Bài tổng quan
Thái Dương, Thiên Lương Ở Mão, Dậu; Thất Sát Thìn, Tuất; Thiên Cơ Tị, Hợi
Mỗi tinh hệ có một cặp phẩm chất đối lập làm chìa khóa luận đoán. Thái Dương, Thiên Lương ở Mão, Dậu tương hội Thái Âm, đối cung vô chính diệu, được xét theo tính tường hòa hay cô kị. Thái Dương nhập miếu, Hóa Lộc thì tường hòa, lạc hãm, Hóa Kị thì cô kị; riêng Thiên Lương Hóa Lộc, Hóa Quyền lại cô kị, Hóa Khoa mới tường hòa. Thất Sát độc tọa ở Thìn, Tuất đối Liêm Trinh, Thiên Phủ, được xét theo bản chất lý tưởng hay ảo tưởng. Thiên Cơ độc tọa ở Tị, Hợi đối Thái Âm là cách Cơ Nguyệt Đồng Lương không thuần túy, và tính có kế hoạch thiết thực hơn hẳn mưu trí quyền biến. Nhóm Thiên Đồng, Cự Môn sáng sủa hay u ám sẽ nhuộm màu bản chất Thiên Cơ.
"Thái Dương, Thiên Lương" Ở Hai Cung Mão Hoặc Dậu
"Thái Dương, Thiên Lương" đồng độ ở hai cung Mão hoặc Dậu, ắt sẽ tương hội với Thái Âm, và tương hội với "Thiên Đồng, Cự Môn" mượn sao an cung, đối cung thì vô chính diệu.
Muốn luận đoán bản chất của "Thái Dương, Thiên Lương" ở hai cung độ này, cần phân biệt chúng có tính "tường hòa" hay là "cô kị". Hai tính chất này có sự phân biệt rất lớn, do đó ảnh hưởng đến vận trình cũng lớn.
Thông thường, Thái Dương nhập miếu thì "tường hòa", Thái Dương lạc hãm thì "cô kị"; Thái Dương Hóa Lộc thì "tường hòa", Thái Dương Hóa Kị thì "cô kị"; gặp các sao phụ, tá cát giao hội là Thái Dương "tường hòa"; gặp các sao sát, kị, hình thì Thái Dương "cô kị".
Lấy Thiên Lương để nói. Thiên Lương Hóa Lộc, Hóa Quyền thì "cô kị"; Thiên Lương Hóa Khoa thì "tường hòa"; gặp các sao sát, hình là Thiên Lương "cô kị"; gặp các sao phụ, tá là Thiên Lương "tường hòa".
Trong các sao phụ, tá, "Thái Dương, Thiên Lương" rất ưa Văn Xương, Văn Khúc; ưa nhất là Văn Xương Hóa Khoa. Nếu "Thái Dương, Thiên Lương" ở cung Mão, không gặp các sao sát, kị, là tổ hợp tinh hệ rất "tường hòa".
Một cực đoan khác là Thái Dương Hóa Kị, lạc hãm, lại gặp các sao sát, hình, không, hao, thì tinh hệ "Thái Dương, Thiên Lương" này sẽ thể hiện sắc thái cực kì "cô kị".
Lấy các sao hội hợp để nói, Thái Âm Hóa Lộc, có thể khiến tính chất của "Thái Dương, Thiên Lương" thích "tường hòa". Nếu hóa làm sao kị, tính chất của "Thái Dương, Thiên Lương" cũng thành "cô kị". Thái Âm nhập miếu khiến "Thái Dương, Thiên Lương" thành "tường hòa"; Thái Âm lạc hãm khiến "Thái Dương, Thiên Lương" thành "cô kị".
Tinh hệ "Thiên Đồng, Cự Môn" cũng không nên Hóa Kị. Thiên Đồng Hóa Kị sẽ đặc biệt khiến cho "Thái Dương, Thiên Lương" bất lợi về lục thân, quan hệ xa cách, không thân thiết. Cự Môn Hóa Kị khiến cho "Thái Dương, Thiên Lương" xảy ra sự cố, cuộc đời dễ gặp thị phi, bất hòa, tranh chấp, rối rắm khó xử. Nhưng nếu Thiên Đồng Hóa Lộc hay Hóa Quyền, thì chỉ làm tăng tính độc lập của "Thái Dương, Thiên Lương"; Cự Môn Hóa Lộc đến hội, chỉ cần không gặp Văn Xương Hóa Kị, đồng thời hội hợp với "Thái Dương, Thiên Lương", thì tính tình đặc biệt và thích hành động một mình, tuy vẫn không đủ khí cát tường, nhưng chỉ chủ về gặp cạnh tranh, mà không phải "cô kị".
