.

Liêm Trinh Hóa Kị mà còn gặp tứ sát cùng chiếu, cổ nhân có thuyết "chôn thây trên đường" (路上埋尸 lộ thượng mai thi), vào đại hạn Bính (như Bính Tí, Bính Dần, v.v...) hoặc năm Bính cần phải đặc biệt cẩn thận, không nên đi xa.

Nữ mệnh "Liêm Trinh, Thất Sát", ắt xinh đẹp, nhưng không dễ bị người khác giới dụ dỗ, cung phu thê tất có Thiên Tướng; nếu không gặp các sao sát, kị thì hôn nhân hạnh phúc, nên phu xướng phụ tùy, vợ chồng đồng lòng thì sự nghiệp ắt sẽ phát triển, nhưng phần nhiều dễ vì đối tượng không hợp ý mà kết hôn muộn. Thích hợp nhất là lấy chồng hơn mình 8 tuổi trở lên.

"Liêm Trinh, Thất Sát" của đại hạn và lưu niên, chủ về có biến động thay đổi, gặp sao cát thì thăng tiến, phát triển rộng, hoặc tăng lương, chủ về có tích lũy; gặp sát tinh thì không nên thay đổi. Nếu các sao hình kị cùng đến, nhất là Vũ Khúc Hóa Kị gặp Liêm Trinh Hóa Kị, mà không gặp Lộc Tồn, Hóa Lộc, cần phải đề phòng tai nạn chảy máu, không nên đi xa, tránh mọi tranh chấp, kiện tụng.

Liêm Trinh Độc Tọa Cung Mệnh Dần Thân

Liêm Trinh độc tọa ở cung Dần hoặc Thân, đối cung ắt là Tham Lang, có các sao đào hoa chính và thứ tương hội, bất kể nam hay nữ, đều chủ về có tài năng, còn dễ được người khác trọng dụng, nhưng lại dễ có sở thích tửu sắc.

Người sinh năm Bính, Tân, Ất, Mậu nếu mệnh ở cung Dần, là cách cục "Liêm Trinh thanh bạch"; người sinh năm Giáp, Kỉ, Canh, Quý mệnh ở cung Thân, cũng thuộc cách này. Cách cục "Liêm Trinh thanh bạch" chủ yếu lợi dụng lực của Kình Dương hay Đà La để khắc chế tính chất đào hoa; hoặc lợi dụng cung phu thê được sao lộc để bổ cứu những khiếm khuyết đáng tiếc của Thất Sát tọa thủ; cho nên nữ mệnh tuy chủ về gian khổ, nhưng lại là người trinh liệt, có thể giúp chồng dạy con, gia đình hạnh phúc.

Liêm Trinh độc tọa ở cung Thân còn có một đại cách. Lúc Liêm Trinh độc tọa ở cung Thân, Thất Sát ắt phải ở cung Ngọ, âm hỏa của Liêm Trinh sẽ luyện âm kim của Thất Sát, giống như lửa luyện kim loại, trải qua gian khổ trước mới thành vật hữu dụng, đây cũng là cách "Hùng tú kiền nguyên". Có cát tinh mà không gặp các sao sát, kị, hình, hao là cách cục thượng thượng "phú quý song toàn".

Liêm Trinh độc tọa ở cung Thân, rất ngại Hỏa Tinh đồng độ, vì khi Hỏa Tinh lạc hãm mà đồng cung với Liêm Trinh, sẽ phá hoại cách cục "Hùng tú kiền nguyên"; trái lại sẽ chủ về đường đời gập ghềnh, nhiều hiểm trở, thậm chí không còn muốn sống nữa. Nhưng nếu gặp sao lộc thì có thể hóa giải, tuy nhiều thị phi, hoặc gặp nghịch cảnh, nhưng vẫn là "qua cơn mưa trời lại sáng".

Liêm Trinh an mệnh ở cung Dần, không phải là cách cục nói ở trên.

