Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Tam Hợp Phái

Bài tổng quan

Tạp Diệu Sao Đơn Và Ba Vòng Lưu Diệu Thập Nhị Thần

Tử Vi Nam Phái - Tam Hợp Phái17/09/202616 phút đọc13 lượt đọc
Tạp Diệu Sao Đơn Và Ba Vòng Lưu Diệu Thập Nhị Thần

Có tạp diệu đứng riêng vẫn hữu lực. Thiên Tài chủ tài nghệ thực dụng, rất ưa đồng cung Thiên Cơ; Thiên Thọ chủ sống thọ. Đài Phụ, Phong Cáo mang ý vị bia mộ, gặp cung mệnh nhiều sát kị hình hao thì phải đề phòng. Phi Liêm vừa chủ tiểu nhân vừa là sao côn trùng, ở cung điền trạch chủ nhà có mối. Giải Thần chủ tiêu khó giải phiền, nhưng gặp Thiên Mã lại chủ li hôn. Thiên Vu chủ di sản, Thiên Nguyệt chủ bệnh dịch hay bệnh mạn tính, Hoa Cái chủ cô độc cao ngạo, Hàm Trì chủ hiếu sắc, Thiên Trù chủ bổng lộc. Lưu diệu tiểu hạn chia ba vòng thập nhị thần là Bác Sĩ, Tướng Tiền và Tuế Tiền, từ Bác Sĩ chủ thông minh đến Tang Môn chủ có tang.


Thiên Tài

Các cặp sao đôi kể trên phần nhiều phải thành đôi để hội hợp mới hữu lực. Dưới đây là các tạp diệu có tính độc lập, không cần có "sao đôi" phối hợp.

Thiên Tài

Thiên Tài thuộc âm mộc, chủ về thông minh, cũng chủ về tài nghệ, nhưng thiên về thực dụng, khác với Hoa Cái thiên về triết lí.

Thiên Tài rất ưa đồng cung với Thiên Cơ, đây là nhóm sao chủ về suy nghĩ lanh lẹ, sở trường vạch kế sách, thông thường ít ai lường được cơ mưu của họ. Nếu gặp các sao hung sát cùng bay đến, sẽ chủ về hay dùng kế đắc nhân tâm, phần nhiều cũng hay giở thủ đoạn bất ngờ.

Thiên Thọ

Thiên Thọ thuộc dương thổ, chủ về sống thọ.

Thiên Thọ bay đến cung mệnh của nguyên cục, chủ về trường thọ. Nếu đồng độ với Thiên Lương ở cung mệnh hoặc cung tật ách, chủ về bị bệnh nặng nhưng không sao.

Cung tật ách của lưu niên ưa gặp Thiên Thọ, dù bệnh nặng cũng có thể chữa khỏi; hoặc chủ về gặp thầy thuốc giỏi và chữa trị kịp thời, không đến nỗi chuyển biến thành nguy hiểm.

Cung phu thê gặp "Tử Vi, Thiên Phủ", tinh hệ Thiên Lương có Thiên Thọ đồng độ, chủ về người phối ngẫu sống thọ hơn mệnh tạo; đối với nữ mệnh, có lúc lại sống thọ hơn chồng.

Cung tài bạch gặp Thiên Thọ, chủ về sống thọ, cát hay hung, cần phải xem tổ hợp sao thực tế mà định.

Đài Phụ, Phong Cáo

Đài Phụ thuộc dương thổ, Phong Cáo thuộc âm thổ; Đài Phụ có tính tinh thần, Phong Cáo có tính vật chất, cho nên "quý khí" của Đài Phụ chủ về danh vọng, còn "quý khí" của Phong Cáo chủ về phong tặng.

Chúng ưa gặp các sao khoa văn hội hợp, lợi về thi cử, cạnh tranh.

Ở cung sự nghiệp, chủ về có vinh dự; ở cung tài bạch, chủ về nhờ có vinh dự mà được tiền của (ví dụ như nhờ có thương hiệu mà làm ăn phát đạt).

