Bài tổng quan
Hình Tính Phú: Diện Mạo Và Tính Cách Chư Tinh, Chú Giải Vương Đình Chi
Hình Tính Phú là bài phú cổ mô tả khuôn mặt, thân hình và tính nết do từng sao đem lại, được Vương Đình Chi chú giải từng câu. Tử Vi vốn ngồi ghế vua nên khuôn mặt đầy đặn vững vàng, Thiên Cơ không cao không thấp, Liêm Trinh mày rộng miệng rộng, Tham Lang thiện ác vô định. Thất Sát uy nghiêm được ví với Tử Lộ, còn giọng nói ấm ức của Hỏa Tinh, Linh Tinh được so với Dự Nhượng nuốt than. Văn Xương, Văn Khúc thanh tú lỗi lạc, Tả Phụ, Hữu Bật ôn hòa, Kình Dương, Đà La giả trá, Phá Quân bất nhân và dáng đi xiêu vẹo. Lộc Tồn cô độc mà vui vẻ, và nhiều tổ hợp sao cũng để dấu vết riêng: Đà La gặp Cự Môn thì trên người có nốt ruồi lạ.
Hình Tính Phú: từ Tử Vi đến Thiên Tướng, Thiên Lương
Dưới đây là trích những câu trong Hình Tính Phú có liên quan đến hình dáng, diện mạo, và tính cách của 14 chính tinh, kèm phần chú giải của Vương Đình Chi. Những câu không có liên quan đến các nội dung này đều được lược bỏ.
Tử Vi
Nguyên phù Tử Vi đế toạ, sinh vi hậu trọng chi dung.
Dịch nghĩa: Tử Vi vốn ngồi ở ghế vua, sinh ra đã có khuôn mặt đầy đặn vững vàng.
Chú giải: Tử Vi chủ về thân hình, eo lưng mập đầy, mặt tròn dài, dù mập cũng không béo phệ, dù gầy cũng không lộ xương, cho nên nói là "khuôn mặt đầy đặn vững vàng".
Thiên Phủ
Thiên Phủ tôn tinh dã, tác thuần hoà chi thể.
Dịch nghĩa: Thiên Phủ là sao tôn quý, có dáng vẻ thuần hòa.
Chú giải: Thiên Phủ chủ về người có khuôn mặt vuông hay vuông dài, nhãn thần có khí thanh cao, hơn nữa phần nhiều đều răng trắng môi đỏ, cho nên nói là "có dáng vẻ thuần hòa".
Thái Dương, Thái Âm
Kim điểu viên mãn, ngọc thố thanh kì.
Dịch nghĩa: Chim vàng tròn đầy, thỏ ngọc đẹp lạ kì.
Chú giải: "Kim điểu" là chỉ Thái Dương, chủ về người có khuôn mặt hơi tròn; "ngọc thố" là chỉ Thái Âm, tuy cũng là mặt tròn hoặc mặt tròn mà hơi dài, nhưng màu da không đỏ nhuận bằng Thái Dương.
Thiên Cơ
Thiên Cơ vi bất trường bất đoản chi tư, tình hoài hiếu thiện.
Dịch nghĩa: Thiên Cơ có hình dáng không dài không ngắn, tính tình khéo léo.
Chú giải: Thiên Cơ nhiều chủ về thân hình trung bình, dễ mềm lòng, nhưng tính tình nóng vội, khuôn mặt phần nhiều gầy và dài; nhập miếu thì mặt dài mà hơi tròn.
Vũ Khúc
Vũ Khúc nãi chí cương chí nghị chi thao, tâm tính quả quyết.
Dịch nghĩa: Vũ Khúc tính rất cương nghị, quả quyết.
Chú giải: Vũ Khúc chủ về người có tính tình cương nghị, xử sự quyết đoán, nhưng có lúc nhãn thần không được thâm viễn.
Thiên Đồng
Thiên Đồng phì mãn, mục tú thanh kì.
Dịch nghĩa: Thiên Đồng mặt mập, mắt đẹp lạ kì.
Chú giải: Thiên Đồng chủ về người có khuôn mặt vuông dài mà hơi tròn, thông thường đều khá nở nang, đầy đặn. Tuy nở nang, đầy đặn mà vẫn mi thanh mục tú, đây là đặc trưng của nó.
Liêm Trinh
Liêm Trinh mi khoan khẩu khoát nhi diện hoành, vi nhân tính bạo, hiếu phẫn hiếu tranh.
Dịch nghĩa: Liêm Trinh mày rộng, miệng rộng và khuôn mặt bành rộng, là người tính bạo, dễ nổi giận, thích tranh giành.
