Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Tam Hợp Phái

Bài tổng quan

Tử Vi, Phá Quân Ở Sửu, Mùi Và Thiên Phủ Độc Tọa Ở Mão, Dậu

Tử Vi Nam Phái - Tam Hợp Phái17/09/202621 phút đọc6 lượt đọc
Tử Vi, Phá Quân Ở Sửu, Mùi Và Thiên Phủ Độc Tọa Ở Mão, Dậu

Nhóm Tử Vi ở Sửu hoặc Mùi gồm mười tinh hệ, mỗi tinh hệ có bản chất riêng và phản ứng khác nhau khi đến mười hai cung hạn. Tử Vi, Phá Quân ở Sửu, Mùi đối Thiên Tướng; vì dính tới bộ Sát, Phá, Tham nên rất mẫn cảm với tứ hóa. Hai sao đồng độ vốn trái nghịch mạnh, nên phải phân biệt tính ổn định hay không ổn định. Thiên Phủ độc tọa ở Mão, Dậu đối Vũ Khúc, Thất Sát là vị trí ổn định, bảo thủ nhất của Thiên Phủ, vì chỉ hai cung này không tương hội với Tử Vi. Có bách quan triều củng thì cách cục cao, đủ sức nắm sự nghiệp lớn; không có thì phải hỏi Thiên Phủ già dặn trước cục diện lớn hay chỉ cẩn thận trong cục diện nhỏ.


"Tử Vi, Phá Quân" Ở Hai Cung Sửu Hoặc Mùi

Nhóm này bao gồm 10 tinh hệ: "Tử Vi, Phá Quân", Thiên Phủ độc tọa, Thái Âm độc tọa, "Liêm Trinh, Tham Lang", Cự Môn độc tọa, Thiên Tướng độc tọa, "Thiên Đồng, Thiên Lương", "Vũ Khúc, Thất Sát", Thái Dương độc tọa, Thiên Cơ độc tọa.

Mỗi tinh hệ đều có bản chất riêng, lúc đến 12 cung hạn, giao nhau với 10 tinh hệ khác cũng có sự phân biệt phản ứng khác nhau.

"Tử Vi, Phá Quân" đồng độ ở hai cung Sửu hoặc Mùi, đối cung sẽ là Thiên Tướng, cung tam hợp là "Liêm Trinh, Tham Lang" và "Vũ Khúc, Thất Sát". Tổ hợp tinh hệ này do dính đến ba sao "Sát, Phá, Tham", là các sao có tính chất mạnh mẽ, cho nên rất mẫn cảm với "tứ hóa".

Muốn luận đoán bản chất của tinh hệ "Tử Vi, Phá Quân", cần chú ý phân biệt tính chất ổn định và không ổn định của nó.

Hai sao Tử Vi và Phá Quân đồng độ, bản thân đã có tính trái nghịch rất mạnh, không giống như Phá Quân độc tọa ở cung Dần hoặc Thân của nhóm tinh hệ thứ nhất, phân biệt tính chất phản kháng và thuận tòng.

Nhưng nhìn từ góc độ khác, tính phản kháng thực ra cũng là lực khai sáng, bởi vì trước tiên phải phá bỏ cái cũ rồi mới bắt đầu làm lại cái mới, cho nên đối với hiện thực, phản kháng thực ra cũng là khai sáng. Có điều, bất kể là phản kháng hay khai sáng, cũng đều có sự phân biệt giữa không ổn định và ổn định. Không ổn định thì liên quan đến sự thay đổi cực lớn trong các mối quan hệ giao tế. Cho nên cổ nhân có thuyết:

"Tử Vi và Phá Quân, làm tôi thần thì bất trung, làm con thì bất hiếu."

Ổn định thì có thể tránh được điều nói trên, mà còn đổi mới trong vô tình, thậm chí mặt mũi còn thành sáng sủa, phơi phới, bề ngoài dù có gặp loạn cũng không kinh hãi.

"Tử Vi, Phá Quân" gặp các sao sát, kị, hình, là có tính chất không ổn định; nếu có Tả Phụ, Hữu Bật giáp cung, hoặc hội Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Khôi, Thiên Việt, ưa nhất là có Tả Phụ, Hữu Bật hội chiếu, thì tính chất có ổn định.