Cung gặp Đài Phụ, Phong Cáo hội hợp, nếu là cung mệnh và các cung lục thân, gặp các sao sát, kị, hình, hao trùng trùng, lại có Văn Xương, Văn Khúc hội hợp, thì đề phòng tử vong. Vì Đài Phụ, Phong Cáo cũng có ý vị "bia mộ".

Thiên Quan, Thiên Phúc

Thiên Quan thuộc dương thổ, Thiên Phúc cũng thuộc dương thổ. Thiên Quan chủ về sang quý thanh cao, Thiên Phúc chủ về phúc thọ.

Thiên Quan ưa đồng độ với Thiên Lương, đây là nhóm sao chủ về danh vọng, sang quý thanh cao. Thiên Phúc ưa đồng độ với Thiên Đồng, chủ về hưởng thụ nhiều phúc.

Nếu cung phúc đức gặp Thiên Đồng, Thiên Phúc; cung thân gặp Thiên Quan, nếu hai tổ hợp sao đều cát, là con nhà thế gia; hai tổ hợp sao không cát tường, cũng là con nhà thế gia mà lêu lổng.

Phi Liêm

Phi Liêm thuộc dương hỏa, chủ về tiểu nhân, cũng chủ về đào hoa, cũng là sao côn trùng (con gián).

Về đào hoa, chủ về bị người ta chỉ trích sau lưng.

Cung điền trạch gặp Phi Liêm, chủ về nhà có mối; hoặc có nhiều côn trùng như rắn, rết, chuột, dán, ruồi, muỗi, v.v...

Thiên Cơ Hóa Kị hoặc Cự Môn Hóa Kị, có Phi Liêm đồng độ, dễ bị kiện cáo dân sự; phạm pháp không nặng, nhưng dễ sinh phiền phức.

Có lúc còn là phát tiết tâm trạng, như mua sắm điên cuồng để tâm trạng được quân bình.

Cung tài bạch gặp Phi Liêm, tuy kiếm được tiền nhưng gặp nhiều phiền phức.

Phá Toái

Phá Toái thuộc âm hỏa, chủ về hao tổn tiền của, cũng chủ về không được như ý.

Phá Toái đồng độ với các sao tiền tài (như Vũ Khúc, Thiên Phủ, Thái Âm, Lộc Tồn, Hóa Lộc), chủ về làm yếu "tài khí", có được chút tiền ắt cũng phải hao tổn một phần.

Phá Toái ở cung mệnh, có Phi Liêm hội chiếu, tinh hệ chính diệu chủ về tâm trạng hóa (như tổ hợp Thiên Đồng), hoặc có tính ham muốn vật chất (như tổ hợp Tham Lang), sẽ chủ về ưa mua sắm, vì vậy mà tiền bạc không dư giả.

Các sao ở cung phúc đức không cát tường, có Phá Toái đồng độ, chủ về tâm tình không vui.

Giải Thần

Giải Thần chia ra làm hai loại: Niên Giải và Nguyệt Giải, do an sao bằng năm sinh hay tháng sinh. Niên Giải cũng có lưu diệu của lưu niên, khởi từ cung Tuất, căn cứ chi năm sinh đi nghịch để an sao (tương tự phương pháp an sao theo năm sinh).

Giải Thần chủ về tiêu khó giải phiền, nhưng cùng chủ về li tán, cần phải xem xét kĩ tổ hợp sao ở các cung mà định.

Cung mệnh (hoặc cung tài bạch) của lưu niên gặp Niên Giải; cung mệnh (hoặc cung tài bạch) của lưu nguyệt gặp Nguyệt Giải, chủ về có thể giải trừ rối ren (hoặc chủ về nhờ lực giải trừ mà thu hoạch tiền của). Các tổ hợp sao mà hung, sẽ chủ về vì giải trừ mà phá tài, hoặc bị tổn thất về sự nghiệp.

Cung phu thê (hoặc cung mệnh) của lưu niên, gặp Giải Thần, hội Thiên Mã, là cấu tạo thành tổ hợp chủ về li hôn.

