Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Tam Hợp Phái

Bài tổng quan

Cung Phu Thê với Tử Vi, Thiên Cơ và Thái Dương

Tử Vi Nam Phái - Tam Hợp Phái21/09/202625 phút đọc6 lượt đọc
Cung Phu Thê với Tử Vi, Thiên Cơ và Thái Dương

Cùng một sao đế tọa cung phu thê, có người được bạn đời chi phối về tinh thần, có người bị chi phối về tiền bạc, hai lối ấy dẫn tới hai cảnh đời khác hẳn. Cung phu thê không chỉ đoán bền hay vỡ, mà đoán trong nhà ai chi phối ai.


CÙNG MỘT SAO ĐẾ TỌA CUNG PHU THÊ, CÓ NGƯỜI ĐƯỢC BẠN ĐỜI CHI PHỐI VỀ TINH THẦN, CÓ NGƯỜI BỊ CHI PHỐI VỀ TIỀN BẠC. Hai lối ấy dẫn tới hai cảnh đời khác hẳn, nên phái Trung Châu xem cung phu thê không chỉ để đoán hôn nhân bền hay vỡ, mà để biết trong nhà ai chi phối ai, và chi phối bằng thứ gì.

Tử Vi ở cung phu thê

Tử Vi độc tọa ở hai cung Tí hoặc Ngọ, nếu được "bách quan triều củng" thì người bạn đời địa vị cao, tính độc đoán cũng mạnh; nếu là cách cục "tại dã cô quân" hoặc "vô đạo", sẽ chủ về người bạn đời tính cách bạo ngược. Lại còn phải chia ra: loại thiên về tinh thần thì chủ về người bạn đời có khuynh hướng chi phối bản thân mệnh tạo; loại thiên về vật chất thì chủ về người bạn đời chi phối tiền bạc của bản thân mệnh tạo. Nếu kết cấu của tinh hệ là cát thì đây là sự chi phối tốt; nếu ngược lại, thì thường vì sự chi phối của người bạn đời mà bản thân mệnh tạo bị phá tán, thất bại, hoặc tổn thương tình cảm.

Tử Vi độc tọa ở hai cung Tí hoặc Ngọ, gặp Vũ Khúc Hóa Kị mà đến lưu niên Liêm Trinh Hóa Kị, chủ về đổ vỡ tình cảm; gặp Liêm Trinh Hóa Kị mà đến lưu niên Vũ Khúc Hóa Kị, chủ về không có sinh hoạt vợ chồng. Tử Vi thuộc loại thiên về tinh thần, lúc đến lưu niên "Thiên Đồng, Cự Môn" thường thường dễ thay đổi tình cảm; thuộc loại thiên về vật chất, lúc đến lưu niên Phá Quân, "Vũ Khúc, Thiên Tướng", cũng dễ thay đổi tình cảm. Thông thường, nữ mệnh không ưa đến cung hạn "cung phu thê" là "Thái Dương, Thiên Lương" mà Thái Âm Hóa Kị; nam mệnh không ưa đến cung hạn Thái Âm Hóa Kị ở cung Tị.

Tử Vi độc tọa ở hai cung Tí hoặc Ngọ mà Tham Lang ở đối cung là "Phiếm thủy đào hoa", đến cung hạn "Thiên Đồng, Cự Môn" thì dễ sinh đau khổ vì tình; đến cung hạn "Thái Dương, Thiên Lương" thì dễ chia li với người bạn đời.

"Tử Vi, Phá Quân" đồng độ ở hai cung Sửu hoặc Mùi, thông thường thủ cung phu thê là bất lợi: dù vốn là ổn định, trước hôn nhân cũng có sóng gió, trắc trở; nếu không ổn định thì dễ li dị. Tinh hệ này rất kị gặp "sao lẻ" phụ, tá, thường chủ về có người thứ ba xen vào. Nếu tính chất của Thiên Lương thuộc loại "ổn định", mà đến đại vận hoặc lưu niên có các sao sát, kị, hình, hao, không, kiếp trùng trùng, chủ về người bạn đời bị nạn tai, bệnh tật, hoặc sự nghiệp thất bại. Nếu nguyên cục thuộc loại "không ổn định", đến các cung hạn này thường chủ về sinh li tử biệt; trong đó, các cung hạn quan trọng là "Tử Vi, Phá Quân", "Liêm Trinh, Tham Lang", "Thiên Đồng, Thiên Lương", Cự Môn thủ cung phu thê. Tinh hệ này hội Liêm Trinh Hóa Lộc, Tham Lang Hóa Lộc, lại gặp các sao đào hoa, chủ về dễ có tình cảm bên ngoài; nếu gặp thêm các sao hư, hao thì người bạn đời còn có thú vui không lành mạnh. Thường ứng nghiệm lúc đến lưu niên "Tử Vi, Phá Quân" thủ cung phu thê.