Chú giải: Liêm Trinh chủ về người có hình dáng thô cứng, mày rộng, miệng rộng, gò má lộ, vai lộ xương, khuôn mặt tròn bạnh mà có góc cạnh. Thông thường tính cách đều hơi thay đổi bất thường, gặp sao văn thì mới nhu mì hiền hòa.
Tham Lang
Tham Lang vi thiện ác chi tinh, nhập miếu tất ứng trường tủng, xuất viên tất định ngoan hiêu.
Dịch nghĩa: Tham Lang là sao thiện ác, nhập miếu tất cao to, ra khỏi khuôn viên nhất định làm càn.
Chú giải: Tham Lang là người có tính tình bất thường, yêu ghét vô định, có khi hay dùng kế đắc nhân tâm, có khi thì tính tình nóng vội mà xử sự khéo léo, khéo ăn khéo ở, có thể ban ơn huệ cho người khác, cho nên gọi là "sao thiện ác". Khi Tham Lang ở cung hãm, hình dáng nhỏ mà giọng cao, lộ nhiều xương; nếu nhập miếu, thì cao to, hình dáng nở nang, đầy đặn.
Cự Môn
Cự Môn nãi thị phi chi diệu, tại miếu đôn hậu ôn lương.
Dịch nghĩa: Cự Môn là sao thị phi, ở cung miếu vượng thì đôn hậu hiền lành.
Chú giải: Cự Môn nhập miếu, hình dáng mập mạp, thân người hơi cao; nếu ở cung lạc hãm, sẽ chủ về người gầy nhỏ. Người có Cự Môn thủ mệnh, lạc hãm, chủ về hay gây chuyện thị phi sau lưng, mà còn có tính đa nghi. Nhưng bất kể là nhập miếu hay lạc hãm, phần nhiều đều có khuôn mặt vuông dài.
Thiên Tướng, Thiên Lương
Thiên Tướng tinh thần, Thiên Lương ổn trọng.
Dịch nghĩa: Thiên Tướng thần tinh, Thiên Lương vững vàng.
Chú giải: Thiên Tướng chủ về người có tính tình vững vàng ôn hòa, nhãn thần ngay thẳng mà hiền hòa thanh cao. Thiên Lương chủ về hình dáng tuy không phải tròn trịa đầy đặn, nhưng hành động cử chỉ lại có khí độ vững vàng, rộng rãi.
Hình Tính Phú: Thất Sát, Phá Quân và các phụ tinh
Thất Sát, các phụ tinh, sát tinh và một số tổ hợp sao đặc biệt cũng được Hình Tính Phú tả rõ về hình dáng, tính cách.
Thất Sát
Thất Sát như Tử Lộ bạo hổ bằng hà.
Dịch nghĩa: Thất Sát như Tử Lộ "tay không mà đánh hổ, không thuyền mà qua sông".
Chú giải: "Tay không mà đánh hổ, không thuyền mà qua sông" là không giận mà uy, chủ yếu là nói nhãn thần và cử chỉ của người có Thất Sát thủ mệnh. Tử Lộ là học trò của Khổng Tử, tinh thần và phong thái của ông rất uy nghiêm.
Hỏa Tinh, Linh Tinh
Hoả Linh tự Dự Nhượng thôn thán vi á.
Dịch nghĩa: Hỏa Tinh, Linh Tinh thì giống như Dự Nhượng nuốt than thành câm.
Chú giải: Dự Nhượng âm mưu hành thích Ngô Vương Liêu, bèn hóa trang thay đổi diện mạo, nhưng vẫn sợ người ta nhận ra giọng nói của mình, nên đã nuốt than nóng khiến tiếng nói thành ấm ứ. Nếu cung mệnh hay cung thân mà gặp hai sao Hỏa Tinh, Linh Tinh thì giọng nói ấm ứ khó nghe, và có nhiều lông tóc, thậm chí lông tóc xoăn.
Bạo hổ bằng hà hề mục đại hung ngận; thôn thán vi á hề ám ngận thanh trầm.
Dịch nghĩa: Người can đảm tay không mà đánh hổ, không thuyền mà qua sông, thì mắt to và có ánh mắt hung dữ; "nuốt than thành câm" là người hung dữ ngầm, giọng nói trầm.
Chú giải: Tử Lộ và Dự Nhượng đều không được thiện chung, cho nên cổ nhân nói như vậy. Nhưng cần chú ý, luận đoán này thực ra rất khái quát, chỉ là khuynh hướng cơ bản, không thể lấy làm định luận.
Văn Xương, Văn Khúc
Tuấn nhã Văn Xương, lỗi lạc Văn Khúc.