Thiên Vu

Thiên Vu chủ về di sản, cũng chủ về thăng chức, thăng tiến.

Thiên Lương, Thiên Vu bay đến cung mệnh hoặc cung tài bạch, chủ về được thừa hưởng di sản.

Thiên Vu đồng độ với sao tiền tài ở cung tử nữ, chủ về có con cái kế thừa sự nghiệp.

Thiên Lương, Thiên Vu, Kình Dương hội hợp, thường thường vì tiền bạc mà xảy ra bất hòa, tranh chấp.

Cung mệnh hoặc cung sự nghiệp của lưu niên cát lợi, gặp Thiên Vu thì được thăng chức.

Thiên Nguyệt

Thiên Nguyệt chủ về bệnh tật, phần nhiều là bệnh dịch, hoặc bệnh mạn tính. Cung thiên di gặp Thiên Nguyệt, dễ mắc bệnh không hợp thủy thổ; gặp các sao không cát tường sẽ chủ về nhiễm bệnh ở tha hương.

Thiên Nguyệt ở cung tài bạch gặp sát tinh, chủ về vì bệnh mà hao tài.

Thiên Nguyệt ở cung giao hữu gặp sát tinh, chủ về bị người dưới quyền xâm phạm lợi ích.

Thiên Nguyệt ở cung sự nghiệp gặp cát tinh, có thể làm nghề hay kinh doanh về y dược.

Âm Sát

Âm Sát chủ về hung hiểm, tổn thất, có ý vị bị tiểu nhân ám hại; về bệnh tật chủ về bệnh âm hư, có tính hao tổn.

Cung điền trạch có Liêm Trinh và Âm Sát cùng bay đến, gặp các sao sát, kị, chủ về sùng bái những hiện tượng kì lạ.

Cung mệnh có các sao mẫn cảm đồng độ với Âm Sát, chủ về dễ sinh cảm ứng với những hiện tượng kì lạ.

Hoa Cái

Hoa Cái chủ về "cô độc, cao ngạo"; gặp các sao khoa văn sẽ chủ về ưa thích triết học, văn nghệ, có kiến giải đặc biệt; gặp sao không sẽ chủ về ưa thích tôn giáo.

Hoa Cái vốn là "nghi trượng" của thiên tử hoặc chư hầu đi tuần thú, tức là lọng kiệu, cho nên cũng ưa đồng cung với Tử Vi.

Người bệnh nặng không nên gặp Hoa Cái ở cung mệnh, thường thường có ý vị là nghi trượng của tang lễ.

Hàm Trì

Hàm Trì chủ về hiếu sắc, ưa Thiên Đức cùng bay đến, có Thiên Đức thì hóa thành tài nghệ, tài nghệ của họ được người khác giới hoan nghênh.

"Liêm Trinh, Tham Lang" có Hàm Trì đồng độ, gặp các sao sát, kị, hình, hao là chủ về vì sắc mà phá tài, còn bị thị phi bất hòa, tranh chấp.

Hàm Trì hội hợp với Văn Xương, Văn Khúc, lại gặp thêm Lộc Tồn, Hóa Lộc, chủ về nhờ được người khác giới yêu thích mà có tiền bạc.

Cung tật ách gặp Hàm Trì, chủ về bệnh kín của phụ nữ, nam mệnh thì chủ về bệnh đường sinh dục, nhẹ thì bệnh thấp nhiệt.

Đại Hao

Đại Hao chủ về hao tổn, hội Hàm Trì là tai họa sắc dục, vì sắc mà hao tài; hội các sao đào hoa, còn gặp các sao sát, kị, chủ về vì sắc mà chuốc họa nghiêm trọng.

Đại Hao cũng chủ về không thừa kế sản nghiệp của ông bà cha mẹ; vì vậy không nên bay vào cung điền trạch, cung phụ mẫu.

Thái Âm, Văn Khúc, Đại Hao mà gặp Hóa Kị, chủ về bị té ngã hoặc bị móc túi.

