Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Tam Hợp Phái

Bài tổng quan

Phụ Diệu Và Tá Diệu: Khôi Việt, Tả Hữu, Xương Khúc, Lộc Mã

Tử Vi Nam Phái - Tam Hợp Phái17/09/202631 phút đọc4 lượt đọc
Phụ Diệu Và Tá Diệu: Khôi Việt, Tả Hữu, Xương Khúc, Lộc Mã

Phái Trung Châu chia sao thành chính diệu, phụ diệu, tá diệu, sát tinh, hóa diệu, tạp diệu và lưu diệu. Phụ diệu gồm Thiên Khôi, Thiên Việt, Tả Phụ, Hữu Bật, đem lại lợi ích nhờ tha lực; tá diệu gồm Văn Xương, Văn Khúc, Lộc Tồn, Thiên Mã, đòi hỏi tự lực. Thiên Khôi, Thiên Việt là quý nhân, giúp đỡ đến từ trưởng bối hay cấp chủ quản. Tả Phụ, Hữu Bật là trợ lực từ người ngang vai: đồng sự, bằng hữu, người dưới quyền. Văn Xương và Văn Khúc đều chủ thông minh và lễ nhạc, nhưng Văn Xương thiên về nghi lễ, Văn Khúc thiên về biện bác. Lộc Tồn và Thiên Mã hợp thành cách Lộc Mã giao trì, lợi nhất về kiếm tiền ở nơi xa, song phải do chính mệnh tạo nỗ lực mới có.


Thiên Khôi, Thiên Việt

Trong Tử Vi Đẩu Số, tác dụng của các sao phụ, tá, sát, hóa và tạp diệu sẽ khiến 60 tinh hệ do 14 chính diệu cấu tạo thành có thể biểu hiện các tính chất phức tạp, để phản ánh sự phức tạp của đời người. Chúng có thể nhuyễn hóa, hoặc làm mạnh thêm, yếu đi bản chất của tinh hệ gốc. Trong lúc vận dụng phối hợp, mười hai tinh bàn đơn giản ban đầu sẽ trở nên sôi động, thành các tổ hợp thiên biến vạn hóa, khiến người ta phải hoa mắt.

Muốn trình bày tất cả các tổ hợp tinh hệ có thêm sự biến hóa của các sao phụ, tá, sát, hóa và tạp diệu, vốn là điều không thể, do đó chỉ có thể tìm hiểu tính chất của chúng để thêm vào mà dung hợp biến thông, lấy đó làm căn cứ luận đoán.

Điều tối quan trọng của Tử Vi Đẩu Số là chứng nghiệm, sở dĩ có tinh hệ và tính chất của các sao, thực ra cũng là do người xưa chứng nghiệm rồi ghi chép lại. Cần căn cứ tình hình sinh hoạt của xã hội hiện đại để bổ sung chứng nghiệm của người xưa, thì chứng nghiệm của Đẩu Số mới giữ được sự chính xác theo thời gian.

Theo sự lưu truyền của phái Trung Châu Vương Đình Chi, các sao không phân chia theo cấp (cấp 1, cấp 2, v.v...), mà chia thành chính diệu, phụ diệu, tá diệu, sát tinh, hóa diệu, tạp diệu, và lưu diệu. Phụ diệu là bốn sao Tả Phụ, Hữu Bật; Thiên Khôi, Thiên Việt. Thông thường người ta cộng thêm Văn Xương, Văn Khúc, và gọi là "lục cát tinh".

Trong hệ thống của phái Trung Châu, tám sao phụ tá được chia thành hai nhóm là phụ diệu và tá diệu, như sau: phụ diệu gồm Thiên Khôi, Thiên Việt, Tả Phụ, Hữu Bật; tá diệu gồm Văn Xương, Văn Khúc, Lộc Tồn, Thiên Mã.

Trong các phụ diệu, Thiên Khôi, Thiên Việt được gọi là "quý nhân"; còn Tả Phụ, Hữu Bật là "trợ thủ". Lợi ích do phụ diệu mang lại thuộc về "tha lực" (do các nhân tố khách quan tác động), không phải do cá nhân nỗ lực mà được.

Ví dụ như khoảng thời gian Hương Cảng mới thay đổi chính thể, đã tạo ra cơ hội cho nhiều người tham gia vào chính giới, những cơ hội như vậy có thể nói là do Thiên Khôi, Thiên Việt. Những người được vận tốt, hoàn toàn chỉ do nắm được thời cơ, chứ chẳng phải có người đặc biệt cố tình mang lại lợi ích cho họ. Nếu không có thời cơ thích đáng, những người này dù có nỗ lực theo đuổi cũng không thể có được.

Còn lợi ích do tá diệu mang lại thì thuộc về "tự lực", cần phải trải qua sự nỗ lực tranh thủ mới có được. Có Văn Xương, Văn Khúc chiếu mệnh, thông thường chủ về học hành thông minh, nhưng bản thân cũng phải chịu học mới được; có Lộc Tồn và Thiên Mã thì có thể kinh doanh làm ăn phát tài, nhưng bản thân cũng phải chịu đi kinh doanh mới được. Cho nên bốn sao "tá diệu" có thể phát huy là do "tự lực".

