Bài tổng quan
Tử Vi Tinh Quyết Và Tinh Hệ Tử Vi Độc Tọa Ở Tí, Ngọ
Mỗi tinh hệ trong sáu mươi tinh hệ có phản ứng đặc thù khi vào mười hai cung, ngoài những tình huống tam phương tứ chính thông thường. Thuyết minh đủ mọi phản ứng thì phải giảng tới 8.640 trường hợp, nên chỉ lấy cung mệnh làm điển hình rồi suy rộng. Nghiên cứu Đẩu Số cần lưu ý tư liệu tín hiệu và nguyên tắc phản ứng; Vương Đình Chi giảng sáu mươi tinh hệ là tiết lộ nguyên tắc phản ứng trong Tử Vi tinh quyết, tinh túy phái Trung Châu. Cuộc bàn luận giữa Trương Khai Quyền, Lục Bân Triệu và Huệ lão về Thái Âm nhập cung phúc đức cho thấy phải nhìn cả tinh hệ, không giải từng sao. Tử Vi độc tọa ở Tí, Ngọ được xét qua sự quân bình giữa tinh thần và vật chất.
Mục lục · 2 phần
Tử Vi Tinh Quyết
Giới thiệu sáu mươi tinh hệ chủ yếu là nói về phản ứng đặc thù của tinh hệ khi đến 12 cung. Xin lưu ý, ở đây chỉ giới thiệu phản ứng đặc thù, do đó không thuyết minh về những tình huống ở "tam phương tứ chính" thông thường.
Nói tình huống thông thường, tức là nói hội hợp Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Khôi, Thiên Việt, Tả Phụ, Hữu Bật, Lộc Tồn, Thiên Mã là tốt; hội hợp Hỏa Tinh, Linh Tinh, Kình Dương, Đà La, Địa Không, Địa Kiếp là xấu. Những điều như vậy chúng ta đã tìm hiểu ở phần 1, bạn đọc có thể tham khảo thêm ở bộ Nghiên cứu Tinh Mệnh học của cùng tác giả Nguyễn Anh Vũ.
Trong lúc thuật về những phản ứng đặc thù có liên quan, chúng tôi chỉ có thể giới thiệu ở mức độ có tính nguyên tắc, chứ không thể thuyết minh toàn bộ những phản ứng khác nhau của 60 tinh hệ ở 12 cung. Vì nếu làm như vậy thì phải giảng giải đến 8.640 trường hợp, thêm vào các sao phụ, tá, sát, hóa và lưu diệu hội hợp, có thể nói là không kham nổi.
Do đó, ở đây chỉ có thể giới thiệu một cách giới hạn, lấy cung mệnh làm điển hình. Chỉ có thể dựa vào mỗi tinh hệ để làm ví dụ mà tìm hiểu tính chất của cung mệnh thế nào, rồi từ đó suy rộng ra các cung khác. Việc suy rộng này, chúng tôi sẽ thuyết minh tỉ mỉ trong chương "Cung viên luận".
Thực ra, có hai phương diện mà người nghiên cứu Tử Vi Đẩu Số phải lưu ý; một là "tư liệu tín hiệu", người đã nghiên cứu sâu rất xem trọng phương diện này, mà còn xem đây là bí mật không truyền cho người khác; hai là "nguyên tắc phản ứng", Vương Đình Chi giảng giải về "Sáu mươi tinh hệ", là đã tiết lộ nguyên tắc phản ứng của các tinh hệ trong Tử Vi tinh quyết, đây cũng là tinh túy của phái Trung Châu Vương Đình Chi.
Nếu không biết "Sáu mươi tinh hệ" có nguyên tắc phản ứng đặc thù, bạn đọc có thể lạm dụng "tư liệu tín hiệu". Sau khi biết những nguyên tắc này, thường thường sẽ bổ cứu được những chỗ không đủ của "tư liệu tín hiệu". Thông qua các ví dụ thực tế, hi vọng bạn đọc chú tâm lãnh hội, lâu dần, có thể dung hội quán thông các "tư liệu tín hiệu", để đạt tới cảnh giới vượt qua các "tư liệu tín hiệu" mà vẫn có thể luận đoán chính xác.
Cao thủ Bắc phái Trương Khai Quyền khi luận về tính chất của Thái Âm nhập cung phúc đức, cho rằng:
"Nam mệnh đặc biệt chủ về có vợ hiền, đẹp, là nội trợ giỏi; hãm và gặp hung tinh, thì suốt đời không có lạc thú khuê phòng."