Thiên Không

Thiên Không và Địa Không có tính chất gần giống nhau. Thiên Không chủ về tư tưởng siêu thoát độc đáo, người ta khó mà hiểu được, cũng không thích tranh chấp hay xảy ra xung đột với ai, cho nên tốt hơn Địa Không, nhưng nhiều lúc trở thành không tưởng.

Thiên Không ưa đồng cung với Tử Vi, đây là điểm tượng gây dựng sự nghiệp từ chỗ không có gì, nhờ không tưởng mà chinh phục thiên hạ.

Thiên Không đồng cung với Tham Lang, có thể nhuyễn hóa tính chất đào hoa thành ham muốn vật chất.

Thiên Không đồng độ với Hồng Loan, Thiên Hỉ, là người dễ thân cận, nhưng đối với nữ mệnh thì có thể vì vậy mà bị quấy nhiễu, gây phiền phức.

Thiên Không đồng độ với Thiên Lương, chủ về chỉ nói mà không làm.

Thiên Không đồng độ với Thiên Cơ, chủ về kế hoạch xa rời hiện thực.

Thiên Không đồng độ với Thiên Phủ, là kho trống, không nên ở cung tài bạch.

Tiệt Không, Tuần Không

Tiệt Không và Tuần Không đều có phân biệt "Chính Không" và "Bàng Không". Người sinh năm dương, thì Chính Không ở cung dương (sáu cung Tí, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất), còn Bàng Không thì ở cung âm (sáu cung Sửu, Mão, Tị, Mùi, Dậu, Hợi). Người sinh năm âm thì Bàng Không ở cung dương, Chính Không ở cung âm. Chỉ luận Chính Không, không luận Bàng Không.

Tiệt Không chủ về chướng ngại, phàm việc gì cũng dễ trở thành rối rắm. Tiệt Không không ưa đồng độ với Lộc Tồn, Hóa Lộc, chủ về trở lực; nhưng lại ưa bay đến cung phúc đức, chủ về là người độ lượng.

Tuần Không chủ về không có thực, cũng chủ về không thành tựu.

Thiên Đức, Nguyệt Đức

Thiên Đức, Nguyệt Đức đều chủ về hóa giải chướng ngại; nhưng Thiên Đức thuộc dương, Nguyệt Đức thuộc âm, cho nên sự hóa giải cũng có cơ duyên và tính chất khác nhau.

Ngoài "hóa giải" ra, nó còn có tác dụng bảo hộ; cho nên cổ nhân xem chúng là sao tiêu tai tăng phúc.

Long Đức

Long Đức chủ về được nơi nơi làm việc hoặc cơ quan công cộng cấp cho lợi ích, hoặc được bảo đảm, bảo vệ; có lúc cũng chủ về được biểu dương, tưởng thưởng.

Long Đức còn có năng lực hóa giải phiền phức, rối rắm, và khiến cho đời người tăng thêm sự ổn định, nhưng vẫn xuất phát từ nơi làm việc hoặc cơ quan công cộng.

Thiên Trù

Thiên Trù chủ về bổng lộc, lúc bay đến cung mệnh hoặc cung điền trạch, chủ về được đặc ân, trợ cấp của nhà nước hoặc công ti.

Thiên Trù đồng độ với Tham Lang, chủ về giỏi nấu ăn; Thiên Trù hội hợp với "Vũ Khúc, Thất Sát" Hóa Lộc, thích hợp kinh doanh ẩm thực.

Trường Sinh Thập Nhị Thần

Trường Sinh chủ về sinh phát, lại có ý vị liên miên bất tuyệt, rất ưa đồng độ với Thiên Cơ. Trường Sinh rơi vào cung nào cũng đều có sức sống.

Mộc Dục là đào hoa, còn chủ về tình cảm vợ chồng hòa hợp, hạnh phúc.

Quan Đới chủ về hỉ khánh (chuyện mừng), lợi về khai sáng.

Lâm Quan chủ về hỉ khánh (chuyện mừng), có trợ lực.