Lợi ích do tá diệu mang lại thì nhất định bản thân phải nỗ lực tranh thủ, trái ngược với tính chất của phụ diệu. Ví dụ như Lộc Tồn, Thiên Mã thông thường chủ về xuất ngoại kinh doanh làm ăn và trở nên giàu có. Nếu cung mệnh hoặc cung thiên di gặp nhóm tá diệu này, nhưng bản thân mệnh tạo lại không đi kinh doanh làm ăn, thì nhất định không có được tài phú. Như đã nói, Văn Xương, Văn Khúc chủ về khoa cử công danh, giả dụ cung mệnh hoặc cung phúc đức gặp nhóm sao này, nhưng bản thân mệnh tạo lại không đi học, thì nhất định không thể có học vị.

Cần phải hiểu rõ điểm khác biệt giữa phụ diệu và tá diệu, lúc luận đoán mới phân biệt được tính chất khác nhau của cùng một tinh hệ.

Thiên Khôi và Thiên Việt

Thiên Khôi thuộc dương hỏa, Thiên Việt thuộc âm hỏa, đều thuộc Nam Đẩu tinh hệ. Cổ nhân cho rằng chúng là sao tài danh, nhưng tính chất của chúng khác với tính chất khoa cử công danh của Văn Xương, Văn Khúc. Trong mệnh bàn, Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Khôi, Thiên Việt đều chủ về thông minh và lợi về cầu danh, nhưng tính chất thông minh của Văn Xương, Văn Khúc mang sắc thái phong lưu nho nhã; còn Thiên Khôi, Thiên Việt thì chân chất, không có tài hoa. Theo bí truyền của phái Trung Châu Vương Đình Chi, Thiên Khôi, Thiên Việt giống như quan lại được đề cử.

Trên thực tế, Thiên Khôi và Thiên Việt chủ về lợi ích do chế độ điển chương hay pháp chế mang lại, hoặc nhờ cơ hội thay đổi cơ chế, thể lệ, hay nguyên tắc mà có. Do đó suy rộng ra, có thể do công ti thay đổi chính sách mà mang lại điều tốt, v.v...

Thiên Khôi, Thiên Việt cần phải thành cặp hội hợp ở tam phương tứ chính mới xảy ra tác dụng. Nếu như Thiên Khôi, Thiên Việt của nguyên cục xung khởi Thiên Khôi, Thiên Việt của đại vận hoặc lưu niên thì sức mạnh càng lớn.

Trong trường hợp Thiên Khôi, Thiên Việt xuất hiện với hình thức "sao lẻ" đồng độ hoặc hội chiếu, thì cần phải chú ý vấn đề "âm dương điều hòa". Thiên Khôi thuộc dương, vì vậy ưa đồng độ với các sao âm tính, như Thái Âm, Liêm Trinh, Thất Sát. Thiên Việt thuộc âm, vì vậy ưa đồng độ với các sao dương tính, như Thái Dương, Thiên Đồng, Tham Lang, Thiên Tướng, Thiên Lương.

Thiên Khôi được sao âm điều hòa, cơ hội mới không bị vuột mất; Thiên Việt được sao dương điều hòa, mới dễ phát hiện cơ hội; nếu không cả hai đều mất cơ hội.

Vì vậy, "Thiên Khôi, Hỏa Tinh" đồng độ, là quá dương cương, dễ mất cơ hội, chỉ cần hơi do dự là mất cơ hội ngay; ở cung tật ách chủ về bệnh đến như lửa táp, thuộc loại cấp tính.

"Thiên Việt, Linh Tinh" đồng độ, là quá âm nhu, dễ bị tình trạng cơ hội đến mà không biết, chuyện đã xong thì mới hối tiếc; ở cung tật ách chủ về bệnh kéo dài triền miên, thuộc loại mạn tính.

Thiên Khôi, Thiên Việt không cần ở cung mệnh mới có lợi; ở cung điền trạch có lúc cũng chủ về cơ hội làm việc trong tập đoàn hay công ti lớn; ở cung phụ mẫu, sẽ chủ về được thượng cấp hoặc cấp chủ quản đề bạt hoặc giới thiệu; ở cung phúc đức, là hai sao có lợi về nghiên cứu học thuật, như trong cách cục "Dương Lương Xương Lộc", sẽ chủ về sở học được dùng.

Phàm là cung vị lục thân, đều không ưa Thiên Khôi, Thiên Việt xuất hiện trong hình thức "sao lẻ". Nếu "sao lẻ" mà còn là "âm dương mất điều hòa", kèm thêm gặp sát tinh, ắt sẽ có sự cố, thông thường là cha mẹ "lưỡng trùng" (cha hoặc mẹ có chắp nối, kết hôn nhiều lần), anh em "lưỡng trùng" (tức anh em cùng cha khác mẹ, hoặc ngược lại), hai lần hôn nhân; có các sao đào hoa cùng bay đến thì càng đúng.

Sao lẻ Thiên Việt đồng độ với Hồng Loan, Thiên Hỉ; hoặc lại gặp Hàm Trì, Đại Hao; thì gọi là "hỗ đổ đào hoa", dễ xảy ra chuyện tình với người cùng phái, lúc này trợ lực biến thành trở lực.

Thiên Khôi, Thiên Việt tự hội; Kình Dương, Đà La cũng tự hội; lại thêm Địa Không, Địa Kiếp tự hội; nếu ở cung mệnh hoặc cung tật ách, đều chủ về mắc bệnh nan y.

Thiên Khôi, Thiên Việt tự hội; Văn Xương, Văn Khúc cũng tự hội; lại gặp thêm sao lộc (Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc đều được), chủ về cuộc đời có đủ quyền thế và lợi lộc.