"Tử Vi, Thiên Phủ" đồng độ ở hai cung Dần hoặc Thân, cần phải gặp sao đôi phụ, tá, mới chủ về sống với nhau đến bạc đầu; nếu không có các sao phụ, tá, hoặc có mà gặp nhiều "sao lẻ", hoặc Thiên Phủ là "kho lộ", "kho trống", thì nên đề phòng lúc đến các đại vận Tham Lang, Phá Quân, Cự Môn, hôn nhân dễ xảy ra sự thay đổi. Nếu có Lộc Tồn đồng độ, vẫn chủ về người bạn đời ích kỉ, có khuynh hướng chi phối bạn đời. Có Thiên Thọ cùng bay đến, nam mệnh nên lấy vợ nhỏ tuổi, nữ mệnh nên lấy chồng lớn tuổi. Nếu tinh hệ này có tính chất "tiến thủ" mà ở cung phu thê lại chẳng chủ về người bạn đời có chí tiến thủ, trái lại sẽ chủ về dễ sinh ngoại tình, năm ngoại tình phần nhiều là các lưu niên "Liêm Trinh, Thiên Tướng", Thiên Đồng, Thiên Cơ thủ cung phu thê.

"Tử Vi, Tham Lang" đồng độ ở hai cung Mão hoặc Dậu, cần phải phân biệt tính chất thuộc loại "ham muốn vật chất" hay "dục tình". Thuộc loại "ham muốn vật chất" thì chủ về người bạn đời có chí tiến thủ; thuộc loại "dục tình" thì trước hôn nhân gặp nhiều sóng gió, trắc trở, sau kết hôn cũng dễ sinh ngoại tình. Tinh hệ này lại gặp Văn Xương, Văn Khúc, phần nhiều thành hôn mà không có nghi lễ chính thức, trường hợp "Tử Vi, Phá Quân" gặp Tả Phụ, Hữu Bật cũng vậy, nhưng có thể tránh sinh li tử biệt. Nếu hội Liêm Trinh Hóa Kị thì người bạn đời không lo lắng cho gia đình; hội Liêm Trinh Hóa Lộc thì người bạn đời thông minh nhưng dễ thất chí, mà còn ưa tìm cảm giác kích thích. Nếu gặp cát tinh, không được coi là "Đào hoa phạm chủ", mà chủ về vợ chồng có thể cùng nhau sáng lập sự nghiệp, nhưng người bạn đời phải là nhân vật chính của sự nghiệp. Trong tình hình hung thì lúc đến các lưu niên Cự Môn, Liêm Trinh, Thất Sát, Vũ Khúc, Phá Quân, Thái Dương thủ cung phu thê là năm ứng nghiệm.

"Tử Vi, Thiên Tướng" đồng độ ở hai cung Thìn hoặc Tuất, nam mệnh nên lấy vợ nhỏ tuổi, có thể nhỏ hơn mười hai tuổi; nữ mệnh nên lấy chồng lớn tuổi, từ tám đến mười hai tuổi. Nếu tinh hệ này thuộc loại "vô tình" thì vợ chồng cần phải chênh lệch tuổi tác mới có thể bù đắp, nếu không sẽ chủ về sinh li. Tinh hệ này chủ về nên lấy người đã từng kết hôn, gặp "sao lẻ" phụ, tá thì càng đúng. Thuộc loại "vô tình", tuy tình cảm vợ chồng không thay đổi, nhưng cần đề phòng người bạn đời đột nhiên sinh bệnh; gặp cung phu thê của đại vận hay lưu niên có các sao sát, kị trùng điệp xung các sao sát, kị của nguyên cục thì ứng nghiệm. Nếu thuộc loại "hữu tình", gặp Tả Phụ, Hữu Bật và các sao cát, thì lợi cho vợ chồng cùng nhau sáng lập sự nghiệp, gọi là "phu xướng phụ tùy", có thể phát đạt, nhưng vẫn có lòng ích kỉ. Trong tình hình cát thì năm ứng nghiệm là lúc đến các lưu niên "Thái Âm, Thái Dương", "Vũ Khúc, Thiên Phủ", Thiên Đồng thủ cung phu thê; trong tình hình hung, năm ứng nghiệm là lúc đến các lưu niên "Vũ Khúc, Thiên Phủ", Phá Quân, Thiên Lương thủ cung phu thê.