Bất kể nam nữ, Liêm Trinh ở cung mệnh mà gặp Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc, đều là cách cục "Liêm Trinh thanh bạch", có thể làm công việc hành chính, hoặc công tác kinh tế tài chính, cũng có thể kinh doanh làm ăn, nhưng ngành nghề kinh doanh phải có sắc thái nghệ thuật, hoặc liên quan đến mĩ quan. Nếu gặp Văn Xương, Văn Khúc, thì chủ về yêu thích nghệ thuật thư họa, có thể kinh doanh vật phẩm nghệ thuật, cũng có thể học nghệ thuật thư họa để làm nghề phụ.

Nhưng nếu không gặp Hóa Lộc, Lộc Tồn, mà gặp Địa Không, Địa Kiếp đồng độ, thì nên theo ngành khoa học ứng dụng, thiết kế công trình, cũng có thể học nghề chuyên môn khác để mưu sinh.

Cung mệnh của đại hạn hoặc lưu niên gặp Liêm Trinh độc tọa ở hai cung Dần hoặc Thân, không sợ Liêm Trinh Hóa Kị, vì có "Tử Vi, Thiên Tướng" ở cung tài bạch hội hợp, có thể chuyển hóa thành nạn tai tật bệnh nhẹ hoặc một số phiền phức nhỏ, như da mẫn cảm, dễ bị dị ứng, mụn, v.v... Nhưng nếu có các sao sát, hình cùng đến thì vẫn cần chú ý, tránh gây bất hòa, tranh chấp, và dễ mắc bệnh phải phẫu thuật.

Liêm Trinh, Phá Quân Đồng Cung Mệnh

"Liêm Trinh, Phá Quân" đồng độ ở hai cung Mão hoặc Dậu, tam phương tứ chính có các sao mạnh mẽ hội hợp, vì vậy chủ về không giữ tổ nghiệp, cũng không được cha mẹ che chở, tay trắng làm nên, tự lập.

Về phương diện tính cách, nói mặt tốt thì cương nghị, kiên nhẫn, có lực xung kích, suy nghĩ tới công ích và có lòng chính nghĩa, còn có hoài bão lí tưởng, là nhân tài tốt để sáng lập sự nghiệp; nhưng nói mặt xấu thì e rằng cuộc đời không được an định, không cách nào sống yên ổn, một đời vì khai sáng sự nghiệp mà lao tâm lao lực.

Do tính chất của các sao chủ về biến động thay đổi, vì vậy không nên kinh doanh làm ăn, nếu không, dễ đứng núi này trông núi nọ, không giữ một nghề, mà còn có thể vì lí tưởng quá cao, dẫn đến đầu cơ mạo hiểm mà thất bại. Tuy là nhân viên làm thuê, nhưng thường thường lại được ông chủ cho đảm nhiệm công tác có tính khai sáng. Nếu không có công việc mang tính khai sáng, thì cũng dễ được phái làm lãnh đạo bộ môn, cũng chủ về kiêm nhiều chức vị khác nhau, cho nên rất vất vả.

Nếu trong cung mệnh có đủ các sao đào hoa tụ tập, thì dễ thành chủ quản một số người khác giới, hoặc tính chất của nghề nghiệp có liên quan đến người khác giới.

Nhưng bất kể thế nào, phàm "Liêm Trinh, Phá Quân" tọa thủ cung mệnh, lúc bé ắt dễ bị nạn tai bệnh tật; nếu cung phụ mẫu gặp sát tinh, thì lúc bé không có duyên với cha mẹ, đến khi ra đời làm việc phải trải qua nhiều biến động thay đổi, gian nan nguy hiểm, rồi mới thành tựu. Vì vậy, nói về phương diện hưởng thụ, tinh hệ của bản cung chẳng chủ về phúc trạch.

"Liêm Trinh, Phá Quân" tọa thủ cung mệnh rất ưa Liêm Trinh Hóa Lộc, hoặc có Lộc Tồn hội hợp, chủ về vất vả nhưng vẫn phú quý. Gặp Văn Xương, Văn Khúc thì có thể biểu hiện sở thích nghiệp dư thanh nhã, mà còn giảm thiểu trắc trở, gập ghềnh trên đường đời.

Nếu có tứ sát hội chiếu, có thể làm nhân viên hành chính, nhưng cũng nên học nghề. Cổ nhân nói: "Liêm Trinh, Phá Quân gặp tứ sát, chủ về nhờ tay nghề khéo mà yên thân."