Lục Bân Triệu thì nói:
"Thái Âm nhập miếu đến cung phúc đức, chủ về phúc hậu, có thể hưởng thụ. Thái Dương và Thái Âm đồng độ càng tốt; Thái Âm Hóa Kị sẽ chủ về vẻ bề ngoài yên tĩnh, nhưng nội tâm bất an; có Hỏa Tinh và Đà La cùng ở một cung, là tự tìm bận rộn, vất vả, hoặc tự chuốc buồn phiền."
Lục Bân Triệu không đề cập vấn đề lạc thú khuê phòng.
Huệ lão, thầy của Vương Đình Chi, khi bàn về quan điểm của hai người này, có nói với Vương Đình Chi rằng: "Thuyết của Trương tiên sinh rất đặc biệt, đáng được nghiên cứu, bởi vì cung phúc đức và cung phu thê hội chiếu, cho nên rất có thể vì các sao của cung phu thê không tốt, Thái Âm ở cung phúc đức lạc hãm, gặp sao hung mới chủ về không có lạc thú khuê phòng." Huệ lão nhớ lại lời của thầy mình. Sư phụ của Huệ lão nói:
"Thái Âm độc tọa ở cung phúc đức, lạc hãm, gặp các sao hình, kị, nữ mệnh độc tọa chủ về phòng không chiếc bóng."
Thuyết này tương tự với thuyết của Trương tiên sinh. Nhưng ông còn nói thêm: "Thiên Cơ ở cung phu thê gặp kị mới đúng". Cho nên cần phải mang tính hệ của cung phúc đức và cung phu thê ra tham chiếu phối hợp mới được.
Còn thuyết của Lục tiên sinh lại hợp với thuyết của sư phụ Huệ lão, cho nên Huệ lão đã từng nghiên cứu tổng hợp thuyết của hai nhà này. Trải qua công việc thống kê khá nhiều mệnh bàn, ông đã rút ra kết luận như sau:
"Hễ nữ mệnh có Thái Âm lạc hãm thủ cung phúc đức, gặp Hỏa Tinh và Đà La, phần nhiều bị chồng bất mãn, nếu tinh hệ của cung phu thê lại không cát tường, thì chồng có ý muốn li dị."
Đây là một bước phát triển trong việc nghiên cứu tính chất của tinh hệ Đẩu Số.
Các sách Tử Vi Đẩu Số thường phân loại các sao thành 5 cấp; cách phân loại vốn bắt đầu từ Bắc phái danh gia Trương Khai Quyền. Nhưng theo Vương Đình Chi, cách phân loại này dễ khiến cho người ta có cái nhìn rời rạc về các sao. Bởi vì dù là sao thuộc cấp 5, có lúc cũng sẽ ảnh hưởng đến sao cấp 1 hay cấp 2 khi tổ hợp thành tinh hệ. Như trường hợp Tham Lang và Liêm Trinh cùng tọa thủ cung tật ách, thông thường giải thích là bệnh can dương thượng kháng (gây ra chứng huyết áp cao), nhưng chỉ cần gặp Thiên Nguyệt là sao thuộc cấp 4, lại chủ về có lỗ mũi mẫn cảm, dễ bị trúng gió, nghẹt mũi, thường chảy nước mũi (viêm mũi dị ứng).
Do đó, lúc nghiên cứu Đẩu Số cần phải có một khái niệm. Không được giải thích riêng rẽ đặc tính của từng sao, mà phải nhận thức toàn bộ tinh hệ. Ví dụ như liên quan đến tinh hệ Tử Vi thì gồm có 6 tinh hệ "Tử Vi, Thiên Phủ", "Tử Vi, Thất Sát", "Tử Vi, Phá Quân", "Tử Vi, Tham Lang", "Tử Vi, Thiên Tướng" và "Tử Vi độc tọa".
Trong thực tế, để hiểu rõ đặc tính của 6 tinh hệ này, còn thêm vào các phụ diệu, tá diệu, hóa diệu, tạp diệu và lưu diệu, tính chất của tinh hệ lập tức biến hóa một cách phức tạp, và hình thành một đặc tính mới, có thể dùng nó để luận đoán sự mâu thuẫn trong tính cách, cho đến hoàn cảnh mà mệnh tạo gặp phải.
Nếu chỉ nhận thức từng sao rời rạc, thì khó tránh có sự mâu thuẫn trong luận đoán. Cho nên nhận thức toàn bộ tinh hệ, là điều mà phái Trung Châu Vương Đình Chi nhấn mạnh.