"Tử Vi, Thất Sát" đồng độ ở hai cung Tị hoặc Hợi, thông thường đều chủ về người bạn đời lộng quyền. Nếu gặp các sao phụ, tá cát thì sự nghiệp của người bạn đời khá lớn, nhưng vợ chồng gặp nhau ít mà xa nhau nhiều, hoặc ở chung một nhà nhưng quan hệ tình cảm lại xa cách. Gặp "Hỏa Tham", "Linh Tham" mà không có sao đào hoa, chủ về người bạn đời đột nhiên phát đạt; có sao đào hoa thì chủ về người bạn đời đột nhiên thay đổi tình cảm. Tinh hệ này ở cung phu thê nên kết hôn muộn. Trong tình hình cát thì năm ứng nghiệm là lúc đến các lưu niên "Vũ Khúc, Tham Lang", Thiên Tướng được "Tài ấm giáp ấn", "Liêm Trinh, Phá Quân" thủ cung phu thê; trong tình hình hung, năm ứng nghiệm là lúc đến các lưu niên "Thiên Đồng, Thái Âm", Thiên Tướng bị "Hình kị giáp ấn", "Tử Vi, Thất Sát" thủ cung phu thê.

"Tử Vi, Phá Quân" và "Tử Vi, Thất Sát" cần phải được "bách quan triều củng", còn không gặp "sao lẻ" phụ, tá, mới chủ về hôn nhân cát lợi; trường hợp "Tử Vi, Phá Quân" còn chủ về vợ chồng cùng nhau sáng lập sự nghiệp, tay trắng làm nên. Nhưng "Tử Vi, Thiên Tướng" trước sau vẫn có khuyết điểm, tuổi tác của vợ chồng phải chênh lệch nhiều mới chịu nhường nhịn nhau. Nam mệnh lớn hơn vợ chừng hai ba tuổi, nữ mệnh nhỏ hơn chồng chừng hai ba tuổi cũng được. Nam mệnh mà cung phu thê gặp Tử Vi, bất luận ở cung độ nào, vợ đều nên có sự nghiệp; nếu ở nhà coi sóc gia đình, phần nhiều sẽ phát huy tài lãnh đạo ở gia đình, thậm chí biến thành khống chế chồng. Nữ mệnh mà cung phu thê gặp Tử Vi, nếu thuộc loại "tại dã cô quân" hoặc "vô đạo", sau ba mươi tuổi mới có thể phát triển tình cảm; nếu kết hôn sớm sẽ dễ sinh trắc trở, mà còn bị gây lụy. Gặp trường hợp "bách quan triều củng" mà không có "sao lẻ", mới chủ về chồng đắc chí.

Thiên Cơ ở cung phu thê

Sang sao chủ về biến động, cung phu thê không còn nói chuyện chi phối, mà nói chuyện thay lòng.

Thiên Cơ độc tọa ở hai cung Tí hoặc Ngọ, đối cung là Cự Môn, hễ có sát tinh là đã chủ về vợ chồng bằng mặt mà không bằng lòng. Nếu Thiên Cơ Hóa Kị hoặc Cự Môn Hóa Kị thì vợ chồng vì tính cách không hợp nhau, hoặc vì bất mãn hoàn cảnh sống mà sinh thay lòng đổi dạ. Nếu Cự Môn Hóa Lộc, dù li dị vẫn khó tìm được đối tượng vừa ý. Thiên Cơ độc tọa mà Hóa Kị ở hai cung Tí hoặc Ngọ, vợ chồng đều có cơ tâm, lại gặp sát tinh, thường thường xảy ra sự cố lúc đến cung hạn "Thiên Đồng, Thiên Lương" hoặc "Liêm Trinh, Tham Lang"; phần nhiều tái hôn thì tốt đẹp hơn. Nhưng cần chú ý, trường hợp Thiên Cơ Hóa Kị mà có Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp đồng độ, tái hôn vẫn không tốt.