Dịch nghĩa: Văn Xương thì thanh nhã tuấn tú, Văn Khúc thì quang minh lỗi lạc.
Chú giải: Văn Xương, Văn Khúc đều chủ về người có mắt mày thanh tú như tranh, nhưng Văn Xương thì nhàn nhã thông minh, Văn Khúc thì lỗi lạc rộng rãi. Nếu hai sao Văn Xương, Văn Khúc hội hợp cung mệnh, chủ về người có khuôn mặt hơi tròn, dù "chính diệu" chủ về gầy ốm vẫn có thể là người có hàm dưới tròn nhọn.
Tại miếu định sinh dị chí, thất hãm tất hữu ban ngân.
Dịch nghĩa: Ở cung miếu nhất định có nốt ruồi lạ, ở cung thất hãm ắt có theo.
Chú giải: Văn Xương, Văn Khúc chủ về "loang lổ lấm tấm", như bớt, rỗ, nốt ruồi, theo, tàn nhang. Về đại thể, nhập miếu tuy có "loang lổ lấm tấm" nhưng không ảnh hưởng đến dung mạo, nếu lạc hãm thì có tổn hại đến dung mạo, nhưng phải gặp các sao sát, kị mới đúng.
Tả Phụ, Hữu Bật
Tả Phụ Hữu Bật, kiến ôn lương quy mô.
Dịch nghĩa: Tả Phụ, Hữu Bật, thấy phong thái ôn hòa hiền lành.
Chú giải: Tả Phụ, Hữu Bật hội hợp cung mệnh, có thể khiến thân hình của người ta thành thanh tú. Tả Phụ thì đôn hậu hơn Hữu Bật.
Kình Dương, Đà La
Kình Dương Đà La, hữu kiểu trá thể thái.
Dịch nghĩa: Kình Dương, Đà La, có thần thái giả trá.
Chú giải: Người có Đà La ở cung mệnh, chủ về người có răng khấp khểnh, không bằng phẳng. Người có Kình Dương ở cung mệnh, phần nhiều chủ về bị tổn thương, tàn tật, ngũ quan đều thiếu đoan chính. Đà La tuy hình dáng hơi thô mạnh, nhưng cũng có thần thái giả trá.
Thiên Khôi, Thiên Việt
Nhược phùng Khôi Việt, tất cụ túc uy nghi.
Dịch nghĩa: Nếu gặp Thiên Khôi, Thiên Việt, tất có đủ oai nghi.
Chú giải: Thiên Khôi mặt tròn, Thiên Việt mặt vuông, đều có oai nghi.
Tam Thai
Mệnh hội Tam Thai, tắc thập toàn mô phạm.
Dịch nghĩa: Mệnh gặp Tam Thai, thì mẫu mực thập toàn.
Chú giải: Liên quan đến "Tam Thai" có nhiều thuyết khác nhau, đáng tin hơn cả là, cung mệnh phải có "Tả Phụ, Hữu Bật gặp Tử Vi", hoặc "Tả Phụ, Hữu Bật giáp cung Thiên Phủ", thảy đều chủ về người có tướng mạo hình dáng oai nghi.
Phá Quân
Phá Quân bất nhân, bối hậu mi khoan, hành toạ yêu tà.
Dịch nghĩa: Phá Quân là người bất nhân, lưng dầy mày rộng, đi ngồi eo đều xiêu vẹo.
Chú giải: Phá Quân chủ về người có hình dáng eo tròn, lưng dầy, mày rộng, nhưng khi đi đứng thì eo vẹo, không thẳng, khuôn mặt tròn dài, màu da hơi trắng xanh, bẩm tính bất nhân, ưa giúp người ác mà không giúp người thiện, nhưng phải gặp các sao sát, hình, kị mới đúng.
Hình Tính Phú: Lộc Tồn và các tổ hợp sao
Những câu cuối của Hình Tính Phú chủ yếu nói về Lộc Tồn và các tổ hợp khi chính tinh, phụ tinh cùng xuất hiện trên một cung.
Lộc Tồn
Tính thái như xuân, nãi Lộc Tồn chi thịnh đức.
Dịch nghĩa: Thái độ như mùa xuân là thịnh đức của Lộc Tồn.
Chú giải: Lộc Tồn chủ về người có mặt tròn dài, phần nhiều gầy ốm, dáng cô độc; nhưng đối với người khác thì miệng mồm luôn vui vẻ.
Các tổ hợp sao đặc biệt
Tình hoài tự hoả, thành phá hao chi uy quyền.
Dịch nghĩa: Tính tình nóng như lửa, thành kẻ uy quyền chuyên phá tán.