Tử Vi Đẩu Số chỉ có 12 tinh bàn cơ bản, một chính một phản (ví dụ như Tử Vi ở cung Tí, Tử Vi ở cung Ngọ) nên rút lại chỉ còn sáu loại kết cấu cơ bản.
Mang 14 chính diệu dựa theo tổ hợp quy luật an sao, tổng cộng có 38 nhóm, phân bố trong sáu kết cấu cơ bản thì thành 60 tinh hệ.
Muốn luận đoán Đẩu Số, ngoại trừ phải biết tính chất cơ bản của 14 chính diệu, còn phải biết tính chất cơ bản của 60 tinh hệ. Ví dụ như Tử Vi độc tọa ở cung Tí so với Tử Vi độc tọa ở cung Ngọ, tính chất hơi khác nhau. "Tử Vi, Thất Sát", "Tử Vi, Tham Lang", "Tử Vi, Phá Quân", "Tử Vi, Thiên Phủ", "Tử Vi, Thiên Tướng", mỗi nhóm đều có đặc tính khác nhau, hoàn toàn khác với Tử Vi độc tọa. Cần phải hiểu rõ những tinh bàn này thì mới có thể bàn đến việc luận đoán Đẩu Số.
Ngoài những điều kể trên, còn phải biết tính chất hỗ tương qua lại của các nhóm tinh hệ. Đây là bí mật lớn nhất của phương pháp luận đoán Đẩu Số trong phái Trung Châu.
Liên quan đến việc luận đoán Đẩu Số, các sách thông thường chỉ giới thiệu cách luận đoán "tam phương tứ chính", vốn không suy tính tới việc giao nhau giữa các nhóm tinh hệ. Ví dụ như "Thái Âm độc tọa ở cung Tị" là tinh hệ ở cung mệnh của một đại hạn hoặc lưu niên, thông thường người ta chỉ dựa vào tính chất của Thái Âm ở cung Tị, và tính chất các sao hội hợp ở "tam phương tứ chính" để luận đoán tình huống cát hung của đại hạn này hoặc của lưu niên. Nhưng phái Trung Châu thì khác, ngoại trừ "tam phương tứ chính" của Thái Âm ra, còn cần phải chú ý những điều sau đây:
(1) Tính chất các sao ở cung mệnh của nguyên cục (tức cung mệnh của thiên bàn hay địa bàn) như thế nào?
Ví dụ như người có "Thiên Đồng, Cự Môn" tọa mệnh ở cung Mùi, vào đại hạn hay lưu niên Thái Âm ở cung Tị, tuyệt đối sẽ khác với người có "Vũ Khúc, Thiên Tướng" tọa mệnh ở cung Mùi.
Bởi vì, người có "Thiên Đồng, Cự Môn" tọa mệnh sẽ có bản chất riêng của anh ta; người có "Vũ Khúc, Thiên Tướng" tọa mệnh cũng có bản chất riêng của họ; bản chất của hai người khác nhau, khi cùng vào lưu niên hoặc đại hạn "Thái Âm ở cung Tị" cùng sẽ có phản ứng khác nhau.
Do đó có thể biết, các sách thông thường chỉ xem trọng "tam phương tứ chính" của các cung viên, lấy đó để luận đoán, thực ra như vậy rất là thô sơ, không như phái Trung Châu Vương Đình Chi coi trọng đặc tính của nguyên cục, xem niên hạn là một phương pháp luận đoán tinh vi về sự giao nhau của các tinh hệ.
(2) Lúc luận đoán lưu niên, còn cần chú ý tính chất của tinh hệ ở cung hạn đại vận.
Ví dụ như "Vũ Khúc, Thiên Tướng" tọa mệnh ở cung Thân, Tham Lang ở cung Ngọ là cung mệnh của đại hạn, vào lưu niên "Liêm Trinh, Thiên Phủ". So với "Vũ Khúc, Thiên Tướng" tọa mệnh ở cung Thân, "Thái Dương, Thiên Lương" là cung mệnh của đại hạn, cũng vào lưu niên "Liêm Trinh, Thiên Phủ", vận trình sẽ khác nhau. Đây là do cung mệnh của nguyên cục tuy giống nhau, nhưng cung mệnh của lưu niên khó mà giống nhau, còn tinh hệ ở cung mệnh của đại vận càng khác nhau.