Thiên Cơ độc tọa ở hai cung Tí hoặc Ngọ, gặp Thiên Đồng Hóa Lộc thì cát, chủ về vợ chồng tay trắng làm nên; nếu Thiên Đồng Hóa Kị, sẽ chủ về sóng gió nhiều mà gặp nhau thì ít. Gặp cát tinh thì không sợ đến cung hạn Thái Âm, Thái Dương thủ cung phu thê; nếu Thiên Cơ gặp sao sát, kị mà đến cung hạn Thái Âm, Thái Dương, chủ về vợ chồng cãi vã, rối ren. Đối với Thiên Cơ độc tọa ở hai cung Tí hoặc Ngọ, "Thiên Đồng, Thiên Lương" là tinh hệ có tính then chốt: chúng mà gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh thì chủ về chia li trong tình hình xấu; gặp Lộc Tồn, Thiên Mã thì chủ về chia li trong tình hình bình thường; gặp các sao sát, kị thì chủ về li dị. Nếu gặp "Lộc Quyền Khoa hội" thì vợ chồng có thể sống với nhau đến bạc đầu, nhưng nếu đồng thời gặp Cự Môn Hóa Kị thì vẫn cần phải kềm chế bản thân.

Cung phu thê không nên là Thiên Cơ độc tọa ở hai cung Sửu hoặc Mùi, có đối cung là Thiên Lương, phần nhiều chủ về kết hôn sớm rồi li dị, hoặc kết hôn muộn; nhưng trước hôn nhân đã gặp trắc trở trong tình yêu nhiều lần, gặp Địa Không, Địa Kiếp thì càng đúng. Thiên Cơ độc tọa hai cung Sửu hoặc Mùi mà rất sợ có Đà La đồng cung, không những kết hôn muộn, mà phần nhiều còn chọn lầm người có tính cách không hợp nhau, nên sinh bất mãn. Thiên Cơ độc tọa ở hai cung Tí hoặc Ngọ được cát hóa, không có sát tinh thì còn được; có sát tinh dù cát hóa, nhân duyên cũng không mĩ mãn, vợ chồng nên chênh lệch tuổi tác mới có thể sống với nhau đến bạc đầu. Thiên Cơ độc tọa hai cung Sửu hoặc Mùi, trước hôn nhân đã trải qua trắc trở, hoặc trước hôn nhân có sóng gió trở ngại là tốt; nếu trước hôn nhân thuận lợi thì sau khi kết hôn thường gặp nhau ít mà xa nhau nhiều, hoặc bằng mặt mà không bằng lòng. Thiên Cơ độc tọa hai cung Sửu hoặc Mùi, không nên đến cung hạn Thái Dương Hóa Kị, Thái Âm Hóa Kị; đại khái là các cung hạn "Liêm Trinh, Thiên Tướng", Cự Môn, Thiên Đồng là đại vận hoặc lưu niên then chốt.

"Thiên Cơ, Thái Âm" ở hai cung Dần hoặc Thân, nam mệnh ưu hơn nữ mệnh. Nam mệnh cung phu thê gặp tinh hệ này thì chủ về vợ xinh đẹp, giỏi nội trợ; nữ mệnh thì trái lại, cần đề phòng chồng dễ bị người khác giới để ý. Nếu thuộc loại "tâm trạng hóa" quá nặng thì hôn nhân dễ xảy ra sóng gió, trắc trở, ví dụ như người bạn đời thay lòng đổi dạ, có người khác. Nếu hội Thiên Đồng Hóa Kị, gặp các sao Địa Không, Địa Kiếp, Âm Sát, Thiên Hư, Đại Hao, chủ về người bạn đời tâm chí bạc nhược, hoặc quá mẫn cảm, do đó dễ xảy ra sóng gió trong hôn nhân. Cát hung của tinh hệ này thường ứng nghiệm lúc đến các cung hạn Thái Dương, Thiên Lương, Thiên Đồng, Cự Môn là đại vận hoặc lưu niên.