Nếu "Thiên Đồng, Cự Môn" hội "Thái Dương, Thiên Lương", Địa Không, Địa Kiếp cùng đến giao hội, không gặp cát hóa và Văn Xương, Văn Khúc, khiến "Thái Dương, Thiên Lương" có tính thiên lệch, thiếu viên dung, nhưng tính lôgíc mạnh, còn có tư tưởng độc lập, biểu hiện phong cách đặc biệt.
"Thái Dương, Thiên Lương" có tính chất cô độc và khắc kị; cho nên phái Trung Châu có thuyết "Thái Dương, Thiên Lương" chủ về xa cách lục thân.
Nhưng vẫn có phân biệt "tường hòa" và "cô kị". Lấy việc rời xa quê hương làm ví dụ, "tường hòa" thì có thể là ra nước ngoài để học hỏi, "cô kị" thì có thể bị hoàn cảnh bức bách. Tình huống cát hung của hai trường hợp này khác nhau.
"Thái Dương, Thiên Lương" thuộc "cô kị" mà gặp sao hình, có thể vì tranh chấp mà xảy ra kiện tụng; nhưng "Thái Dương, Thiên Lương" thuộc "tường hòa" mà gặp sao hình, thì chỉ là cạnh tranh về sự nghiệp, hoặc phải nỗ lực trong học thuật, bản thân phải phủ định kiến giải cũ của mình để tiến bộ. Tình huống cát hung của hai trường hợp này cũng khác nhau.
"Thái Dương, Thiên Lương" thuộc "tường hòa" ưa đến các cung hạn Thất Sát độc tọa, Phá Quân độc tọa, Tham Lang độc tọa. Gặp các sao phụ, tá cát, hoặc được cát hóa, thì chủ về tài năng phát vượt lên, có thể đắc chí. Đời người tuy có biến động thay đổi, nhưng lúc biến động thay đổi sẽ xuất hiện những mối quan hệ giao tế tốt đẹp, mà còn biến động thay đổi theo hướng tốt.
"Thái Dương, Thiên Lương" thuộc "cô kị" mà gặp các cung hạn có Thất Sát, Phá Quân, Tham Lang độc tọa, dù gặp các sao phụ, tá cát, hoặc được cát hóa, vẫn chủ về bị buộc phải biến động thay đổi, đồng thời lúc biến động thay đổi, các mối quan hệ giao tế cũng theo đó mà thay đổi.
Có thể cử một ví dụ để thuyết minh cách phân biệt hai trường hợp này. Bởi vì muốn đạt đến một tư cách cao hơn, mưu cầu có được chức vị tốt hơn, cho nên rời bỏ nơi làm việc cũ, ngay cả bạn bè cũ cũng xa cách, đây là sự biến động thay đổi và rời bỏ của trường hợp "tường hòa".
Bởi vì nơi làm việc cũ ngừng hoạt động hay kinh doanh, buộc phải tìm công việc khác, do đó cũng xa cách bạn bè đồng nghiệp cũ, đây là sự biến động thay đổi của tính chất "cô kị".
"Thái Dương, Thiên Lương" thuộc loại "tường hòa" đến cung hạn "Vũ Khúc, Thiên Tướng", dù Vũ Khúc Hóa Kị, bị "hình kị" đến giáp cung, có mang đến sự quấy rối, khốn khó cũng không lớn bằng trường hợp "cô kị". Trường hợp "tường hòa" chỉ là trở ngại, không như ý, còn trường hợp "cô kị" là nạn tai.
"Thái Dương, Thiên Lương" thuộc loại "tường hòa" đến cung hạn "Thiên Đồng, Cự Môn" Hóa Lộc, được xem là vận trình có tính khai sáng. Trường hợp "Thái Dương, Thiên Lương" thuộc loại "cô kị" là vận trình vô tri hỗn loạn, trống rỗng, hao tổn. Nếu Thiên Đồng Hóa Kị, hoặc Cự Môn Hóa Kị, trường hợp "tường hòa" tuy có sóng gió, trắc trở nhưng vẫn có thể làm nên trong vận hạn đó; còn trường hợp "cô kị" thì chỉ oán trời trách người, tâm trạng xuống thấp, trầm luân trong vận hạn đó.
"Thái Dương, Thiên Lương" thuộc loại "tường hòa" đến cung hạn Tử Vi độc tọa, chỉ cần không gặp các sao sát, kị, sẽ là vận trình một mình cán đáng công việc; nhưng nếu thuộc loại "cô kị" thì có thể biến thành không có năng lực, bề ngoài thì có vẻ độc lập, nhưng trên thực tế thì việc gì cũng bị người ta khống chế.