Đế Vượng chủ về phách lực và thể chất, ở cung nào cũng đều có ý vị tăng cường sức mạnh.

Suy chủ về suy sụp, hư hỏng và thờ ơ, tiêu cực.

Bệnh chủ về bệnh đau; ở cung sự nghiệp, chủ về sự nghiệp có khuyết điểm; ở cung tài bạch, chủ về vì mắc bệnh mà hao tài.

Tử chủ về không có sinh khí, thiếu tích cực.

Mộ chủ về lực ngầm; ưa ở cung tài bạch và cung sự nghiệp, chủ về được ngầm giúp đỡ, nhưng gặp Hóa Khoa và Hóa Quyền thì bất lợi.

Tuyệt chủ về cô độc, thất vọng, tiêu cực.

Thai chủ về thêm vinh dự.

Dưỡng chủ về nuôi dưỡng, bồi đắp.

Bác Sĩ Thập Nhị Thần

Tử Vi Đẩu Số có hai bộ lưu diệu; một bộ là các lưu diệu phụ, tá, sát, hóa, chủ yếu dùng để luận đoán 12 cung của đại vận hoặc lưu niên; một bộ khác là chuyên dùng để đoán tiểu hạn.

Các lưu diệu phụ, tá, sát, hóa, gồm có: Lưu Khôi, Lưu Việt; Lưu Xương, Lưu Khúc; Lưu Lộc, Lưu Mã; Lưu tứ hóa; Lưu Dương, Lưu Đà, ngoài ra còn có Niên Giải của lưu niên.

Ý nghĩa của các lưu diệu này tương đồng với ý nghĩa của bản thân các sao phụ, tá, sát, hóa. Nếu lưu diệu xung khởi các sao phụ, tá, sát, hóa của nguyên cục thì sức mạnh của hai bên sẽ mạnh thêm. Đây là những điểm then chốt khi luận đoán về những biến hóa ở 12 cung của lưu niên hoặc đại vận.

Lưu diệu dùng để luận đoán tiểu hạn thì có ba nhóm là "Bác Sĩ Thập nhị thần", "Tướng tiền thập nhị thần", và "Tuế tiền thập nhị thần". Nếu tiểu hạn gặp chúng, dựa vào tính chất của chúng để trợ giúp luận đoán 12 cung lưu niên.

Dưới đây xin lần lượt trình bày tính chất của ba nhóm lưu diệu này.

Bác Sĩ thập nhị thần

Bác Sĩ chủ về thông minh. Khi hội hợp với các sao phụ, tá ở tiểu hạn, lưu niên, chủ về danh, và tâm trạng tốt.

Lực Sĩ chủ về quyền thế; đồng độ với Hóa Quyền, chủ về quyền lực.

Thanh Long chủ về kiếm được tiền, nhất là kiếm được tiền nhờ hỉ sự.

Tiểu Hao chủ về hao tài, nhất là rơi mất, làm mất.

Tướng Quân chủ về uy, phúc, và đắc ý.

Tấu Thư chủ về tin vui, nhờ chữ nghĩa mà tiến thủ, còn chủ về kiện tụng thắng lợi.

Phi Liêm chủ về tiểu nhân, đào hoa, bị dèm xiểm, còn chủ về mua sắm.

Hỉ Thần chủ về hỉ khánh (chuyện mừng); cũng chủ về kéo dài, hỉ sự liên tiếp.

Bệnh Phù chủ về nạn tai, bệnh tật nhỏ, còn có tính chất thị phi.

Đại Hao chủ về hao tài, phá tán, mất đồ; còn chủ về không giữ được tổ nghiệp. Đại Hao hội hợp với các sao đào hoa là vì sắc mà xảy ra nạn tai.

Phục Binh chủ về ngầm có âm mưu ám hại, cũng chủ về trở ngại kéo dài.

Quan Phù chủ về phạm pháp kiện tụng, đồng độ với tài tinh Hóa Kị, chủ về vì tiền mà xảy ra bất hòa, tranh chấp; đồng độ với Thất Sát, Kình Dương còn gặp thêm Bạch Hổ, thì chủ về hình phạt.