"Thiên Cơ, Cự Môn" ở hai cung Mão hoặc Dậu, cần phải gặp sao lộc, vợ chồng mới sống với nhau đến bạc đầu. Nhưng nếu có Hỏa Tinh, Linh Tinh đồng độ thì thành phá cách, chủ về lúc đầu hòa hợp hạnh phúc, về sau thành nguội lạnh; các cung hạn Thiên Đồng, Thiên Lương là đại vận hoặc lưu niên ứng nghiệm. Tinh hệ này ở hai cung Mão hoặc Dậu, sau kết hôn liền có sóng gió, trải qua sóng gió mới sống với nhau đến bạc đầu; nếu không, sau kết hôn phần nhiều thay lòng đổi dạ. Nếu Thiên Cơ Hóa Kị, chủ về dễ yêu người đã có gia đình; nếu Cự Môn Hóa Kị, phần nhiều có nỗi đau khổ thầm kín trong tình cảm; gặp sát tinh, chủ về hai lần kết hôn. Nữ mệnh cung phu thê không nên là "Thiên Cơ, Cự Môn": gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh, hoặc Thiên Đồng có Đà La đồng cung, thì không phải mạng một lần kết hôn. Tinh hệ này ở hai cung Mão hoặc Dậu, thường thường cung hạn "Vũ Khúc, Thiên Phủ" là đại vận hoặc lưu niên then chốt: Hóa Lộc chủ về Hóa Kị đều xảy ra sự thay đổi, nam mệnh hay nữ mệnh đều dễ bị người đã có gia đình theo đuổi, do đó xảy ra những tình huống rối rắm, khó xử về tình cảm.

"Thiên Cơ, Thiên Lương" đồng độ ở hai cung Thìn hoặc Tuất, chủ về kết hôn muộn, hoặc trước hôn nhân có sóng gió trong tình yêu; nếu không sẽ sinh li. Gặp cát tinh thì hôn nhân trắc trở, vợ chồng nên chênh lệch tuổi tác mới sống với nhau đến bạc đầu; cũng chủ về trước hôn nhân đã có một lần li biệt, gặp lại nhau mới sống với nhau đến bạc đầu. "Thiên Cơ, Thiên Lương" ở cung Thìn, gặp sát tinh, đến đại hạn cung Mùi thì dễ bị người đã có gia đình theo đuổi; ở cung Tuất, gặp sát tinh, đến đại hạn cung phu thê ở cung Sửu cũng vậy. Cung hạn phu thê gặp Đà La, Linh Tinh thì nhiều sóng gió, xảy ra nhiều tình huống rối rắm khiến mệnh tạo khó phân giải. Đối với tinh hệ này, cung hạn "Vũ Khúc, Tham Lang" là đại vận hoặc lưu niên then chốt: cung hạn hóa cát hoặc có sao cát hội mà không gặp các sao đào hoa thì có thể bình an vô sự; nếu Hóa Kị sẽ chủ về tình cảm vợ chồng thay đổi, trường hợp hóa cát mà gặp các sao đào hoa cũng chủ về tình cảm vợ chồng thay đổi.

Thiên Cơ ở hai cung Tị hoặc Hợi, ở cung Hợi thì vợ xấu, ở cung Tị thì vợ đẹp, đây là do Thái Âm miếu hay hãm. Nếu gặp Văn Xương, Văn Khúc, lại hội hợp các sao đào hoa, chủ về người bạn đời dễ bị người khác theo đuổi; cho nên nếu gặp thêm các sao sát, kị, hình, sẽ chủ về vợ chồng giữa chừng chia tay. Trường hợp có cát hóa, gặp Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên Khôi, Thiên Việt, sẽ chủ về người bạn đời giỏi giang, có thể lập nên sự nghiệp. Thiên Cơ ở hai cung Tị hoặc Hợi, nếu hội Thiên Đồng Hóa Lộc, Cự Môn Hóa Kị, thì bản thân mệnh tạo sau khi kết hôn dễ thay lòng đổi dạ, có người khác; nữ mệnh hội Thái Dương Hóa Kị, gặp sát tinh, chủ về sinh li với người bạn đời. Đối với Thiên Cơ ở hai cung Tị hoặc Hợi, các cung hạn "Thái Dương, Thiên Lương", "Thiên Đồng, Thiên Lương", Phá Quân là đại vận hoặc lưu niên then chốt, ứng nghiệm cát hung. Thiên Cơ ở cung phu thê về cơ bản là bất lợi; nhưng trong tình hình đối nhau hoặc đồng độ với Thái Âm, gặp cát tinh, mới có thể sống với nhau đến bạc đầu. Thiên Cơ ở cung phu thê rất ngại Thiên Đồng hay Cự Môn Hóa Kị, đều chủ về rắc rối khó xử về tình cảm; cổ đại cho rằng nữ mệnh là mạng tì thiếp.