"Thái Dương, Thiên Lương" thuộc loại "tường hòa" đến vận hạn Thiên Cơ độc tọa, được cát hóa Lộc, Quyền, Khoa, lợi nhất là công tác kế hoạch, nghiên cứu, kinh doanh làm ăn, có thể mở rộng thương hiệu của bản thân. Nhưng "Thái Dương, Thiên Lương" thuộc loại "cô kị", dù gặp cát tinh phần nhiều cũng có lối suy nghĩ phù phiếm, không thực tế, giống như người Quảng Đông thường nói "nấu cháo mà không có gạo"; nếu lại gặp sát tinh, thì không giữ nghề cũ, dẫn đến trôi nổi phiêu bạt, không có căn cơ.
Lúc tinh hệ "Liêm Trinh, Thiên Phủ" thiên nặng tính chất tình cảm, dù "Thái Dương, Thiên Lương" thuộc loại "tường hòa" đến vận hạn này cũng vẫn có thể xảy ra tình huống tâm trạng rối rắm, xa cách người thân, hoặc chia tay với đồng nghiệp. Nếu là "Thái Dương, Thiên Lương" thuộc loại "cô kị", thì càng nhiều điều tiếng thị phi, bất hòa, tranh chấp.
Lúc tinh hệ "Liêm Trinh, Thiên Phủ" thiên nặng vật chất, "Thái Dương, Thiên Lương" thuộc loại "tường hòa" đến cung hạn này, thường là đại hạn hoặc lưu niên đạt được lợi ích; nếu "Thái Dương, Thiên Lương" thuộc loại "cô kị" thì khó đạt được lợi ích, còn gặp sự cố không vui, hoặc cần phải trải qua khốn khó mới đạt được lợi ích.
Tóm lại, "Thái Dương, Thiên Lương" thuộc loại "tường hòa" phần nhiều có cảnh ngộ cuộc đời vui vẻ hơn trường hợp "cô kị". Vì vậy, "Thái Dương, Thiên Lương" thuộc loại "cô kị" rất nên làm những công việc hơi có tính chất quen thuộc và đơn lẻ như y dược, bảo hiểm, cơ giới, khoa học kĩ thuật, pháp luật.
Đến đây xin cử một ví dụ thuyết minh tình huống "Thái Dương, Thiên Lương" ở cung tài bạch.
An mệnh ở cung Sửu, vô chính diệu, mượn "Thiên Đồng, Cự Môn" của cung Mùi để an sao; hội hợp Thái Âm lạc hãm của cung Tị và "Thái Dương, Thiên Lương" của cung Dậu, do "Nhật Nguyệt" thất hãm, nên không thành cách "Minh châu xuất hải".
Người sinh năm Bính, Thiên Đồng Hóa Lộc vào cung mệnh, cung sự nghiệp có Lộc Tồn đồng độ. Văn Xương ở cung Tị, Văn Khúc ở cung Dậu. Vì vậy tinh hệ "Thái Dương, Thiên Lương" cấu tạo thành cách "Dương Lương Xương Lộc", đáng tiếc không ở cung mệnh mà ở cung tài bạch.
Cung tài bạch gặp kết cấu "Dương Lương Xương Lộc", khí chất đương nhiên "tường hòa"; nhưng khi cung tài bạch đi thuận đến hạn Thiên Cơ ở cung Hợi, lúc này là đại hạn Tân Mão, Thiên Cơ đối nhau với Thái Âm lạc hãm và Văn Xương Hóa Kị; mà Văn Xương Hóa Kị lại bị Kình Dương và Đà La của nguyên cục giáp cung, đây là tuyến ngầm phục nguy cơ "thất tài" (mất tiền).
Năm Kỉ Mùi, mượn "Thái Dương, Thiên Lương" của cung tài bạch để an sao, đồng thời mượn cả Văn Khúc, mà Văn Khúc Hóa Kị ở năm Kỉ, hơn nữa còn có Lưu Xương của lưu niên đồng độ, làm tăng thêm sức mạnh của Văn Khúc Hóa Kị. Cho nên năm đó vì hợp tác làm ăn với bạn bè mà xảy ra chuyện không vui, kết quả là bị tổn thất. May mà khí chất của "Thái Dương, Thiên Lương" thuộc "tường hòa", vì vậy nghề nghiệp của bản thân không bị dao động.
(Ở đây chỉ thảo luận cung tài bạch, bạn đọc có thể thử tự nghiên cứu tính chất của cung mệnh lúc đến đại hạn hay lưu niên, xem phản ứng của các sao giao nhau như thế nào.)
Thất Sát Độc Tọa Ở Hai Cung Thìn Hoặc Tuất
Thất Sát độc tọa ở hai cung Thìn hoặc Tuất, đối cung sẽ là "Liêm Trinh, Thiên Phủ", hội hợp với Tham Lang độc tọa và Phá Quân độc tọa ở các cung tam hợp.
Muốn luận đoán Thất Sát độc tọa ở hai cung Thìn hoặc Tuất, cần chú ý bản chất của nó là lí tưởng hay ảo tưởng.