Nhưng nếu sát tinh quá nhiều mà lạc hãm, thì một đời ắt nhiều thị phi, tranh chấp, còn dễ bị thần kinh suy nhược hay bệnh tim mạch, cũng dễ bị chứng da mẫn cảm, dị ứng. Nếu có các sao sát, kị, hình cùng chiếu, thì có thể thất bại do phạm pháp.

Người sinh năm Bính, Liêm Trinh Hóa Kị mà còn gặp sát tinh, nếu cung mệnh có Thiên Hình đồng độ, nên đề phòng tai nạn giao thông. Tinh hệ có kết cấu Liêm Trinh Hóa Kị gặp Phá Quân và Thiên Hình, dù không ở cung mệnh, mà ở cung thiên di, cũng chủ về dễ xảy ra tai nạn giao thông. Nếu gặp Kình Dương ở đối cung (tức khi tinh hệ này ở cung mệnh, cung thiên di gặp Kình Dương; hoặc khi tinh hệ này ở cung thiên di, gặp Kình Dương ở bản cung hoặc cung mệnh), thì họa càng nặng. Tính chất này càng chính xác khi tinh hệ "Liêm Trinh, Phá Quân" ở cung Dậu, không thể không đề phòng. Phép xu cát tị hung là nên gia nhập quân đội hay cảnh sát, hoặc làm công tác nghiên cứu, hoặc công việc xét nghiệm máu.

"Liêm Trinh, Phá Quân" ở cung Dậu, có Hỏa Tinh đồng độ, do Hỏa Tinh lạc hãm nên thành tinh hệ có kết cấu khác. Tính cách người này thiếu tình thân, hơn nữa còn nặng tính phản bội. Nếu Liêm Trinh Hóa Kị, gặp thêm Thiên Hình thì dễ vì sự nghiệp thất bại mà nảy sinh ý không còn muốn sống.

Nữ mệnh "Liêm Trinh, Phá Quân", phần nhiều nếu chồng có tình nhân bên ngoài thì trái lại, có thể giữ chồng đến bạc đầu. Vì vậy nên lấy sự nghiệp làm trọng, nếu không sẽ xảy ra sóng gió, trắc trở một cách vô ích. Nếu như ở cung mệnh hoặc cung phúc đức có sao đào hoa tụ tập, thì bản thân mệnh tạo sau kết hôn cũng dễ trở thành người ngoại tình.

Liêm Trinh, Thiên Phủ Đồng Cung Mệnh

"Liêm Trinh, Thiên Phủ" đồng độ ở hai cung Thìn hoặc Tuất. Hai sao này gặp nhau sẽ biểu hiện tính chất lẳng lặng làm việc, có tinh thần gánh vác trọng trách. Rất nên làm việc trong ngành tài chính kinh tế, hoặc đảm nhiệm công tác hành chính của công ti, chỉ cần gặp Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc, thì có thể thăng tiến đến địa vị lãnh đạo.

Nhưng Liêm Trinh Hóa Lộc cũng có một khuyết điểm, đó là lúc có Thiên Phủ đồng độ, sẽ biến thành thận trọng quá đáng, vì vậy mà sức khai sáng sẽ không đủ, sự nghiệp phát triển cũng khá chậm. Rất ưa Thất Sát của đối cung mang một chút sát khí đến hội chiếu, trái lại sẽ sản sinh lực kích phát, khiến cho mệnh tạo có thành tựu sớm. Đương nhiên cũng phải trả giá, đó là hao tổn tinh thần trong những cuộc thù tạc giao tế, đồng thời thân tâm phải vất vả.

Nếu gặp Văn Xương, Văn Khúc đồng cung với "Liêm Trinh, Thiên Phủ" thủ mệnh, mệnh tạo cũng có thể trở thành người có học vị, nhưng dù làm công việc dạy học ở trường cũng dễ phải kiêm nhiệm chức vụ hành chính, như hiệu trưởng, trưởng khoa, hoặc giáo viên chủ nhiệm, v.v...