Cách luận đoán đặc biệt này chỉ phái Trung Châu mới có. Phái Trung Châu có khẩu truyền "Tử Vi tinh quyết", chính là cách luận đoán này. Vương Đình Chi nói, hiện nay "Tử Vi tinh quyết" chỉ một mình Vương Đình Chi được truyền thụ, khi nói về "Sáu mươi tinh hệ", ông đã mang "tinh quyết" dung hợp vào để giảng giải.
Do "Tử Vi tinh quyết" mỗi đời chỉ truyền cho một đệ tử, cho nên người biết không nhiều, thậm chí có thể nói không có ai biết. Cho nên, lúc bàn đến trường hợp Tử Vi hội "Thiên Đồng, Cự Môn", hoặc Phá Quân hội "Thái Dương, Thiên Lương", nếu không biết "Tử Vi tinh quyết", có thể biến thành câu chuyện tiếu lâm, còn nếu biết "Tử Vi tinh quyết" thì sẽ thành một cuộc thảo luận nghiêm túc.
Cần phải hiểu rõ điểm này, sau đó mới có thể nghiên cứu những điều trình bày dưới đây.
Tử Vi Độc Tọa Ở Hai Cung Tí Hoặc Ngọ
Nhóm này bao gồm 10 tinh hệ: Tử Vi độc tọa; Phá Quân độc tọa; "Liêm Trinh, Thiên Phủ"; Thái Âm độc tọa; Tham Lang độc tọa; "Thiên Đồng, Cự Môn"; "Vũ Khúc, Thiên Tướng"; "Thái Dương, Thiên Lương"; Thất Sát độc tọa; Thiên Cơ độc tọa.
Mười tinh hệ này giao nhau qua lại, hơn nữa còn có tính chất khác nhau của 12 cung giao nhau, là diễn biến vô cùng phức tạp. Dưới đây sẽ trình bày những tính chất giao nhau trọng yếu.
Tử Vi độc tọa ở hai cung Tí hoặc Ngọ; đối cung là Tham Lang độc tọa; cung hội hợp là "Vũ Khúc, Thiên Tướng" và "Liêm Trinh, Thiên Phủ".
Muốn luận đoán đánh giá tính chất của Tử Vi độc tọa, ngoại trừ xem chương 1 "Chính diệu luận" ở trước, còn phải chú ý một điểm quan trọng, đó là sự quân bình giữa tinh thần và vật chất.
Bản thân Tử Vi đã có bản chất thuộc về phương diện tinh thần (như tính độc đoán mạnh, về phương diện yêu ghét có cá tính đặc thù, về phương diện tinh thần ắt sẽ có tiêu khiển và yêu chuộng, có lực quyết đoán, v.v...); cũng có tính chất thuộc phương diện vật chất (như thú vui, sở thích hưởng thụ vật chất, tài lãnh đạo, tài tổ chức, v.v...); hội hợp với các sao khác nhau, sẽ làm mạnh thêm tính chất về phương diện tinh thần, hoặc làm mạnh thêm tính chất về phương diện vật chất, hay là trong hai có một phương diện yếu đi, thậm chí nhuyễn hóa thành một đặc tính khác, khi luận đoán thực sự cần xem trọng.
Tham Lang, Vũ Khúc, Thiên Phủ là các sao thuộc về tính vật chất. Liêm Trinh, Thiên Tướng là các sao thuộc về tính tinh thần.
Nếu Tham Lang Hóa Lộc hay Hóa Quyền, Vũ Khúc Hóa Lộc hay Hóa Quyền, Thiên Phủ Hóa Khoa đều làm mạnh thêm tính vật chất của Tử Vi; được "bách quan triều củng", đặc biệt là Tả Phụ, Hữu Bật, cũng làm mạnh thêm tính vật chất của Tử Vi.
Nếu Liêm Trinh Hóa Lộc, Thiên Tướng thành cách "Tài ấm giáp ấn", thì sẽ làm yếu đi tính tinh thần của Tử Vi, do đó tính vật chất tương đối có thể mạnh thêm.
Nếu Tham Lang Hóa Kị, Vũ Khúc Hóa Kị, thì sẽ làm yếu đi tính vật chất của Tử Vi, do đó tính tinh thần tương đối có thể mạnh thêm.
Nếu Tham Lang đồng độ với Thiên Hình, hoặc đồng độ với sao không; Liêm Trinh cùng ở một cung với các sao đào hoa, hay cùng ở một cung với Văn Xương, Văn Khúc; Thiên Tướng thì thuộc "Hình kị giáp ấn"; cho tới sao không và tạp diệu Hoa Cái, đào hoa đồng độ với Tử Vi; thì sẽ làm mạnh thêm tính tinh thần của Tử Vi.