Trong thực tế, lí tưởng không nhất định sẽ tốt hơn ảo tưởng. Bởi vì lí tưởng quá cao, không phối hợp được với hiện thực, cũng là khiếm khuyết đáng tiếc của đời người; còn người rơi vào ảo tưởng, tuy những suy nghĩ của họ không thể thực hiện, nhưng trên thực tế họ có thể ở trong cảnh ngộ tốt đẹp, lúc này, họ cũng cho rằng bản thân có lí tưởng nhưng không thực hiện được mà thôi.
Ảnh hưởng tối quan trọng của tinh hệ Thất Sát là "Liêm Trinh, Thiên Phủ". Nếu nhóm sao này thuộc tính chất cao thượng, thanh nhã, lúc này Thất Sát sẽ dễ có khuynh hướng lí tưởng, thành người có mục tiêu để theo đuổi, dù vất vả khổ cực vẫn không từ nan.
Nếu "Liêm Trinh, Thiên Phủ" hội hợp các sao sát kị, dù đồng thời có sao cát, được cát hóa, cũng gây ảnh hưởng đến khí chất của Thất Sát mà thành dung tục, hơn nữa thường là người không tưởng, không thực tế; cảnh ngộ của đời người nhiều biến động thay đổi, mà phần nhiều là không cần thiết, có lúc thậm chí xem những thay đổi không cần thiết đó là lí tưởng theo đuổi của đời người, thực ra đây là để che đậy khuyết điểm của bản thân.
Ngoài trừ "Liêm Trinh, Thiên Phủ", hai sao Phá Quân, Tham Lang cũng ảnh hưởng đến khí chất của Thất Sát. Tham Lang Hóa Kị, khiến Thất Sát dễ rơi vào không tưởng; nếu Phá Quân Hóa Lộc, tuy không tưởng nhưng vẫn có lúc chịu đối diện với hiện thực.
Tham Lang mà Hóa Lộc, Thất Sát ắt sẽ bị Đà La chiếu xạ, hoặc đồng độ với Đà La; nếu cung độ của Thất Sát lại gặp Địa Không, Địa Kiếp, mệnh tạo sẽ dễ rơi vào không tưởng.
Lấy bản thân Thất Sát để nói, căn cứ theo bí truyền của phái Trung Châu Vương Đình Chi, nếu "Liêm Trinh, Thiên Phủ" ở cung Thìn sẽ chủ về nhiều không tưởng; "Liêm Trinh, Thiên Phủ" ở cung Tuất thì nhiều lí tưởng; ảnh hưởng của chúng sẽ biến Thất Sát của cung Thìn thành nhiều lí tưởng, và Thất Sát của cung Tuất thành nhiều không tưởng. Hai tính chất này không có liên quan với tình trạng "miếu, vượng, lợi, hãm" của các sao.
Sau khi biết rõ bản chất của Thất Sát độc tọa ở hai cung Thìn hoặc Tuất, còn phải xem xét tình huống của Tử Vi ở cung phúc đức. Nếu là "bách quan triều củng" mà không gặp các sao sát, kị, hình, thì Thất Sát có thể nhờ đó mà thành lí tưởng. Nếu gặp các sao sát, kị, hình, thì lí tưởng khá tầm thường, đời người phần nhiều phải dốc toàn lực để tranh giành. Nếu Tử Vi là "tại dã cô quân", thì bản chất của Thất Sát là không tưởng, nếu gặp các sao sát, kị, hình ở cung phúc đức, thì giống như thương binh ở chiến trường, mơ làm nguyên soái. Do những điều không tưởng không thể thực hiện, đời người lại nhiều gian khổ, vì vậy thường thường biến thành người phẫn thế ghét đời, hoặc tự xem mình là người cô độc thanh cao. Tình hình không thể thực hiện lí tưởng này giống như sức mạnh của roi vọt thúc người ta tiến tới, khi đến cực hạn sẽ khiến mệnh tạo thành kẻ trốn chạy.
Thất Sát có lí tưởng, ưa đến đại hạn hoặc lưu niên Thất Sát, Phá Quân, Tham Lang độc tọa. Nếu gặp các sao phụ, tá cát, có thể trở thành sức mạnh để thực hiện lí tưởng, dù hơi gặp một hai sát tinh cũng không sao, bởi vì có lúc gặp trở ngại khiến cho người ta phấn đấu mạnh hơn, trở thành sức mạnh để theo đuổi mục tiêu. Đối với trường hợp Thất Sát tọa cung Thìn mà được cát hóa, thì tình hình càng như vậy. Có lúc nhờ sát tinh mang lại trở lực, khiến không tưởng va chạm với hiện thực, mà biến thành lí tưởng.
Thất Sát rơi vào không tưởng không ưa đến đại hạn hoặc lưu niên Thất Sát, Phá Quân, Tham Lang độc tọa. Dù được cát hóa, cũng dễ xảy ra những biến động thay đổi không cần thiết. Nếu lại gặp các sao sát, hình, kị, thì thay đổi triệt để, do bất mãn với hiện thực nên hay oán trách.