Nếu Thiên Phủ Hóa Khoa, về phương diện văn nghệ, người này nhất định khá hiểu biết, đồng thời cũng dễ thành danh. Trong trường hợp các sao khoa văn tụ tập, mệnh tạo nên theo đuổi sự nghiệp văn hóa văn nghệ, chủ về danh lợi có đủ.

"Liêm Trinh, Thiên Phủ" an mệnh ở cung Tuất, nếu các sao lộc, văn cùng tụ tập thì không chủ về theo đuổi sự nghiệp văn hóa văn nghệ, mà trái lại nên đặt nền tảng ở lí tưởng và hoài bão thành đại sự nghiệp, tuy có thành bại, nhưng rốt cuộc cũng đã dám thực hiện hoài bão. Nếu đồng thời gặp sát tinh, thì vẫn chủ về sự nghiệp phát triển trong quá trình có sóng gió, trắc trở. Tính chất này nếu là đoạt cung để an mệnh thì không đúng; đây là do cung Trường Sinh hội hợp với Tử Vi của cung Tí, rơi vào sinh địa; còn cung Tuất thì hội hợp với Tử Vi của cung Ngọ, lại là nhập miếu. Kết cấu tinh hệ dạng này có sự phân biệt là do ảnh hưởng của các sao miếu, vượng, lợi, hoặc hãm.

Nữ mệnh "Liêm Trinh, Thiên Phủ", chủ về nên kết hôn muộn, kết hôn sớm dễ bị đau khổ vì tình.

Cung mệnh của đại hạn hoặc lưu niên gặp "Liêm Trinh, Thiên Phủ", chủ về thu nhập có dư, sự nghiệp có bước tiến bộ dài, hội chiếu Thiên Vu thì chủ về có thăng tiến. Nếu gặp các sao sát, kị cùng đến, thì dễ có hung sự nạn tai tật bệnh, hoặc chuốc thị phi, phạm pháp, nhưng rốt cuộc có thể chuyển họa thành phúc. Đó là do lực hóa giải của Tử Vi và Thiên Tướng.

Liêm Trinh, Tham Lang Đồng Cung Mệnh

"Liêm Trinh, Tham Lang" đồng độ ở hai cung Tị hoặc Hợi, hai sao đều lạc hãm, nhưng tính chất các sao biến hóa phức tạp, vận thế cao thấp của cách cục thường thường có sự khác biệt.

Liêm Trinh vốn ưa tụ hội với các sao văn, nhưng ở bản cung, nếu gặp Văn Xương Văn Khúc, trái lại sẽ chủ về có tính thiếu thực tế, gặp thêm một hai sao đào hoa như Hồng Loan, Thiên Hỉ, Hàm Trì, Đại Hao, Mộc Dục, Thiên Diêu thì có khả năng thành kẻ chỉ có hào nhoáng bề ngoài.

Nếu Liêm Trinh Hóa Lộc hoặc có Lộc Tồn hội chiếu, thì càng dao động trôi nổi, hư giả nhiều mà thực chất ít, có khả năng vì vậy mà khuynh bại gia sản. Lúc này thì trái lại, sẽ ưa gặp Hỏa Tinh hoặc Linh Tinh để cấu tạo thành cách cục "Hỏa Tham" hay "Linh Tham", tuy là người phong lưu, tự đánh giá mình cao, nhưng lại là bậc kì tài, tay nghề khéo; càng ưa gặp Tham Lang Hóa Lộc, cuộc đời nghèo giàu bất định nhưng lại được hưởng thụ nhiều.

"Liêm Trinh, Tham Lang" còn là tinh hệ chủ về nghệ thuật, làm cho mệnh tạo có phản ứng rất nhạy bén đối với cái đẹp; vì vậy có thể trở thành họa gia, nhà thiết kế, hoặc nhiếp ảnh gia. Nếu Văn Xương, Văn Khúc đồng độ với "Vũ Khúc, Thất Sát" của cung sự nghiệp, thì có thể theo ngành kịch nghệ hoặc biểu diễn. Nữ mệnh cũng nên lấy trang điểm, làm đẹp, thời trang, cắm hoa, nấu ăn làm nghề nghiệp của mình.