Thiên Khôi tọa cung mệnh, Thiên Việt tọa cung thân, hoặc ngầm tương hội ở tam phương tứ chính, cung mệnh hay thân lại được chính diệu cát, sát tinh không nặng, chủ về tuổi trẻ được vợ đẹp; bất kể nam mệnh hay nữ mệnh, cũng chủ về cuộc đời mỗi khi gặp khó khăn ắt sẽ được người ta trợ lực.

Dưới đây là các kết cấu của Thiên Khôi, Thiên Việt:

(1) Tọa quý hướng quý, Thiên Khôi và Thiên Việt chia ra ở cung mệnh và cung thiên di, bất luận nam mệnh hay nữ mệnh, chủ về nhờ thay đổi chế độ điển chương hay pháp chế mà có cuộc tao ngộ. Có điều nữ mệnh thì không thích hợp, sẽ chủ về thay lòng đổi dạ. Nhưng nếu lại được thêm Tả Phụ, Hữu Bật hội hợp, thì tình cảm khá ổn định; gặp sao lẻ Tả Phụ hay Hữu Bật, sẽ chủ về thay lòng đổi dạ, có người tình mới.

(2) Thiên Khôi và Thiên Việt chia ra ở cung mệnh hay cung thân, hoặc ở cung tam hợp tương hội, chủ về sự nghiệp đắc ý; ở trong các mệnh cục như Liêm Trinh thủ mệnh gặp Tử Vi, Thiên Phủ, Thái Dương thủ mệnh (người sinh ban ngày), và Thái Dương thủ mệnh (người sinh vào ban đêm); đều không có các sao sát, kị, thì dễ thành đầu não của công ti hoặc nhân vật lãnh đạo trong chính giới. Nếu có thêm Văn Xương, Văn Khúc hội hợp, thì lại chủ về nhờ phát đạt sớm mà được người khác giới yêu thích; thêm Lộc Tồn, Hóa Lộc, thì còn được gia đình vợ dìu dắt, giúp đỡ.

(3) Thiên Khôi và Thiên Việt giáp mệnh, nếu cung mệnh được giáp, chủ về cuộc đời có nhiều quý nhân trợ lực, phần nhiều là lợi ích do chế độ điển chương hay pháp chế mang lại. Nếu cung phu thê được giáp, chủ về được nhờ gia đình vợ. Riêng cung mệnh và cung phu thê, còn chủ về nhờ kết hôn mà được trợ lực, nữ mệnh lấy được chồng tài giỏi.

Thiên Khôi, Thiên Việt là các sao mượn từ "Tùng Thần gia" — một phái Trạch Cát chuyên dùng thần sát, xuất hiện vào đời Hán. Nếu truy đến nguồn gốc, thì không phải do các Đẩu Số gia mượn dùng. Đại khái là do Ngũ Tinh thuật đã mượn dùng hai sao này từ rất sớm. Đến khi Ngũ Tinh thuật suy vi, khoa Tử Bình hưng khởi, hai sao này vẫn được dùng, nhưng có tên khác, Thiên Khôi gọi là "Thiên Ất", Thiên Việt gọi là "Ngọc Đường". Đương thời hai sao này là sao chủ về khoa cử công danh, trong mệnh mà gặp chúng thì lợi về khoa cử, nhờ đó mà được quý hiển.

Sau khi các Đẩu Số gia mượn dùng hai sao này, phát triển thành tổ hợp tinh hệ, thì tính chất của chúng bị thay đổi, không còn chuyên về khoa cử công danh, mà thành "thần hòa hợp ở thương giới". Tại sao gọi là "hòa hợp"? Cổ nhân nói:

"Nếu gặp đại nạn, ắt sẽ được quý nhân phù trợ; tiểu nhân xâm phạm cũng không hung."

Tức là nói "được quý nhân trợ giúp".

Trong quá trình phát triển, tuy có thêm ý nghĩa "quý nhân trợ giúp", nhưng ý nghĩa ban đầu "khoa cử công danh" vẫn chưa mất. Vì vậy trong cổ quyết vẫn có các thuyết:

"Thiên Khôi, Thiên Việt ở cung mệnh hay cung thân phần nhiều đều thi cử đỗ đạt" (Thiên Khôi tọa cung mệnh, Thiên Việt nhập cung thân, lợi về khoa cử công danh).
"Thiên Khôi, Thiên Việt, chủ về văn chương cái thế."

Nhưng theo Vương Đình Chi, các thuyết này đều chưa chính xác. Xem về học hành thi cử, vẫn phải xem Văn Khúc, Văn Xương. Chỉ khi nào không thuộc phạm vi thi cử hoặc cạnh tranh về học hành thì Thiên Khôi, Thiên Việt mới phát huy tác dụng. Do đó có thể thấy, ý nghĩa của hai sao Thiên Khôi, Thiên Việt đã phát triển và thay đổi trong Đẩu Số, nên khi luận đoán không cần quá xem trọng ý nghĩa ban đầu của Tùng Thần gia. Thiên Việt có chút ý vị đào hoa, thực ra cũng là do các Đẩu Số gia về sau chứng nghiệm mà phát triển thêm tính chất này. Vì vậy trong sách Đẩu Số của đời Nguyên không thấy luận thuật về phương diện này.

Tả Phụ, Hữu Bật

Tả Phụ thuộc dương thổ, Hữu Bật thuộc âm thủy. Tính chất cơ bản của chúng là trợ lực đến từ những người ngang vai hoặc văn bối; như đồng sự, người dưới quyền, bạn hợp tác, bạn học, môn sinh đệ tử. Khác với tính chất của Thiên Khôi, Thiên Việt chủ về trợ lực đến từ bậc trưởng bối hoặc cấp chủ quản.