Lấy bản thân Tử Vi để nói, Tử Vi được "bách quan triều củng" là nặng tính vật chất; Tử Vi là "tại dã cô quân" thì nặng tính tinh thần.
Cần phải đo lường bản chất của Tử Vi ở hai cung Tí hoặc Ngọ như vậy, mới có thể luận đoán lúc nó đến 12 cung, và tính chất của sự giao nhau giữa các tinh hệ.
Thông thường, Tử Vi độc tọa nặng tính vật chất thì ưa đến các cung hạn có các tinh hệ như Phá Quân, "Liêm Trinh và Thiên Phủ", "Vũ Khúc và Thiên Tướng", Thất Sát, Thiên Cơ. Nếu các cung hạn này cũng nặng tính vật chất, thì có thể phối hợp, tất sẽ là đại vận hoặc lưu niên đắc chí hay phát tài.
Nói nặng tính vật chất, là các nhóm: "Phá Quân Hóa Lộc hay Phá Quân Hóa Quyền"; "Liêm Trinh Hóa Lộc và Thiên Phủ"; "Vũ Khúc Hóa Lộc và Thiên Tướng"; "Thất Sát gặp Hóa Lộc hoặc Lộc Tồn"; "Thiên Cơ Hóa Lộc gặp Tả Phụ, Hữu Bật".
Tử Vi nặng tính tinh thần thì ưa đến các cung hạn có các tinh hệ như Thái Âm, "Thái Dương và Thiên Lương". Nếu hai cung này cùng nặng tính tinh thần, thì phối hợp rất tốt, tất sẽ là đại vận hoặc lưu niên được danh vọng, có tiếng tăm.
Nói nặng tính tinh thần, là các nhóm: "Thái Âm Hóa Lộc, Quyền, Khoa"; "Thái Dương Hóa Lộc, Quyền, Khoa"; "Thiên Lương Hóa Khoa".
Các kết cấu như "Thiên Phủ Hóa Khoa và Liêm Trinh", "Thiên Tướng và Vũ Khúc bị Hình kị giáp ấn", "Thiên Cơ Hóa Khoa", nếu lại gặp Văn Xương, Văn Khúc, cũng là các tinh hệ nặng tính tinh thần.
Nếu hiểu được nguyên tắc luận đoán thuật ở trên, sẽ không khó trong việc tìm hiểu sự biến hóa khi có các sao "phụ, tá, sát, hóa, tạp" hội hợp, không cần trình bày chi tiết ở đây.
Tử Vi nặng tính vật chất mà đến cung hạn Tham Lang nặng tính tinh thần tọa thủ thì sẽ nhuyễn hóa thành sắc dục. Khi Tham Lang ở cung mệnh, cung phúc đức, hay cung phu thê, đều là điểm triệu mệnh tạo phát sinh tình cảm với người khác mà không phải là người phối ngẫu. Nếu là lúc Tham Lang tọa thủ cung tật ách, thì chủ về bệnh tật đường sinh dục và thận.
Tử Vi nặng tính vật chất đến cung hạn Tham Lang nặng tính vật chất thì chủ về sắc dục; nếu ở cung tật ách thì trái lại sẽ không chủ về sắc dục, mà chủ về bệnh gan, bệnh dạ dày, đường ruột.
Tử Vi nặng tính tinh thần đến cung hạn Tham Lang nặng tính vật chất, cũng có thể nhuyễn hóa thành sắc dục.
Tử Vi nặng tính tinh thần đến cung hạn có Tham Lang nặng tính tinh thần, có thể có khuynh hướng trốn đời, hoặc thành sáng tác nghệ thuật, sẽ vào vận trình phát huy sự hưởng thụ tinh thần. Nếu Tham Lang ở cung tật ách, chủ về các bệnh không có thực chất như rối loạn chức năng, thần kinh hưng phấn hoặc thần kinh suy nhược, hoặc do hệ nội tiết mất quân bình khiến cho khí quan mẫn cảm. (Làm cách nào phân biệt Tham Lang nặng tính vật chất hay nặng tính tinh thần, sẽ bàn luận kĩ ở sau. Ở đây chỉ xin đơn cử thêm một ví dụ: Tham Lang của Hóa Lộc là nặng tính vật chất; Tham Lang của Hóa Kị là nặng tính tinh thần.)