"Liêm Trinh, Thiên Phủ" ở cung Thìn bất lợi đối với Thất Sát. "Liêm Trinh, Thiên Phủ" ở cung Tuất thì có lợi hơn.
Nếu "Liêm Trinh, Thiên Phủ" gặp các sao đào hoa, còn kèm thêm sao hình, Thất Sát thuộc loại không tưởng mà đến các cung hạn này, sẽ vì hành động mù quáng mà gây nên sự cố đáng tiếc; Thất Sát thuộc loại lí tưởng thì không sao. Các sao đào hoa này chẳng chuyên chủ về tình cảm nam nữ.
Thiên Phủ có sao lộc sẽ có lợi đối với Thất Sát. Nếu Thiên Phủ là "kho trống" hay "kho lộ", khiến Thất Sát thuộc loại không tưởng càng nhiều không tưởng hơn, dễ lâm vào tình huống rối rắm; còn Thất Sát thuộc loại lí tưởng thì phần nhiều sẽ cảm thấy lí tưởng và hiện thực xung đột nhau, nhưng chỉ cần gặp phụ diệu, đặc biệt là Thiên Khôi, Thiên Việt, rốt cuộc sẽ điều hòa được lí tưởng và hiện thực.
Nhóm các sao "Thiên Đồng, Cự Môn", bất kể cát hay hung, đều bất lợi đối với Thất Sát thuộc loại không tưởng, hoặc phẫn thế (Cự Môn Hóa Kị), hoặc trầm luân (Thiên Đồng Hóa Kị), tình hình tốt nhất cũng có tâm trạng mất quân bình, dẫn đến lạnh nhạt với lục thân, hoặc ít hòa hợp, có tâm lí ngăn cách.
Còn đối với trường hợp Thất Sát có lí tưởng, "Thiên Đồng, Cự Môn" là sáng tạo, thực hiện lí tưởng từ cơ sở không có gì, là sự chuẩn bị đón nhận vận tốt trong tương lai.
Nếu "Thiên Đồng, Cự Môn" có sao đào hoa đồng cung, thì người Thất Sát thủ mệnh dễ đau khổ vì tình, rơi vào không tưởng rất nặng.
Thất Sát thuộc loại không tưởng ưa đến cung hạn "Thái Dương, Thiên Lương", gặp cát tinh là vận tốt để thực hiện lí tưởng. Nếu đến cung hạn "Thái Dương, Thiên Lương" lạc hãm, không có sao cát tụ tập, lí tưởng cũng khó thực hiện được hoàn toàn, cần phải thay đổi để thích nghi với hoàn cảnh.
Thất Sát rơi vào không tưởng, đến cung hạn "Thái Dương, Thiên Lương" lạc hãm, là điểm ứng có sự vọng động. Nếu gặp Thái Dương Hóa Kị, thì tình hình càng thêm nghiêm trọng; đến cung hạn "Thái Dương, Thiên Lương", nếu gặp cát tinh, thì cảnh ngộ cuộc đời khá đẹp, nhưng nhất thiết không được cho đó là cơ hội để thực hiện những không tưởng của mình, nếu không, sẽ tự tìm buồn phiền, biến thành vận thế phá hoại bản thân.
Trong các tình hình thông thường, cung độ của Tử Vi độc tọa nếu có lợi với Thất Sát thuộc loại lí tưởng thì sẽ bất lợi với Thất Sát thuộc loại không tưởng. Thất Sát không bị kềm chế nhưng rơi vào không tưởng, gặp Tử Vi hội hợp với các sao cát, sẽ dễ thành lớn mật làm càn; gặp các sao không cát tường, là người hiểu rõ việc mình làm nhưng thường gặp trở ngại.
Thiên Cơ Hóa Lộc, Quyền, Khoa, thì có lợi đối với Thất Sát. Dù rơi vào không tưởng, cũng có thể thích ứng với hoàn cảnh. Nếu Thiên Cơ Hóa Kị, lại gặp các sao sát, hình, thì bất lợi đối với Thất Sát, dù là có lí tưởng cũng dễ vì sai lầm nhất thời mà gây ra trở ngại cho việc thực hiện lí tưởng.
Tử Vi Đẩu Số xem Thất Sát là mấu chốt của sự thay đổi, do đó lúc luận đoán rất dễ ngộ nhận, cho nó là sao có tính tích cực, mà xem thường mặt tiêu cực của nó.
Hiện chúng ta đang nói về Thất Sát độc tọa ở hai cung Thìn hoặc Tuất, chú ý đến bản chất lí tưởng và không tưởng của nó, tức cần đồng thời chú ý đến mặt tiêu cực của nó. Bởi vì khi lí tưởng có thể thực hiện được, sẽ dễ rơi vào trạng thái tiêu cực; lúc không tưởng mà thành bất mãn, cũng dễ rơi vào trạng thái tiêu cực.