Tả Phụ, Hữu Bật cũng ưa hình thức "sao đôi" hội nhập một cung, nhất là ở cung viên lục thân. Nếu là "sao lẻ", thì chủ về là con dòng thứ, hoặc cha mẹ "lưỡng trùng", anh em khác dòng, con cái khác dòng, hai lần hôn nhân; nhưng phải có các sao đào hoa hoặc tứ sát tinh hội hợp mới đúng.

Tả Phụ mạnh hơn Hữu Bật. Cho nên Hữu Bật ở cung mệnh hội hợp với Tả Phụ, thường thường không bằng Tả Phụ ở cung mệnh hội hợp với Hữu Bật, trợ lực kém hơn.

Tả Phụ, Hữu Bật đều chủ về lạc quan, khoan dung, đôn hậu, cho nên dù chính diệu của cung mệnh có sắc thái lạnh lùng, hà khắc hoặc bi quan tiêu cực, nếu có Tả Phụ, Hữu Bật hội hợp, thì cũng giảm nhẹ nhược điểm này.

Tả Phụ, Hữu Bật rất ưa giáp các chủ tinh như Tử Vi, Thiên Phủ, Thái Âm, Thái Dương. Hội hợp ở tam phương cũng cát, có thể phát huy trợ lực của nó.

Tả Phụ, Hữu Bật ghét các chính diệu như Thiên Đồng, Thiên Lương, Thiên Cơ, Cự Môn, Vũ Khúc. Thiên Lương không biết kềm chế, Thiên Đồng hưởng thụ, Thiên Cơ giỏi quyền biến, Cự Môn thị phi, Vũ Khúc dứt khoát, đều không hợp với bản chất của Tả Phụ và Hữu Bật; tuy nhờ hội hợp với Tả Phụ và Hữu Bật sẽ giảm nhẹ nhược điểm của chúng, nhưng trợ lực cũng vì vậy mà yếu đi.

Lúc tính chất của tinh hệ xung đột quá nặng với bản chất chất phác, khoan dung, đôn hậu của Tả Phụ, Hữu Bật, sẽ chủ về nội tâm xảy ra mâu thuẫn xung đột, sẽ nổi lên sóng gió, trắc trở và các tình huống rối rắm khó xử trong cuộc đời.

Tả Phụ, Hữu Bật chủ về trợ lực tiên thiên, như dễ kết giao bạn bè hữu ích, dễ được người dưới quyền giúp sức, mà không cần có ý đi tìm. Nhưng nếu chỉ có "sao lẻ" hội hợp hoặc đồng độ, thì dù có nhiều người dưới quyền cũng chủ về thiếu trợ lực.

Lợi dụng tính chất này nhiều lúc có thể giúp cho việc luận đoán cung mệnh. Như Thất Sát an mệnh ở cung Dần hoặc cung Thân, thành cách cục "Thất Sát triều đấu, ngưỡng đấu"; nếu gặp Tả Phụ, Hữu Bật, sẽ chủ về có nhiều người dưới quyền, mà còn có tài lãnh đạo. Nhưng nếu chỉ gặp "sao lẻ" Tả Phụ, Hữu Bật, thì có thể chỉ là người quản lí đại diện.

Cung phu thê gặp Tả Phụ, Hữu Bật, cần phải định đó là trợ lực cho hôn nhân, hay là có người thứ ba xen vào. Tình hình thông thường là, gặp sao lẻ (nhất là Hữu Bật) thì chủ về có người thứ ba.

Nếu gặp Hỏa Tinh, Kình Dương, thì đoán trong hôn nhân xảy ra thay đổi, hoặc trước hay sau hôn nhân có tình huống sa chân lỡ bước. Nếu chính diệu là các tinh hệ Liêm Trinh lạc hãm, hoặc Thiên Lương, Thiên Đồng, Thiên Cơ, Cự Môn, Vũ Khúc, thì lại chủ về bi kịch tình yêu, gặp nhiều sóng gió, trắc trở, hay nhiều nỗi khổ tâm, đau khổ trong lòng. Nếu lại gặp Văn Xương, Văn Khúc thì cũng chủ về bi kịch tình yêu, nhưng có thi vị, lãng mạn.

Nếu cung mệnh và cung phu thê chia ra có Tả Phụ, Hữu Bật; mà còn gặp sát tinh, thì hôn nhân không tốt đẹp, phần nhiều thành oán hận nhau. Nếu cung thân là cung phu thê, không gặp sát tinh, sẽ chủ về được vợ trợ giúp.

Cung huynh đệ gặp Tả Phụ, Hữu Bật, có lúc chỉ chủ về số anh em tăng lên. Như "Tử Vi, Tham Lang" đồng độ, chủ về có ba anh em; gặp thêm Tả Phụ, Hữu Bật sẽ chủ về năm người, nếu lại có Thiên Khôi, Thiên Việt là bảy người.

Muốn biết cụ thể tăng hay giảm, cần phải xem Tả Phụ, Hữu Bật là miếu, bình, hãm thế nào để điều tiết, nhập miếu thì tăng lên nhiều, lạc hãm thì giảm bớt nhiều.

Cung tử nữ chỉ gặp Tả Phụ hoặc Hữu Bật, chủ về sinh gái hay sinh trai trước. Tả Phụ thuộc dương, tính chất rất rõ ràng.