Tử Vi nặng tính tinh thần đến cung hạn có "Thiên Đồng, Cự Môn" của lưu niên hoặc đại hạn, tất sẽ xảy ra rắc rối về tình cảm, hoặc sự nghiệp không như ý, hoặc xảy ra tình trạng có những cảm thụ đặc biệt, cần phải xem hội hợp với các sao phụ, tá, sát, hóa nào để định.
Tử Vi nặng tính vật chất đến cung hạn có "Thiên Đồng, Cự Môn", nếu Thiên Đồng Hóa Lộc, thường thường đây là năm hoặc vận trình thu hoạch; nếu Thiên Đồng Hóa Kị, cũng có thu hoạch, nhưng chủ về có trở ngại trong quá trình thu hoạch. Rất ngại Cự Môn Hóa Kị, đây là đại hạn hoặc lưu niên chủ về thất bại, tổn thất.
Tử Vi nặng tính vật chất đến cung hạn có Thất Sát, lập tức phát sinh chuyển biến; Tử Vi nặng tính tinh thần đến cung hạn có Thất Sát, chủ về kéo dài một thời gian rồi mới xảy ra chuyển biến (nếu Thất Sát là cung mệnh của lưu niên, chủ về sự chuyển biến sẽ xảy ra vào nửa năm cuối; nếu Thất Sát là cung mệnh của đại vận, chủ về sự chuyển biến sẽ xảy ra vào 5 năm cuối).
Hơn nữa, tính chất chuyển biến của hai trường hợp này cũng khác nhau. Trường hợp trước chủ yếu là chuyển biến về sinh hoạt vật chất; trường hợp sau chỉ chuyển biến về đời sống tinh thần.
Phá Quân hơi giống Thất Sát, chuyển biến ở biên độ khá lớn.
Trên là cử một vài ví dụ thuyết minh sơ lược về những điểm tinh túy và trọng yếu của "Tử Vi tinh quyết". Sau đây xin đưa ra một số ví dụ luận đoán cụ thể.
(1) Tinh hệ "Liêm Trinh, Thiên Phủ", Liêm Trinh Hóa Kị, Tử Vi của nguyên cục khá nặng tính chất tinh thần, chủ về sinh hoạt tinh thần có chỗ khiếm khuyết. Lúc này cần phải xem xét Phá Quân ở cung phúc đức của nguyên cục. Nếu gặp Hàm Trì, Đại Hao, Mộc Dục, Thiên Diêu, thì chủ về tinh thần trống rỗng; cho nên lúc Tử Vi đến vận hạn "Liêm Trinh, Thiên Phủ" sẽ xảy ra rắc rối về tình cảm. (Nếu "Liêm Trinh, Thiên Phủ" ở cung huynh đệ, chủ về giữa anh em hay người cùng lứa xảy ra trở ngại về tình cảm; nếu "Liêm Trinh, Thiên Phủ" ở cung phu thê, chủ về bản thân mệnh tạo có tính nhân bên ngoài; nếu "Liêm Trinh, Thiên Phủ" ở cung tật ách, chủ về căn bệnh phổ biến tiểu đường. Bạn đọc có thể căn cứ tính chất cơ bản để suy ra ứng nghiệm của "Liêm Trinh, Thiên Phủ" khi vào 12 cung).
(2) Tinh hệ "Vũ Khúc, Thiên Tướng", nếu Vũ Khúc Hóa Kị, Tử Vi của nguyên cục nặng tính vật chất, chủ về sinh hoạt vật chất thiếu thốn. Lúc này cần phải xem xét "Liêm Trinh, Thiên Phủ" ở cung sự nghiệp của nguyên cục. Nếu "Liêm Trinh, Thiên Phủ" được sao lộc, thì sự thiếu thốn về sinh hoạt vật chất là do mở rộng sự nghiệp một cách quá đáng; nếu "Liêm Trinh, Thiên Phủ" không có sao lộc, hơn nữa còn là "kho trống" hoặc "kho lộ", thì khi Tử Vi đến niên vận "Vũ Khúc, Thiên Tướng" thủ mệnh sẽ chủ về có nguy cơ thất nghiệp, phá tán, thất bại.
Qua hai ví dụ thực tế này, người nghiên cứu Đẩu Số có thể hiểu được tính chất của các "tinh hệ" sau đây, một khi đã dung hội quán thông thì có thể đưa ra những luận đoán rõ ràng và tinh tế.
Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tam Hợp Phái