Thái Dương ở cung phu thê

Với mặt trời đặt ở cung này, câu hỏi vẫn quay về chỗ cũ: sinh ban ngày hay ban đêm, và mặt trời ấy sáng hay tối.

Thái Dương ở cung Tí, phần nhiều người bạn đời có tính soi bói, bới móc; gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh thì càng nặng. Nếu có Địa Không, Địa Kiếp đồng độ thì thường thường kết hôn muộn, hoặc tuy có hôn ước nhưng khó kết hợp. Thái Dương Hóa Kị mà có Địa Không, Địa Kiếp đồng cung, nữ mệnh chủ về sớm làm quả phụ; có sao cát đồng thời hội hợp, cũng chủ về sinh li. Nhưng có Lộc Tồn, Thiên Mã ở cung Thân, Thái Dương Hóa Lộc, sẽ chủ về nhân duyên ở xứ người, vẫn nên kết hôn muộn. Nữ mệnh cung phu thê là Thái Dương Hóa Kị ở cung Tí, cung mệnh của đại hạn đến cung Tí, thường thường hôn nhân bất lợi, chủ về sinh li, hoặc gặp rắc rối về tình cảm, ảnh hưởng rất sâu nặng; người sinh vào ban đêm thì càng nặng. Nam mệnh cung phu thê là Thái Dương Hóa Kị ở cung Tí, sau ba mươi tuổi dễ thay lòng đổi dạ; người sinh vào ban đêm càng nặng.

Thái Dương ở cung Tí được "bách quan triều củng", nữ mệnh tuy chủ về chồng phú quý, nhưng cũng hữu danh vô thực; người sinh vào ban đêm thì càng nặng. Nam mệnh thì vợ có sự nghiệp, không lo cho gia đình. Thái Dương ở cung Tí thông thường không nên đến hai cung hạn Cự Môn và "Vũ Khúc, Phá Quân"; dù hai cung hạn này có cát tinh tụ tập, phần nhiều cũng không như ý.

Thái Dương ở cung Ngọ, chủ về người bạn đời giỏi giang, có trách nhiệm; gặp sát tinh đồng độ thì ngày đêm bôn ba, bận rộn ở bên ngoài, ít hưởng được niềm vui gia đình. Nếu có Địa Không, Địa Kiếp đồng độ cũng nên kết hôn muộn. Thái Dương Hóa Kị, nữ mệnh không nên kết hôn sớm, nhưng phần nhiều không đếm xỉa gì đến chuyện hôn ước. Có Thiên Mã ở cung Dần mà Thái Dương Hóa Lộc, thì đến lưu niên Thiên Đồng thủ cung phu thê cũng chủ về nhân duyên ở nơi xa hay nước ngoài. Nữ mệnh cung phu thê là Thái Dương Hóa Kị ở cung Ngọ, cung mệnh của đại hạn đến cung Ngọ, thường thường tình cảm dễ sinh rối rắm, còn dễ bị người khác giới gây lụy. Nam mệnh trường hợp này, có sát tinh, chủ về sau ba mươi tuổi dễ thay lòng đổi dạ. Nữ mệnh cung phu thê là Thái Dương ở cung Ngọ, hội các sao phụ, tá, chủ về chồng quý hiển; thời cổ đại chủ về nhờ gia đình vợ mà được quý, thời hiện đại thì phụ nữ có sự nghiệp riêng. Nhưng không ưa đến các cung hạn Thiên Đồng, "Liêm Trinh, Thất Sát", hơi gặp sát tinh thì chủ về hôn nhân dễ nổi sóng gió.