Tướng Tiền Thập Nhị Thần

Tướng Tinh chủ về võ nghiệp quý hiển, còn chủ về đắc ý. Lưu nhật mà gặp nó thì chủ về thần thái hồ hởi, cũng chủ về được trợ lực trong cạnh tranh.

Phan An lợi về công danh, còn chủ về gần gũi bậc quyền quý, có thế lực.

Tuế Dịch lợi về di chuyển; ưa đồng độ với Lưu Lộc (Tồn), Lưu Hóa Lộc, là cách "Lộc Mã giao trì".

Tức Thần chủ về tiêu trầm, thất chí, không ưa đồng độ với sát tinh.

Hoa Cái chủ về cô độc, cao ngạo nhưng có tài nghệ. Lưu nhật mà gặp nó có thể hóa giải tai ách; cũng chủ về ưa thích đàm kinh luận đạo.

Kiếp Sát chủ về cướp tiền của, không ưa đồng độ với Vũ Khúc, Thất Sát, Hỏa Tinh, Kình Dương, chủ về bị cướp của, hoặc bị tranh đoạt tài vật.

Tai Sát chủ về tiền của bị tiểu nhân dòm ngó, hoặc vì nạn tai, bệnh tật mà hao tài.

Thiên Sát đối với nữ mệnh, bất lợi về cha và chồng; chủ về đi xa hoặc chia li. Nam mệnh chủ về vì cha mà hao tài.

Chỉ Bối chủ về phỉ báng, nói xấu, bêu riếu, thị phi sau lưng.

Hàm Trì chủ về đào hoa, hội Đại Hao thì chủ về vì sắc mà phá tài.

Nguyệt Sát đối với nam mệnh, bất lợi về mẹ và vợ; chủ về đi xa hoặc chia li; nữ mệnh chủ về vì mẹ mà hao tài.

Vong Thần chủ về hao tài, gặp sát tinh thì chủ về mất đồ.

Tuế Tiền Thập Nhị Thần

Tuế Kiến ở cung nào sẽ chủ về cát hung của năm đó, ưa có sao cát cùng bay đến, chủ về có nhiều chuyện mừng; có sao hung cùng bay đến thì nhiều họa tai, phải xem các sao ở cung mệnh của lưu niên mà định tính chất cụ thể.

Hối Khí chủ về sóng gió, trắc trở, u ám; còn chủ về tâm trạng không ổn định.

Tang Môn chủ về có tang; gặp các sao sát, kị thì càng đúng. Lưu nhật mà gặp nó thì chủ về có tang.

Quán Sách chủ về trói buộc, gò bó; gặp các sao sát, kị thì chủ về lao ngục; ở cung tật ách mà gặp thêm các sao sát, kị thì chủ về phải ở trong bệnh viện.

Quan Phù chủ về thưa kiện, bị truy tố.

Tiểu Hao chủ về hao tài, chủ về rơi mất, đánh mất. Chỉ dùng trong lưu nguyệt và lưu nhật.

Đại Hao chủ về hao tài, có tính chất đào hoa. Cũng chỉ dùng trong lưu nguyệt và lưu nhật. Hao tổn của "Bác Sĩ thập nhị thần" là hao nhẹ.

Long Đức chủ về phùng hung hóa cát, còn chủ về được thưởng.

Bạch Hổ chủ về hung họa; ngại gặp Quan Phù, chủ về bị hình phạt. Ở cung phụ mẫu của lưu niên là hung tang.

Thiên Đức chủ về hóa giải hung hiểm, đối với hỉ sự là được tăng thêm vinh dự.

Điếu Khách chủ về điếu tang, hoặc chủ về đi khám bệnh; gặp sao hung thì chủ về có tang.

Bệnh Phù chủ về nạn tai, bệnh tật nhỏ, thị phi lặt vặt.


Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tam Hợp Phái

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Tam Hợp Phái