Ở trên chúng ta đã đề cập vấn đề bản chất của Thất Sát độc tọa ở hai cung Thìn hoặc Tuất có quan hệ mật thiết với Tử Vi của cung phúc đức, tức chú ý đến mặt tiêu cực của nó. Nếu tinh hệ Tử Vi thuộc loại tích cực, thì trạng thái rơi vào tiêu cực chỉ là nhất thời; còn nếu tinh hệ Tử Vi là tiêu cực, thì cần phải chú ý, tiêu cực có thể thành bản chất của Thất Sát tọa mệnh.
Thất Sát thuộc loại tiêu cực không nên đến đại hạn hoặc lưu niên có quá nhiều sao cát hội hợp. Bởi vì, không những không thay đổi thành tích cực, trái lại còn vì tình huống thuận hay nghịch của vận trình mà hiểu lầm tiêu cực chính là bản chất. Cũng không nên đến vận hạn có quá nhiều sao hung hội hợp, bởi vì sự trắc trở, gập ghềnh của đời người có thể làm tăng tính tiêu cực của nó. Sự "trung hòa" đối với mẫu người này rất là quan trọng.
Sau đây chúng tôi xin cử một ví dụ ở cung giao hữu. (Chú ý, ngoại trừ cung mệnh, khi ở các cung khác, bản chất của Thất Sát độc tọa ở hai cung Thìn hoặc Tuất không có liên quan với Tử Vi. Bởi vì Tử Vi lúc này không còn ở cung phúc đức.)
Thái Âm tọa mệnh ở cung Hợi, cung giao hữu là Thất Sát độc tọa ở cung Thìn. Người sinh năm Quý, Thất Sát hội Phá Quân Hóa Lộc, Tham Lang Hóa Kị, và Lộc Tồn đồng độ với Tham Lang. Bản chất của nhóm sao này thiên nặng hiện thực, nhưng vẫn có chút không tưởng. Cho nên thái độ của mệnh tạo đối với bạn bè hoặc người dưới quyền khá xem trọng lợi ích thực tế, nhiều lúc có ý đồ lợi dụng quá đáng.
Lúc vào đại vận Canh Thân, cung giao hữu là "Thiên Đồng, Cự Môn", bị Kình Dương và Đà La của đại vận chiếu xạ, hơn nữa còn có Kình Dương của nguyên cục đồng độ, mà Thiên Đồng còn Hóa Kị, làm điểm về tình cảm. Cho nên trong vận hạn này, người dưới quyền đắc lực của mệnh tạo bỏ đi, dẫn đến tình trạng thiếu trợ lực.
Nếu cung giao hữu của nguyên cục có bản chất lí tưởng đến vận hạn giống như vậy, sẽ biến thành người dưới quyền đồng cam cộng khổ với mệnh tạo, chung nhau theo đuổi mục tiêu lí tưởng. Nếu gặp các sao kị, sát, lại biến thành điểm người dưới quyền gian khổ phấn đấu. Các tình huống bất hòa, tranh chấp và rối rắm khó xử cũng chỉ là những cuộc tranh luận trong sự nghiệp.
Thiên Cơ Độc Tọa Ở Hai Cung Tị Hoặc Hợi
Thiên Cơ độc tọa ở hai cung Tị Hợi ắt sẽ đối nhau với Thái Âm, cung tam hợp là "Thiên Đồng, Cự Môn", và "Thái Dương, Thiên Lương" mượn sao an cung.
Muốn luận đoán tính chất của Thiên Cơ trong cung này, cần chú ý tính chất "mưu trí và quyền biến" của nó, hơn nữa, tính chất "có kế hoạch" còn thiết thực hơn tính chất "mưu trí và quyền biến" nhiều.
Lấy bản thân Thiên Cơ để nói, khi độc tọa ở hai cung Tị hoặc Hợi, là cách "Cơ Nguyệt Đồng Lương" không thuần túy, thuộc cung nhược (yếu). Trong số các sao ảnh hưởng nó, "Thiên Đồng, Cự Môn" là khá quan trọng, bởi vì nhóm sao này còn đồng thời được mượn để nhập cung phúc đức, đương nhiên có ảnh hưởng đối với cung mệnh.
Nếu nhóm sao "Thiên Đồng, Cự Môn" mang sắc thái tình cảm, và "sáng sủa", thì cũng ảnh hưởng đến bản chất của Thiên Cơ thành "sáng sủa". Trái lại, nếu "u ám" thì gây ảnh hưởng đến bản chất của Thiên Cơ thành "u ám". Quyết định Thiên Cơ tọa mệnh thuộc loại linh hoạt quyền biến, hay thuộc loại tính toán cơ mưu, là dựa vào tính chất của nhóm sao này mà định. Bạn đọc có thể tham khảo thêm ở mục "Thiên Đồng, Cự Môn".