"Liêm Trinh, Tham Lang" ở cung Tị hay Hợi, không gặp sát tinh, chủ về có thể trở thành nhân tài chính trị, có nhiều kiến giải đặc biệt, trải qua gian khổ sẽ đảm đương trọng trách. Nhưng nếu Văn Xương, Văn Khúc hội hợp với Liêm Trinh Hóa Kị thì chủ về dễ bị tai bay vạ gió, không nên theo đuổi nghiệp chính trị. Nếu Văn Xương, Văn Khúc hội hợp Liêm Trinh Hóa Lộc thì trái lại, một khi đường đời gập ghềnh, trắc trở, hoặc hơi có chút thành tựu liền không còn nghĩ đến tiến thủ, rốt cuộc dẫn đến thất chí và hay buông lời oán trời trách người, hoặc nếu gắng gượng kinh doanh làm ăn sẽ dễ xảy ra tình huống bất cẩn, sơ sót về nghiệp vụ mà thất bại.

"Liêm Trinh, Tham Lang" ở hai cung Tị hoặc Hợi, chủ về người có bề ngoài khéo ăn khéo ở, nhưng nội tâm thì thiếu thực tế, và hiếm khi xử sự bằng tình cảm. Nếu gặp Liêm Trinh Hóa Kị hoặc Tham Lang Hóa Kị, lại gặp các sao Kình Dương, Đà La (không kị Hỏa Tinh, Linh Tinh), Thiên Mã, Lộc Tồn thì chủ về bôn ba tứ hải, gian nan vất vả; nên xuất ngoại kinh doanh làm ăn. Nếu theo binh nghiệp thì khó tránh dầm sương dãi nắng. Nhưng nếu các sao sát, kị cùng tụ tập, không gặp sao lộc mà gặp Thiên Hình, Đại Hao, thì chủ về chết ở tha hương.

Nếu sát tinh nhẹ, không có Văn Xương, Văn Khúc và sao lộc hóa giải, gặp Thiên Nguyệt vây chiếu, thì chủ về nhiễm bệnh ở tha hương.

Tinh hệ của bản cung, không nên Liêm Trinh Hóa Lộc, cũng không ưa Liêm Trinh Hóa Kị, nhưng lại ưa Tham Lang Hóa Lộc, chủ về nhiều tiệc rượu thơ, hoặc thù tạc tửu sắc; nhưng có thể kiếm tiền trong chuyện thù tạc. Gặp thêm Hỏa Tinh, Linh Tinh, thì nguồn tiền tài dồi dào. Tham Lang Hóa Quyền, là có tham vọng kinh doanh buôn bán có tính cạnh tranh, đồng thời cũng dễ mê luyến trăng gió; Tham Lang Hóa Kị thì dễ nảy sinh tình huống rối rắm trong tình cảm.

Nữ mệnh "Liêm Trinh, Tham Lang", sinh hoạt tinh thần và vật chất đều thiên nặng như nhau; nếu không gặp cát tinh, mà có các sao sát, kị, hình thì dễ vì theo đuổi sự thỏa mãn về tinh thần hoặc sinh hoạt vật chất mà sa chân lỡ bước. Nếu cung mệnh có Hỏa Tinh, Linh Tinh, mà có các sao đào hoa tụ tập đủ, thì dễ vì muốn vật chất sung túc mà tinh thần lâm vào cảnh bối rối khó xử, nên hoạt động văn nghệ để tinh thần bớt sầu khổ.

Cung mệnh của đại hạn hoặc lưu niên gặp "Liêm Trinh, Tham Lang", không nên thay đổi nghề nghiệp, dù gặp sao cát cũng nên thủ thành. Nếu gặp các sao sát, kị, hình, hao thì chủ về nạn tai tật bệnh. Nếu Tham Lang hoặc Liêm Trinh Hóa Kị, gặp sao đào hoa, nữ mệnh nên đề phòng bệnh đường sinh dục, nam mệnh hay nữ mệnh cũng đều nên đề phòng bệnh về máu và bệnh truyền nhiễm, bệnh lây truyền qua đường máu.

Cổ Quyết Bát Hỉ Sao Lâu Về Sao Liêm Trinh

Sáu tinh hệ cho thấy Liêm Trinh đổi tính theo từng bạn đồng hành; cổ quyết thì phân định rạch ròi hai mặt ấy, một bên là phú quý danh đồn xa, một bên là hình phạt khó thoát.