Cung tử nữ gặp Tả Phụ, Hữu Bật, rất khó định là được con cái hay người dưới quyền trợ lực, mà chỉ chủ về có nhiều con cái. Trong các tình hình thông thường, lấy tinh hệ chính diệu của cung viên làm chuẩn. Như cung tử nữ có tinh hệ "Thiên Cơ, Cự Môn", phần nhiều chỉ chủ về nhiều thuộc hạ, nhưng thường hay thay đổi người; xem con cái, Tả Phụ và Hữu Bật sẽ chủ về tăng nhiều con, mà không chủ về trợ lực, vì vậy bản thân "Thiên Cơ, Cự Môn" sẽ không có trợ lực.

Tả Phụ, Hữu Bật có Hỏa Tinh và Kình Dương hội hợp, sẽ tiêu trừ khuyết điểm của nhau, cũng giống như lửa nóng luyện kim để thành vật dụng. Nhưng nếu chỉ gặp "sao lẻ" Tả Phụ, thì âm dương mất điều hòa, cũng giống như lò nấu vàng bị vỡ, xảy ra trở ngại.

Linh Tinh và Đà La cùng hội hợp Tả Phụ, Hữu Bật, phần khuyết điểm cũng có thể được tiêu trừ, mà trở nên đắc dụng. Nhưng nếu chỉ gặp "sao lẻ" Hữu Bật, thì quá âm nhu, âm dương mất điều hòa, sẽ khiến đời người nhiều sóng gió, trắc trở.

Dưới đây là một số tính chất của kết cấu Tả Phụ, Hữu Bật.

(1) Tả Phụ, Hữu Bật giáp hai cung Sửu hoặc Mùi. Tinh hệ chính diệu được giáp cung nhờ vậy mà có trợ lực khá lớn; dù các sao sát, kị được giáp cung, cũng sẽ nhuyễn hóa các nhân tố bất lợi thành nhân tố có lợi. Như "Vũ Khúc, Tham Lang" ở cung Sửu, Tham Lang Hóa Kị, chủ về dễ dẫn đến tranh đoạt lợi ích; nhưng khi có Tả Phụ, Hữu Bật giáp cung, thì có thể nhuyễn hóa thành lợi ích được chia mỏng ra cho hai bên, tính chất khác nhau rất lớn.

Các tinh hệ như "Tử Vi, Phá Quân", Thiên Phủ, "Thái Âm, Thái Dương" rất ưa Tả Phụ, Hữu Bật giáp cung, chủ về tăng cao địa vị xã hội, cũng làm tăng sự ổn định của đời người. Rất ưa có Long Trì, Phượng Các đồng thời giáp cung, sức mạnh càng tăng, còn chủ về là người có tài nghệ.

(2) Tả Phụ, Hữu Bật cùng ở hai cung Sửu hoặc Mùi, tinh hệ chính diệu cũng được tăng mạnh sự trợ lực.

(3) Tả Phụ, Hữu Bật vây chiếu ở hai cung Thìn hoặc Tuất, cũng thành kết cấu có trợ lực khá lớn. Trong các tình hình thông thường, các sao ở cung Thìn hoặc Tuất là rơi vào "Thiên La, Địa Võng", nhưng có Tả Phụ, Hữu Bật vây chiếu sẽ chủ về có trợ lực thúc đẩy thành đột phá. Nếu có thêm Long Trì, Phượng Các vây chiếu, cũng chủ về là người có tài nghệ, hoặc tăng cao địa vị xã hội.

(4) Chỉ gặp Tả Phụ hoặc Hữu Bật, nếu ở cung mệnh lại là tinh hệ vô chính diệu, mượn sao an cung là các tinh hệ "Thiên Đồng, Cự Môn", "Thái Dương, Thiên Lương", "Thiên Cơ, Thái Âm", "Thiên Cơ, Cự Môn", "Thiên Đồng, Thái Âm", sẽ chủ về còn nhỏ đã chia li với gia đình, xa cha mẹ, làm con nuôi của người khác, hoặc là con dòng thứ.

Nếu Liêm Trinh Hóa Kị, có Kình Dương đồng độ, mà chỉ gặp Tả Phụ hoặc Hữu Bật, sẽ chủ về có khuynh hướng đạo tặc, bất kể giàu có hay nghèo nàn, đều như vậy.

Văn Xương, Văn Khúc

Văn Xương thuộc dương kim, Văn Khúc ắt sẽ âm thủy, là sao của Nam Đẩu. Cả hai đều là sao chủ về lễ nhạc, gặp cát tinh sẽ chủ về khoa cử, hôn lễ, chuyển mừng; gặp hung tinh sẽ chủ về tang lễ.

Văn Xương là nghi lễ, điển phạm; cho nên cổ nhân cho rằng chủ về xuất thân bằng con đường chính, là nhờ khoa cử mà thành danh, cũng chủ về yêu thích văn nghệ, và có tài năng ở nhiều phương diện, nhưng đều thiên về học thuật hoặc lí luận.

Văn Khúc là trí tuệ, biện bác; cho nên cổ nhân cho rằng chủ về có công danh nhờ có biệt tài, không khởi nghiệp bằng khoa cử, nhưng cũng chủ về yêu thích văn nghệ, và có tài năng ở nhiều phương diện, có điều chỉ thiên về nghề nghiệp chuyên môn.

Văn Xương, Văn Khúc tuy đều chủ về thông minh và tài năng, nhưng do thuộc "tá diệu" nên cần phải nỗ lực mới có thành tựu, nếu không, sẽ uổng phí tài trí mà thôi.

Tính chất của Văn Xương nếu không cát, gặp chính diệu thiếu trầm ổn vững vàng, mà còn gặp thêm sát tinh, sẽ chủ về tính ưa chải chuốt màu mè bề ngoài để che lấp khuyết điểm và tính cách phù phiếm.