Nam mệnh "Thái Dương, Thái Âm" đồng độ ở cung Sửu, gặp cát tinh, chủ về vợ hiếp đáp chồng, người sinh vào ban đêm thì càng nặng; nếu gặp các sao sát, kị, hình hội hợp thì vì vợ mà phá gia, nhẹ thì chủ về có vợ phá tài, cũng chủ về người sinh vào ban đêm thì càng nặng. Nếu là nữ mệnh, gặp cát tinh, trái lại sẽ chủ về vợ chồng tình thâm, người sinh vào ban đêm càng tốt; gặp các sao sát, kị, hình nặng thì chủ về vợ chồng ý kiến trái nghịch nhau. "Thái Dương, Thái Âm" ở cung Sửu, gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh, chủ về bất hòa với thân gia, hoặc chủ về vợ chồng tuổi tác, học lực không tương xứng.

Nam mệnh cung phu thê là "Thái Dương, Thái Âm" đồng độ ở cung Sửu, nếu Thái Âm Hóa Kị thì dễ bất hòa với gia đình vợ; gặp sát tinh, vợ nhiều nạn tai, bệnh tật, hoặc vợ phá tài; gặp cát tinh, hoặc Thái Âm Hóa Lộc, chủ về được nhà vợ trợ lực, thông thường chủ về vợ giỏi nội trợ. Nữ mệnh trường hợp này, nếu Thái Dương Hóa Kị, chủ về chồng nhiều nạn tai, bệnh tật; sát tinh nặng thì có "hình khắc", nếu không sẽ sinh li. Thái Âm Hóa Kị cũng không cát tường, chủ về chồng nhiều nạn tai, bệnh tật, khiến bản thân mệnh tạo bất an. "Thái Dương, Thái Âm" đồng độ ở cung Mùi, ý nghĩa đại khái cũng giống như ở cung Sửu; có điều ở cung Sửu thì nam mệnh lợi hơn, ở cung Mùi thì nữ mệnh lợi hơn.

"Thái Dương, Cự Môn" đồng độ ở cung Dần hoặc Thân, mà Thái Dương Hóa Lộc, Hóa Quyền hay Hóa Kị, mà không có Hỏa Tinh, Linh Tinh, đều chủ về kết hôn với người ngoại quốc hay người ở phương xa; nếu Hóa Kị ở cung Thân thì càng đúng. Tinh hệ này phải không gặp sát tinh mới tốt; nếu không, đến các cung hạn "Thiên Cơ, Thiên Lương", Thiên Tướng bị "Hình kị giáp ấn", "Thiên Đồng, Thái Âm", đều dễ xảy ra sự cố, ở cung Thân xấu hơn ở cung Dần. "Thái Dương, Cự Môn" được cát hóa nhưng cung phúc đức không cát tường, nữ mệnh chủ về rời xa quê hương, lấy chồng theo chồng; nam mệnh chủ về ở rể. Trường hợp gặp sát tinh nhưng không cát hóa nặng, chủ về vợ chồng ý kiến trái nghịch nhau; có các sao sát, kị, hình tụ tập thì có nguy cơ sinh li tử biệt. Gặp các sao phụ, tá cát, nữ mệnh lấy chồng hiển quý; nam mệnh nên lấy vợ có sự nghiệp riêng, nếu không sẽ nhiều thị phi.

"Thái Dương, Thiên Lương" đồng độ ở hai cung Mão hoặc Dậu, ở cung Mão ưu hơn ở cung Dậu. Gặp cát tinh, chủ về vợ chồng tuổi tác chênh lệch, hoặc chủ về vợ lớn hơn chồng; gặp Thiên Thọ, tuổi tác chênh lệch càng nhiều. Gặp các sao sát, kị, chủ về vợ chồng sinh li tử biệt, hoặc chủ về người bạn đời vì sự nghiệp mà thường đi xa, thông thường nên kết hôn muộn. Tinh hệ này ở cung phu thê chủ về có sóng gió, trắc trở trước hôn nhân, hoặc bạn cũ gặp lại nhau rồi lấy nhau. Gặp "sao lẻ" Văn Xương hay Văn Khúc, chủ về hai lần kết hôn. Cần phải gặp các sao phụ, tá cát mới chủ về vợ chồng hạnh phúc, sống với nhau đến bạc đầu, nhưng trước hôn nhân vẫn có sóng gió, trắc trở, hoặc sau kết hôn có một thời kì xa nhau. Đối với tinh hệ này, các cung hạn "Thiên Đồng, Cự Môn", Tham Lang, "Thái Dương, Thiên Lương" là những lưu niên hay đại vận then chốt.