廉贞申未宫无煞,富贵声扬播远名。
Liêm Trinh Thân Mùi cung vô sát, phú quý thanh dương bá viễn danh.

Dịch nghĩa: Liêm Trinh ở hai cung Thân hoặc Mùi, không có sát tinh, chủ về phú quý, danh tiếng đồn xa.
Chú giải: Đây là do Liêm Trinh kềm chế Thất Sát.

廉贞卯酉宫加煞,公骨无面官人。
Liêm Trinh Mão Dậu cung gia sát, công cốt vô diện quan nhân.

Dịch nghĩa: Liêm Trinh ở hai cung Mão hoặc Dậu, có thêm sát tinh, chủ về làm quan lại nhỏ.
Chú giải: Đây là nói "Liêm Trinh, Phá Quân" ở hai cung Mão hoặc Dậu, là quan lại nhỏ mà tham lam.

廉贞贪杀破军逢,文曲迁移作贝戎。
Liêm Trinh Tham Sát Phá Quân phùng, Văn Khúc thiên di tác bối nhung.

Dịch nghĩa: Liêm Trinh, Tham Lang, Thất Sát, Phá Quân gặp nhau; Văn Khúc ở cung thiên di; chủ về làm giặc.
Chú giải: Đây là nói "Liêm Trinh, Tham Lang" ở hai cung Tị hoặc Hợi; đối cung có Văn Khúc. Hai chữ "贝戎" (bối nhung) tức chữ "贼" (tặc).

廉贞七杀居庙旺,反为积富之人。
Liêm Trinh Thất Sát cư miếu vượng, phản vi tích phú chi nhân.

Dịch nghĩa: Liêm Trinh, Thất Sát ở cung miếu vượng, lại là người giàu có.
Chú giải: "Liêm Trinh, Thất Sát" ở cung Mùi là cách đặc biệt, cung Sửu thì không đúng.

廉贞破火居陷地,自缢投河。
Liêm Trinh Phá Hỏa cư hãm địa, tự ải đầu hà.

Dịch nghĩa: Liêm Trinh, Phá Quân, Hỏa Tinh ở hãm địa, chủ về trầm mình tự ải.
Chú giải: "Liêm Trinh, Phá Quân" ở hai cung Mão hoặc Dậu, có Hỏa Tinh đồng độ, lại gặp sao kị; hoặc "Liêm Trinh, Thất Sát" ở hai cung Sửu hoặc Mùi, gặp Phá Quân, cũng đúng.

廉贞贪狼居巳亥,流荡天涯。
Liêm Trinh Tham Lang cư Tị Hợi, lưu đãng thiên nhai.

Dịch nghĩa: Liêm Trinh, Tham Lang ở hai cung Tị hoặc Hợi, chủ về phiêu bạt, lông bông. (Xem hình 183)
Chú giải: Xin xem mục liên quan "Tham Lang, Liêm Trinh đồng độ" ở phần 2.

Hình 183: sinh giờ Dần, ngày 9 tháng 9 năm Quý Sửu, mệnh ở Thân có Liêm Trinh Văn Xương Tướng Quân
H. 183

廉贞入庙会将军,仲由咸猛。
Liêm Trinh nhập miếu hội tướng quân, Trọng Do hàm mãnh.

Dịch nghĩa: Liêm Trinh nhập miếu gặp tướng quân, uy mãnh như Trọng Do.
Chú giải: Đây là chỉ trường hợp Liêm Trinh độc tọa ở cung Thân. Trọng Do là một trong 12 học trò giỏi của Khổng Tử, là người rất oai phong dũng mãnh.

廉贞四煞遭刑戮。
Liêm Trinh tứ sát tao hình lục.

Dịch nghĩa: Liêm Trinh gặp tứ sát tinh, chủ về hình phạt, chết chóc.
Chú giải: Phải Hóa Kị, hoặc gặp Vũ Khúc Hóa Kị mới đúng.

廉贞白虎,刑杖难逃。
Liêm Trinh Bạch Hổ, hình trượng nan đào.