Tính chất của Văn Khúc nếu không cát, là mẫu người miệng lưỡi, không chịu làm việc thiết thực.

Văn Xương, Văn Khúc không ưa đồng độ với các chính diệu như Liêm Trinh, Tham Lang, Cự Môn, Phá Quân; gặp các tổ hợp tinh hệ này cần phải cẩn thận đánh giá. Cổ nhân nói:

"Văn Xương, Văn Khúc đồng độ với 'Liêm Trinh, Thất Sát', gặp Kình Dương, chủ về gian trá, giả dối, là bọn quan lại nhỏ ở công môn."
"Văn Khúc Liêm Trinh, là quan lại nhỏ ở công môn."
"Văn Xương, Văn Khúc và Tham Lang đồng cung, chính sự điên đảo."
"Văn Xương, Văn Khúc, Liêm Trinh, Tham Lang ở hai cung Tị hoặc Hợi, thêm các sao sát, kị, chủ về tan xương nát thịt hoặc yểu mạng."
"Văn Xương, Văn Khúc Hóa Kị ở các cung Hợi, Tí, Sửu, có Phá Quân đồng độ, chủ về trầm luân mờ mịt."
"Văn Xương, Văn Khúc gặp Cự Môn là thất chí."

Các tổ hợp tinh hệ kể trên phải gặp thêm tứ sát tinh và Địa Không, Địa Kiếp mới đúng. Theo bí truyền của phái Trung Châu thì Văn Xương, Văn Khúc có các tính chất đặc biệt như sau:

(1) Tham Lang ở cung Tí thành cách cục "Phiếm thủy đào hoa", sẽ không ưa Văn Xương, Văn Khúc, vì ghét làm tăng sức mạnh đào hoa, khiến cho mệnh tạo thành phong lưu lãng tử, nhiều phù phiếm mà ít có thực chất.

(2) Thái Âm ở cung Tị, chỉ gặp một mình Văn Khúc, chủ về người giỏi tính toán mưu kế, gặp sát tinh thì càng đúng.

(3) "Liêm Trinh, Tham Lang" ở hai cung Tị hoặc Hợi, vốn đã có tính tự do phóng khoáng, thích sao làm vậy; gặp Văn Xương, Văn Khúc lại chủ về cao ngạo, ỷ tài; nếu gặp thêm các sao sát, kị ắt sẽ vì vậy mà chuốc họa.

(4) Thiên Cơ ở hai cung Sửu hoặc Mùi, gặp Văn Xương, Văn Khúc, còn gặp thêm sát tinh, chủ về thông minh vặt, hiểu biết nông cạn mà tự mãn.

(5) "Tử Vi, Tham Lang" ở hai cung Mão hoặc Dậu, chỉ gặp Văn Xương hoặc Văn Khúc, mà không có "triều củng", sẽ chủ về đào hoa hoặc dâm dục.

(6) "Thái Âm và Thái Dương" ở hai cung Sửu hoặc Mùi, là cung phụ mẫu, chỉ gặp Văn Xương, Văn Khúc, chủ về cha mẹ "song trùng".

(7) "Thiên Cơ, Cự Môn" ở hai cung Mão hoặc Dậu, chỉ gặp Văn Xương hoặc Văn Khúc, phàm việc gì cũng thích có kiến giải lạ, mà không có hư tâm thực học.

(8) "Thiên Đồng, Thái Âm" ở hai cung Tí hoặc Ngọ, gặp Văn Xương và Văn Khúc, nữ mệnh chủ về thông minh cơ trí và khéo léo thái quá.

(9) "Vũ Khúc, Tham Lang" đồng độ với Văn Khúc ở cung Sửu, lưu niên mà gặp nó sẽ chủ về "chìm đắm, sặc nước". Nếu không có các sao sát, kị, lại không có Lưu Khúc xung hội, thì đây chỉ là tiểu sự có tính chất "chìm đắm, sặc nước", như bị sặc nước trong hồ bơi, phòng tắm, v.v...

(10) Thái Âm ở cung hãm, chỉ gặp Văn Khúc, lại gặp thêm các sao sát, kị, thì chủ về bị trộm, hoặc chủ về rơi mất, đánh mất; gặp sao đào hoa thì chủ về bị lừa.

(11) Lộc Tồn và Văn Khúc đồng cung, chủ về được nhiều người biết tiếng, nhưng chưa chắc đều là chuyện tốt; nếu gặp các sao sát, kị, thì đây là tiếng xấu; nếu gặp thêm các sao đào hoa, sẽ chủ về vì sắc mà chuốc họa.

(12) "Thái Dương, Thiên Lương" có Văn Xương, Lộc Tồn hội hợp, là cách cục "Dương Lương Xương Lộc", chủ về thắng lợi trong tranh chấp, thi cử đỗ cao. Trường hợp "Thái Dương, Thiên Lương" ở cung Mão là tốt nhất.

(13) Văn Khúc tọa mệnh, vô chính diệu, đối cung là "Cự Môn, Thái Dương" ở cung Dần, gọi "đào hoa dậy sóng" (đào hoa cuồn cuộn), không ngừng xảy ra rắc rối về tình cảm. Nhưng nếu lại gặp Văn Xương, Lộc Tồn, Thiên Mã, tức có đủ bốn tá diệu tụ tập, mà không gặp thêm các sao sát, kị, thì chủ về nhờ đào hoa mà có tiền bạc.