Chú giải: "Phá hao" là chỉ Phá Quân, người có Phá Quân thủ mệnh, cũng chủ về người có tính tình cứng rắn, gian trá, thích mạo hiểm.
Lộc phùng Lương ấm, bão tư tài ích vu tha nhân.
Dịch nghĩa: Lộc gặp Lương che chở, ôm tiền riêng giúp ích cho người khác.
Chú giải: Thiên Lương đồng độ với Lộc Tồn, hoặc Thiên Lương Hóa Lộc, cổ nhân cho rằng hay làm chuyện ngược đời, hao tốn tiền bạc.
Hao ngộ Tham Lang, trình dâm tình vu tỉnh để.
Dịch nghĩa: Hao gặp Tham Lang, thì dâm tình sâu tới đáy giếng.
Chú giải: "Hao" là chỉ Phá Quân. Nếu Phá Quân hội hợp với Tham Lang, cổ nhân cho rằng chủ về dâm bôn.
Văn Khúc ám hợp Liêm Trinh, vi tham vọng chi tào lại.
Dịch nghĩa: Văn Khúc mà ám hợp với Liêm Trinh, là tham vọng của viên thư lại.
Chú giải: Liêm Trinh và Văn Khúc đồng cung, cổ nhân cho là viên thư lại ở công môn.
Thân mệnh ti số, thực gian đạo chi kĩ nhi.
Dịch nghĩa: Hai cung thân và mệnh quản số mệnh, đúng là kĩ nữ gian tà.
Chú giải: Không rõ nghĩa, nghi phú văn mất chữ.
Tử Vi phì mãn, Thiên Phủ tinh thần, Lộc Tồn lộc chủ, dã ứng hậu trọng.
Dịch nghĩa: Tử Vi mập mạp, đầy đặn, Thiên Phủ thần tinh, Lộc Tồn chủ về lộc, cũng ứng vững vàng.
Chú giải: Xin xem lại chú giải ở các đoạn trước.
Nhược ngộ Đà La Cự ám, tất sinh dị chí.
Dịch nghĩa: Nếu gặp Đà La, Cự Môn, ắt có nốt ruồi lạ.
Chú giải: "Cự ám" tức là Cự Môn. Cự Môn và Đà La đồng cung, chủ về trên người có nốt ruồi lạ. Gọi là "nốt ruồi lạ", tức là nốt ruồi có lông, hoặc nốt ruồi nhô cao lên rõ rệt.
Nhật, Nguyệt, Xương, Khúc, Tướng, Cơ
Nhật Nguyệt Khúc Tướng dữ Thiên Cơ, giai vi mĩ tuấn chi tư, nãi thị thanh kì chi cách, thượng trường hạ đoản, mục tú mi thanh.
Dịch nghĩa: Thái Dương, Thái Âm, Vũ Khúc, Thiên Tướng và Thiên Cơ, đều là người xinh đẹp, tuấn tú, là cách thanh cao đặc biệt, trên dài dưới ngắn, mục tú mi thanh.
Chú giải: Cổ nhân xem trọng hình dáng vững vàng, vì vậy cho rằng "trên dài dưới ngắn" là cách cục tốt, khác với quan điểm thẩm mĩ của người hiện đại. Ngày nay người đẹp là phải "trên ngắn dưới dài", quan điểm xưa và nay đúng là có khác nhau.
Vũ Khúc, Tham Lang
Vũ Khúc Tham Lang, hình tiểu thanh cao nhi lượng đại.
Dịch nghĩa: Mệnh Vũ Khúc, Tham Lang, thân hình nhỏ, giọng nói cao mà lớn.
Chú giải: Ở đây là nói ba tình huống: Vũ Khúc đóng ở cung mệnh, Tham Lang đóng ở cung mệnh, và "Vũ Khúc, Tham Lang" đồng độ.
Thiên Đồng, Đà La, Hóa Kị
Thiên Đồng Đà Kị, phì mãn mục miểu nhi hối manh, hình xú mạo thô.
Dịch nghĩa: Thiên Đồng gặp Đà La, Hóa Kị, thì mặt mập, mắt chột hay mắt quáng gà, dáng thô, mặt xấu.
Chú giải: Thiên Đồng và Đà La đồng cung, mắt chột, người mập; nếu còn gặp thêm các sao sát, kị, thì dáng thô, mặt xấu; nếu lại gặp sao hao, sát, Kình Dương thì thân thể bị thương.
"Phá Quân, Kình Dương" đồng cung, chủ về thân thể bị thương, bao gồm cả bị phẫu thuật.
Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tam Hợp Phái