"Thái Dương, Thiên Lương" gây ảnh hưởng đối với Thiên Cơ, nếu "tường hòa" thì sẽ không thành "giả dối". Cho nên dù Thiên Cơ bị ảnh hưởng của "Thiên Đồng, Cự Môn" mà mang sắc thái "u ám", cơ mưu tính toán, thì những cơ mưu tính toán này cũng sẽ mang tính học thuật, thiết kế, kế hoạch, thuộc chính đạo. Nhưng giả dụ như tính chất của tinh hệ "Thái Dương, Thiên Lương" thuộc loại "cô kị", thì tính toán cơ mưu sẽ biến thành giả dối hoặc thủ đoạn.
Cho nên phán đoán tính chất của Thiên Cơ ở cung này, trước tiên phải xem "Thiên Đồng, Cự Môn", rồi mới xem đến "Thái Dương, Thiên Lương" để phối hợp luận đoán cho đúng.
Thái Âm của đối cung rất ngại Hóa Kị, nếu lạc hãm vào lúc Hóa Kị cũng sẽ khiến cho Thiên Cơ biến thành có tính chất cơ mưu giả dối.
Giả dụ như Thái Âm nhập miếu, lại đồng độ với sao cát tường, thì có thể gây ảnh hưởng tốt đến Thiên Cơ, ít nhất cũng sẽ không thiên nặng về mưu mô giả dối.
Thiên Cơ giỏi quyền biến, đến vận trình Thất Sát, Phá Quân, Tham Lang, có cát tường hay không, cần phải xem các sao sát kị nhiều hay ít mà định. Nếu chỉ gặp một hai sao thì không sao, nếu có các sao sát, kị, hình, hao tụ tập, thì chủ về vì mưu trí và ý đồ muốn thay đổi mà sinh thất bại, không bằng đừng thay đổi, trái lại sẽ yên ổn. Gặp cát tinh, thì gặp cảnh ngộ buộc phải thay đổi.
Thiên Cơ giỏi cơ mưu đến vận trình của Thất Sát, Phá Quân, Tham Lang, có các sao cát tụ tập đủ, cũng không nên dùng thủ đoạn, mưu kế, mà chỉ nên dùng chính đạo, thì có thể cát tường. Nếu Thái Dương Hóa Lộc, hoặc Thiên Lương Hóa Lộc đến hội, lại gặp Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Khôi, Thiên Việt, thì sẽ có thành tựu trong lĩnh vực thiết kế hoặc kế hoạch. Nếu sao cát ít mà sao hung nhiều, sao hung tụ tập, thì phải đề phòng vì kế hoạch sai lầm mà sinh thị phi. Nếu gặp thêm sao hình, thì có thể dẫn đến phạm pháp, điều tiếng thị phi. Nếu dùng mưu kế thủ đoạn trong lúc gặp tai ương, sẽ chuốc oán, làm ảnh hưởng đến hậu vận.
Đến vận trình của "Thái Dương, Thiên Lương", lấy trường hợp ở cung Mão là nên, dù tính chất của Thiên Cơ ở nguyên cục không tốt, cũng có thể hóa "u ám" thành "sáng sủa". Đến cung Dậu (hoặc cung Mão mượn "Thái Dương, Thiên Lương" của cung Dậu để an sao), thì bất lợi về dùng thủ đoạn âm mưu, đối với kế hoạch sẽ có cảm giác vượt quá tầm kiểm soát.
Đối với Thiên Cơ có bản chất mưu trí và quyền biến, đến cung hạn "Thái Dương, Thiên Lương" ở cung Mão có thể xem là gặp cơ hội tốt; đến cung hạn "Thái Dương, Thiên Lương" ở cung Dậu thì có cảm giác lực bất tòng tâm. Nếu gặp các sao sát, kị, thì khó có cơ hội tốt, còn dễ bị người tranh đoạt.
"Vũ Khúc, Thiên Tướng" không nên Hóa Kị, cũng không nên bị các sao hình kị giáp cung, gặp phải hai tình huống này, bất kể bản chất của Thiên Cơ là thế nào cũng đều bất lợi. Nhưng đối với người giỏi cơ mưu thủ đoạn thì dễ xảy ra tai ương, hoặc tai họa lao ngục; còn đối với người giỏi thiết kế hoặc kế hoạch thì nên đặt ra mục tiêu thấp một chút, đừng mở rộng kế hoạch một cách mù quáng, nếu không sẽ gây nên tổn thất.