(14) Vũ Khúc đồng độ với Văn Xương, có Đà La và Linh Tinh hội hợp, gọi là cách cục "Linh Xương Đà Vũ".

Văn Xương, Văn Khúc Hóa Kị đều chủ về "có lầm lẫn về văn thư", bị tổn thất vì hợp đồng mua bán có sai sót. Từ tính chất này suy ra, như sai lầm về đầu tư hay đầu cơ, trong buôn bán bị chi phiếu khống, bên B hủy hợp đồng, v.v...

Nhưng tổn thất của Văn Xương thì mang sắc thái tình cảm, còn Văn Khúc thì thường kèm có rắc rối về tình cảm. Cho nên nữ mệnh có Văn Khúc Hóa Kị ở cung mệnh, cung phu thê hoặc cung phúc đức, ngoại trừ tổn thất về tiền bạc, còn bị nhiều chuyện khó nói ra.

Cung tật ách gặp Văn Xương, Văn Khúc Hóa Kị, chính diệu mang sắc thái đào hoa (như "Tử Vi, Tham Lang"), phần nhiều là chủ về bệnh hệ cơ quan sinh dục. Văn Xương, Văn Khúc Hóa Kị ở cùng một cung với Liêm Trinh Hóa Kị, chủ về bệnh tính dục, hoặc bệnh tật có liên quan đến máu. Văn Xương hay Văn Khúc Hóa Kị đồng cung với Thiên Nguyệt, chính diệu là tổ hợp "Thiên Cơ, Thiên Lương", là bệnh dịch (như tiêu chảy, dịch chuột do khuẩn gây ra, v.v...).

Dưới đây là vài kết cấu mang tính chất Văn Xương, Văn Khúc:

(1) Văn Xương, Văn Khúc đồng độ ở cung Sửu hoặc Mùi, nhất là cung Mùi, có thể chỉ là trộm hư danh. Nhưng nếu có Tả Phụ, Hữu Bật đồng độ hoặc giáp cung, thì sẽ quý hiển.

(2) Văn Xương, Văn Khúc giáp mệnh cũng chủ về có trợ lực, nhưng trợ lực này vẫn cần phải xem bản thân có nỗ lực hay không mà định. Như người đạt tới học vị tiến sĩ là có nỗ lực lớn hơn người chỉ tốt nghiệp trung học.

(3) Văn Xương, Văn Khúc chia ra ở cung mệnh và ở cung phúc đức, chủ về mệnh tạo có nhiều khí chất văn nghệ. Nhưng nếu Hóa Kị thì biến thành miệng lưỡi, màu mè bề ngoài. Gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh, thì ý chí bạc nhược.

(4) Văn Xương, Văn Khúc giáp cung phu thê, thì dễ bị quấy rối về tình cảm.

(5) Văn Xương, Văn Khúc chia ra ở cung mệnh và ở cung phu thê, hoặc ở cung phúc đức và ở cung phu thê, tinh hệ chính diệu cát, chủ về vợ chồng hợp ý nhau.

(6) Văn Xương và Văn Khúc đối nhau ở cung mệnh, chủ về ở hai nơi. Cung thiên di không cần gặp "Lộc Mã giao trì", chỉ cần gặp sao lộc, chủ về phát triển đại lợi ở nước ngoài (hoặc nơi xa), hoặc chủ về được tiền bạc của nước ngoài.

Lộc Tồn, Thiên Mã

Lộc Tồn thuộc âm thổ, Thiên Mã thuộc dương hỏa. Lộc Tồn là sao thuộc Bắc Đẩu, Thiên Mã là sao thuộc Trung Thiên, cho nên hai sao này không cần thành cặp, nhưng đơn độc hội hợp cũng có phân biệt về tính chất.

Phái Trung Châu Vương Đình Chi xếp Lộc Tồn và Thiên Mã vào "tá diệu", đó là vì, lúc hai sao này phối hợp thành cách cục "Lộc Mã giao trì" sẽ chủ về không có gì bất lợi, lợi nhất là kiếm tiền ở nước ngoài (hoặc nơi xa), hoặc chủ về ra ở nước ngoài (hoặc ở nơi xa) thì được tài vận. Nhưng tài vận này vẫn phải do mệnh tạo nỗ lực mới có được, cho nên thuộc về "tự lực".

"Lộc Mã giao trì" rất ưa trùng điệp, như Lộc Tồn (hoặc Hóa Lộc) của nguyên cục hội hợp với Lưu Lộc (hoặc Lưu Hóa Lộc) của vận hạn; Thiên Mã của nguyên cục hội hợp với Lưu Mã của vận hạn, đây gọi là "Lộc trùng điệp", "Mã trùng điệp", càng làm mạnh thêm vận khí có tiền bạc.

Nếu chỉ có "Lộc trùng điệp" mà không có "Mã trùng điệp" thì vẫn đại lợi về cầu tài, nhưng không có xuất ngoại; nếu chỉ có "Mã trùng điệp" mà không có "Lộc trùng điệp", thì chỉ chủ về xuất ngoại du lịch, hoặc chỉ chủ về bôn ba mà không có điểm ứng kiếm được tiền.

Cung sự nghiệp có Lộc Tồn và Thiên Mã trùng điệp, chủ về sự nghiệp có cát lợi khi có biến động, chuyển dời. Cung giao hữu có Lộc Tồn và Thiên Mã trùng điệp, chủ về người dưới quyền có biến động thay đổi.

Cung vị lục thân gặp Lộc Tồn và Thiên Mã trùng điệp, đây là điểm chia li; nếu lại gặp các sao sát, kị thì tính chất chia li sẽ kèm hung hiểm.