Dịch nghĩa: Liêm Trinh, Bạch Hổ, khó thoát hình phạt.
Chú giải: Nguyên cục có Liêm Trinh và Bạch Hổ đồng cung, lưu niên lại có Bạch Hổ đến, mà còn gặp lưu sát tinh.

廉贞破杀会迁移,死于外道。
Liêm Trinh Phá Sát hội thiên di, tử vu ngoại đạo.

Dịch nghĩa: Liêm Trinh, Phá Quân, Thất Sát tụ hội ở cung thiên di, chủ về chết ở ngoài đường.
Chú giải: Cung thiên di gặp Liêm Trinh, Phá Quân, Thất Sát, mà còn gặp các sao sát, kị.

廉贞羊煞居官禄,柳初难逃。
Liêm Trinh Dương Sát cư quan lộc, liễu sơ nan đào.

Dịch nghĩa: Liêm Trinh, Kình Dương và sát tinh ở cung quan lộc, chủ về khó thoát gông cùm.
Chú giải: Cung sự nghiệp gặp Liêm Trinh, Kình Dương, bị lưu sát kị xung khởi.

廉贞清白能相守。
Liêm Trinh thanh bạch năng tương thủ.

Dịch nghĩa: Liêm Trinh có thể giữ thanh bạch cho nhau.
Chú giải: Đây là nói về nữ mệnh, có sao lộc mà không có sao sát, là người thanh bạch.

廉贞同文昌,好礼乐。
Liêm Trinh đồng văn xương, hiếu lễ nhạc.

Dịch nghĩa: Liêm Trinh, Thiên đồng, Văn Xương, thích lễ nhạc.
Chú giải: Không có các sao sát, kị mới đúng.

廉贞蹽禄主富贵。
Liêm Trinh triền lộc chủ phú quý.

Dịch nghĩa: Liêm Trinh ở cùng với sao lộc, chủ về phú quý. (Xem hình 184)
Chú giải: Nếu Liêm Trinh Hóa Lộc mà còn gặp Hóa Lộc của lưu niên, thì càng tốt.

Hình 184: sinh giờ Dần, ngày 7 tháng 3 năm Giáp Dần, mệnh ở Dần có Liêm Trinh Lộc Tồn
H. 184

廉贞遇羊陀,脓血不免。
Liêm Trinh ngộ Dương Đà, nùng huyết bất miễn.

Dịch nghĩa: Liêm Trinh gặp Kình Dương, Đà La, chủ về khó tránh bệnh tật có máu mủ.
Chú giải: Liêm Trinh Hóa Kị là tai nạn chảy máu.

廉贞逢武破,祖业必破。
Liêm Trinh phùng Vũ Phá, tổ nghiệp tất phá.

Dịch nghĩa: Liêm Trinh gặp Vũ Khúc, Phá Quân, chủ về ắt sẽ phá tổ nghiệp. (Xem hình 185, 186)
Chú giải: Vũ Khúc Hóa Kị thì đúng.

Hình 185: ví dụ 1, sinh giờ Dậu, ngày 5 tháng 3 năm Nhâm, chủ về phá tổ nghiệp
H. 185
Hình 186: ví dụ 2, sinh giờ Sửu, ngày 26 tháng 6 năm Nhâm, chủ về phá tổ nghiệp
H. 186

Cốt Tủy Của Sao Liêm Trinh

Liêm Trinh là sao hai mặt, tính chất phụ thuộc vào tinh hệ: đi với Thiên Tướng, Thiên Phủ thì thận trọng thủ thành, hợp ngành tài chính và hành chính; đi với Thất Sát, Phá Quân thì khai sáng tự lập, đời người nhiều vất vả; đi với Tham Lang thì sắc thái đào hoa nổi lên.

Cổ quyết chia rõ hai mặt ấy: có sao lộc, không sát tinh thì phú quý, danh tiếng đồn xa; gặp tứ sát tinh, Bạch Hổ, Kình Dương ở cung quan lộc thì khó thoát hình phạt. Khi luận Liêm Trinh thủ mệnh, cần xét trước sao lộc, sau đến Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh và các sao đào hoa.


Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tam Hợp Phái

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Tam Hợp Phái