Nếu Vũ Khúc Hóa Lộc, hoặc "Tài ấm giáp ấn", người giỏi vạch kế hoạch phải trù tính kế hoạch lâu dài, hoặc chú ý thay đổi nghề nghiệp để thích ứng với hoàn cảnh, người sở trường thiết kế có thể nhờ đó mà kiếm được tiền, người sở trường mưu trí và quyền biến mà gặp vận hạn này ắt sẽ gặp cơ hội tốt, dù gặp sát tinh, cũng chỉ bị trở ngại nhất thời.
Nhóm sao "Thiên Đồng, Cự Môn" này cần phải gặp Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên Khôi, Thiên Việt mới được cát lợi. Nếu không, dù gặp Lộc, Quyền, Khoa, cũng sẽ có nỗi lo vất vả mà không được gì, nhất là về phương diện kế hoạch hay thiết kế sẽ chẳng có cơ hội để thi thố. Nếu sở trường mưu trí và quyền biến, cần phải phối hợp nhiều phương diện mới có thể thành công. Đây là lí do cần phải gặp phụ diệu.
Nếu không gặp phụ diệu, lại không được cát hóa, thậm chí còn Hóa Kị, thì bị quấy rối, gặp nhiều điều tiếng thị phi; bất kể tính chất của Thiên Cơ như thế nào cũng đều không cát lợi.
Đối với nhóm tinh hệ "Liêm Trinh, Thiên Phủ" này, người giỏi quyền biến thì không nên gặp Thiên Phủ quá vững vàng (như có Lộc Tồn đồng độ, bách quan triều củng), bởi vì khí cơ không hợp nhau, có thể biến thành phản ứng sai lầm, tiến thoái không hợp thời cơ, muốn thay đổi mà không thay đổi, không thay đổi thì lại muốn thay đổi; người giỏi cơ mưu thì thích hợp hơn.
Nếu trong nhóm tinh hệ "Liêm Trinh, Thiên Phủ" này, tính chất của Liêm Trinh tăng mạnh (như Liêm Trinh Hóa Lộc, lại gặp Thiên Tài, Long Trì, Phượng Các), thì rất nên làm việc trong lãnh vực kế hoạch hoặc thiết kế, chỉ bất lợi về mưu mô giả dối hay thủ đoạn; người giỏi quyền biến thì thích hợp hơn.
Trong các tình hình thông thường, Tử Vi độc tọa sẽ bất lợi đối với Thiên Cơ, bất kể bản chất của Thiên Cơ như thế nào đều sẽ cảm thấy có những khiếm khuyết đáng tiếc. Người giỏi quyền biến, bất kể biến hóa như thế nào cũng sẽ cảm thấy không được như lí tưởng, không cách nào kiểm soát được toàn cục. Người giỏi kế hoạch thì cảm thấy kế hoạch lâu dài không đạt được hiệu quả như dự liệu. Nếu dùng thủ đoạn trong vận hạn này sẽ gặp nhiều trở ngại.
Nếu cung độ hội hợp với Tử Vi có các sao cát tường, tuy có những khiếm khuyết đáng tiếc, nhưng vấn đề khá nhỏ; nếu là cách cục "tại dã cô quân", lại gặp các sao sát, hình, kị, thì chỉ nên tùy thời cơ mà ứng biến, không được gắng gượng cầu toàn, nếu không, càng nghĩ đến việc thay đổi thì trở ngại càng lớn.
Đến đây xin cử một ví dụ Thiên Cơ ở cung tật ách.
"Liêm Trinh, Thiên Phủ" tọa mệnh ở cung Thìn, cung tật ách là Thiên Cơ tọa cung Hợi. Người sinh năm Giáp, Thiên Cơ hội "Thái Dương, Thiên Lương" của cung Dậu mượn sao an cung, mà Thái Dương Hóa Kị, hơn nữa cung Mão có Kình Dương.
Sức mạnh của Thái Dương đã không đủ còn gặp các sao sát, kị, do đó ảnh hưởng đến tính chất của Thiên Cơ, bản chất vốn cơ mưu thủ đoạn biến thành nhiều lo toan nghĩ ngợi, dẫn đến ảnh hưởng cả hệ thống. Thêm vào đó, "Thái Dương, Thiên Lương" gặp các sao sát, kị chủ về trúng độc. Nên lúc đến đại hạn Canh Ngọ, "Thiên Đồng, Cự Môn" của cung tật ách có Đà La đồng độ, xung khởi Đà La của nguyên cục, hơn nữa, Thiên Đồng còn Hóa Kị, chủ về nhiễm bệnh nặng trong vận hạn này.
Ví dụ này cũng vì có Thiên Cơ ở cung tật ách của nguyên cục hội "Thái Dương, Thiên Lương" mà Hóa Kị. Nếu nguyên cục không phải là cách cục này, thì đến hạn như vậy, Thiên Đồng ở "tam phương tứ chính" Hóa Kị, cũng không chủ về trúng độc, chỉ chủ về thần kinh suy nhược.
Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tam Hợp Phái