Lộc Tồn tuy là sao tiền tài, nhưng chỉ chủ về thu nhập cố định, cần phải hội hợp với Hóa Lộc (ưa nhất là các sao tiền tài như Vũ Khúc Hóa Lộc, Thái Âm Hóa Lộc, hoặc Tham Lang Hóa Lộc chủ về ham muốn vật chất), mới chủ về nguồn tiền tài dồi dào; nếu lại gặp Thiên Mã thì nguồn tiền tài lâu dài mà "tài lộ" còn thênh thang.

Lộc Tồn luôn luôn bị Kình Dương và Đà La giáp cung, do đó "tài lộ" không rộng, nhưng lại lâu dài. Nếu Lộc Tồn đồng độ với chính diệu Hóa Kị, thì biến thành "Kình Dương, Đà La giáp Kị", trái lại sẽ chủ về có sự cố bị phá tài. Muốn biết nhân tố phá tài, phải xem tính chất của tinh hệ chính diệu mà định.

Cách "Hóa Tham" hội hợp với Lộc Tồn, chủ về có tiền bất ngờ dồi dào, nhưng dễ phát dễ bại.

Lộc Tồn ưa đồng cung với tám sao Tử Vi, Thiên Phủ, Thiên Tướng, Thiên Lương, Vũ Khúc, Thiên Đồng, Thái Âm, Thái Dương, khuyết điểm khá ít. Nếu đồng cung với các sao khác thì dễ có khuyết điểm lớn. Như Thiên Cơ có bản chất xốc nổi, không thiết thực, xung đột với bản chất đôn hậu của Lộc Tồn; Liêm Trinh xử sự thiên nặng tình cảm, cũng xung đột tính chất với Lộc Tồn chất phác, vụng về.

Lộc Tồn và Hóa Lộc tương hợp ở cung độ lục hợp, tức chia ra ở sáu nhóm cung Tí Sửu, Dần Hợi, Mão Tuất, Thìn Dậu, Tị Thân, Ngọ Mùi, gọi là "ám hợp", tuy không tốt bằng "minh hợp" của "Lộc trùng điệp", nhưng cũng có tác dụng tốt.

Lộc Tồn và Hóa Lộc giáp mệnh, chủ về cuộc đời gần gũi với tiền tài. Nhất là Thiên Tướng thủ mệnh, chủ về nắm quyền tài chính. Nhưng nếu đối cung là "Vũ Khúc, Phá Quân" Hóa Kị xung chiếu, thì chủ về vì hoa tài hoặc vì bệnh tật mà phá tài.

Phá Quân đồng độ với Lộc Tồn, Địa Không, Địa Kiếp, chủ về tiền của ngày một tiêu ma, hoặc thu nhập không tăng mà còn giảm.

Hễ cung giao hữu gặp Lộc Tồn, thì cung mệnh ắt sẽ có Kình Dương, Đà La hội chiếu, chủ về vất vả.

Cung phu thê gặp Lộc Tồn, có Hóa Lộc đến hội, gọi là cách "Lộc hợp uyên ương", chủ về có chồng giàu có, nam mệnh chủ về được vợ vượng phu, được vợ trợ lực, hoặc được gia đình vợ nâng đỡ mà tạo nên sự nghiệp.

Thiên Mã ưa hội hợp với sao lộc (Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc đều được) mới chủ về có nguồn tiền tài, nếu không, chỉ là thay đổi chỗ ở, hoặc là bôn ba vất vả. Nếu Thiên Mã đồng độ với sao không, sẽ chủ về vất vả mà chẳng được gì. Đồng độ với Địa Không là tệ nhất, Thiên Không là kế đó.

Thiên Mã đồng cung với Hỏa Tinh, Linh Tinh; lưu niên có sát tinh đến cung, nếu ở cung lục thân thì chủ về hình khắc.

Thiên Mã đồng cung với Đà La, chủ về xuất hành gặp trở ngại (Lưu Đà đến cung lưu nhật, chủ về có lầm lẫn chuyến xe hay chuyến bay).

Thiên Mã và Thiên Hình cùng bay đến cung thiên di và cung sự nghiệp, chủ về muốn thay đổi công tác mà không thành; nếu gặp sát tinh, thì bị buộc phải thay đổi công tác.

Thiên Mã bay đến cung vị Tuyệt ở cung mệnh hay cung thiên di, chủ về bôn ba mà không có thu hoạch, cuộc đời khó có cơ hội phát triển ở nơi xa.

Thiên Mã có Đà La hồi chiếu, lại gặp tinh hệ chính diệu không cát tường, sẽ chủ về con đường làm ăn lạc lối. Cung mệnh hoặc cung phu thê của nữ mệnh mà gặp tổ hợp này, dễ chọn chồng lầm; cung mệnh hoặc cung phúc đức của nam mệnh mà gặp tổ hợp này, dễ chọn lầm nghề nghiệp.

Thiên Mã gặp Giải Thần (Nguyệt Giải, Niên Giải) ở cung mệnh hoặc cung phu thê của lưu niên, bị xung khởi, nếu cung phu thê của nguyên cục không cát tường, thì chủ về li hôn hoặc ở hai nơi.

Thiên Mã ưa đồng cung hoặc hội chiếu với Tử Vi, cổ nhân gọi là "loan dư" (xe vua đi), có thể làm tăng khí thế của Tử Vi.

Thiên Mã đồng cung với Thiên Lương, chủ về phiêu lưu bất định.


Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tam Hợp Phái

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Tam Hợp Phái