Thái Dương ở cung Thìn, rất kị Cự Môn Hóa Kị, chủ về sinh li tử biệt; Hóa Lộc cũng có thể kết hôn với người ngoại quốc hay người ở phương xa. Thái Dương ở cung Tuất mà Cự Môn Hóa Kị thì tính chất bất lợi càng nghiêm trọng; Hóa Lộc thì không chủ về kết hôn với người ngoại quốc, nhưng ở nữ mệnh thì chủ về được người ngoại quốc theo đuổi. Thái Dương ở hai cung Thìn hoặc Tuất thủ cung phu thê, đến đại hạn cung mệnh là "Tử Vi, Phá Quân" thường chủ về thành thân mà không có nghi lễ chính thức. Thái Dương ở hai cung Thìn hoặc Tuất được cát hóa và có sao cát, nữ mệnh chủ về lấy chồng phú quý, nhưng ở cung Tuất thì phần nhiều là hữu danh vô thực. Thái Dương ở hai cung này rất kị có Đà La, Hỏa Tinh đồng độ, hoặc có Kình Dương, Linh Tinh đồng độ, đều chủ về vợ chồng không thể sống với nhau đến bạc đầu; có điều ở cung Thìn thì tái hôn tốt hơn.

Thái Dương ở cung Tị ưu hơn Thái Dương ở cung Hợi, nam mệnh hay nữ mệnh đều như vậy. Nữ mệnh Thái Dương ở cung Hợi, gặp các sao phụ, tá tụ tập, Thái Dương lại được cát hóa, chủ về chồng trải qua gian khổ mà thành đại nghiệp; nếu gặp "sao lẻ" Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phụ hay Hữu Bật thì đây là mạng có hai đời chồng, tái giá tốt hơn. Thái Dương ở cung Tị gặp sát tinh Hỏa Tinh, nữ mệnh mà cung phu thê của đại hạn đến "Tử Vi, Thiên Phủ" tọa thủ, hoặc Thái Âm tọa thủ, đều không cát lợi. Thái Dương ở cung Hợi gặp sát tinh Hỏa Tinh, nam mệnh không nên kết hôn sớm; đến đại hạn "Tử Vi, Thiên Phủ" thủ cung phu thê, chủ về lấy vợ do yêu nhau mà lấy nhau, nhưng về sau thì tình cảm như nước với lửa; nữ mệnh đến đại hạn Thiên Đồng thủ cung phu thê thường cũng xảy ra sự cố. Thái Dương ở hai cung Tị hoặc Hợi, dù gặp cát tinh cũng chủ về trước hôn nhân tình yêu gặp nhiều sóng gió, trắc trở. Thái Dương ở cung Tị thủ cung phu thê mà gặp các sao đôi phụ, tá tề tụ, lại được "bách quan triều củng", nam mệnh chủ về nhờ vợ mà sang quý; cung mệnh có Hỏa Tinh, Linh Tinh cũng chủ về ở rể.

Thái Dương ở cung Tị hoặc Hợi rất ngại Cự Môn Hóa Kị, chủ về vợ chồng có tính cách, gia thế, học thức đều không giống nhau, mà còn xảy ra điều tiếng thị phi liên miên. Nếu người bạn đời làm nghề "dùng tài ăn nói để kiếm tiền" như giáo sư, nhân viên bán hàng, chào hàng, hoặc thuộc loại "do thị phi mà kiếm tiền" như luật sư, cảnh sát, thì tốt hơn. Thông thường, hễ Thái Dương ở cung phu thê rất ngại Hóa Kị, bất kể nam mệnh hay nữ mệnh, đều chủ về sinh li tử biệt với nguyên phối; gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh, lúc đầu tình cảm sâu đậm, nhưng lâu về sau thì như nước với lửa. Nam mệnh cung phu thê là Thái Dương lạc hãm, Hóa Kị, chủ về nên sau ba mươi tuổi mới kết hôn. Nữ mệnh cung phu thê là Thái Dương lạc hãm, Hóa Kị, đến đại hạn cung phu thê có Thái Dương hội chiếu, lưu sát tinh xung chiếu, chủ về vì chồng mà rơi nước mắt, hoặc bị chồng bỏ rơi. Nữ mệnh sinh vào ban đêm thông thường cung phu thê không nên gặp Thái Dương, dù có sao cát cũng như không, hơi có sao đào hoa thì chồng thay lòng đổi dạ.

Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tam Hợp Phái

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Tam Hợp Phái