Hai sao "Tử Vi, Phá Quân", Tử Vi Hóa Quyền, Phá Quân Hóa Lộc hay Hóa Quyền, về cơ bản vẫn thuộc tính không ổn định. Đến lúc Tử Vi Hóa Khoa mới bắt đầu cảm thấy ổn định, nhất là Tử Vi thuộc loại "bách quan triều củng", một khi Hóa Khoa, đương nhiên lãnh đạo quần hùng, dù có cách tân thế nào cũng đều không hao phí khí lực, do đó tính chất cũng ổn định.

Thiên Tướng ở đối cung bị "hình, kị" giáp cung, tăng mạnh tính phản kháng của "Tử Vi, Phá Quân", cho nên thuộc loại không ổn định; lúc được "tài, ấm" giáp cung, thì có thể làm yếu đi tính phản kháng của "Tử Vi, Phá Quân", bản chất cũng khá ổn định.

"Vũ Khúc, Thất Sát" đồng độ ở cung tam hợp, là các sao có tính chất nhạy bén mà còn hữu lực; nếu Vũ Khúc Hóa Lộc, Hóa Quyền, hay Hóa Khoa, khiến "Tử Vi, Phá Quân" giảm bớt sức lực khi cách tân, thì tính chất cũng khá ổn định. Nhưng nếu Vũ Khúc Hóa Kị có Kình Dương đồng độ, khiến "Tử Vi, Phá Quân" phải gánh vác nhiệm vụ nặng hơn, vì tính chất không ổn định.

Một nhóm tinh hệ khác của cung tam hợp là "Liêm Trinh, Tham Lang", đối nhau với "Vũ Khúc, Thất Sát". "Liêm Trinh, Tham Lang" gây ảnh hưởng đến tính tinh thần của "Tử Vi, Phá Quân"; "Vũ Khúc, Thất Sát" gây ảnh hưởng đến tính vật chất của "Tử Vi, Phá Quân". Nếu "Liêm Trinh, Tham Lang" Hóa Kị, khiến tinh thần của "Tử Vi, Phá Quân" trống rỗng, tính chất càng không ổn định; nhưng khi "Liêm Trinh, Tham Lang" Hóa Lộc thì "Tử Vi, Phá Quân" lại dễ có khuynh hướng nhục dục, dẫn đến rắc rối về tình cảm, tuy bề ngoài có vẻ ổn định nhưng thực ra không ổn định. Cần phải có sao cát hội hợp với "Liêm Trinh, Tham Lang", mà tính chất trung hòa, mới có thể khiến "Tử Vi, Phá Quân" ổn định.

Lúc "Tử Vi, Phá Quân" đến 12 cung hạn, cần phải gặp các tinh hệ giao nhau có tính động tĩnh thật thích hợp mới là vận tốt. Nếu tính chất không ổn định thái quá, thì sẽ lộ rõ tính phản kháng, quan hệ giao tế sẽ xấu đi, đời người cũng nhiều gian khổ; nếu "Tử Vi, Phá Quân" có tính chất không ổn định đến cung hạn quá ổn định; hay "Tử Vi, Phá Quân" có tính chất ổn định mà đến cung hạn không ổn định, là điểm ứng không thích ứng được với hoàn cảnh khách quan.

"Tử Vi, Phá Quân" của nguyên cục thuộc loại không ổn định, không ưa đến ba cung hạn "Tử Vi, Phá Quân", "Vũ Khúc, Thất Sát", và "Liêm Trinh, Tham Lang". Bởi vì ba cung này vốn đã có tính chất không ổn định, không nên làm mạnh thêm tính chất không ổn định của "Tử Vi, Phá Quân" của nguyên cục. Tính chất không ổn định cũng có phân biệt tình cảm và vật chất, cần chú ý kết cấu "Vũ Khúc, Thất Sát" và "Liêm Trinh, Tham Lang" của nguyên cục mà định. Đại khái là, thà sinh hoạt tình cảm không ổn định hơn sinh hoạt vật chất không ổn định. Nhưng nếu như hệ "Liêm Trinh, Tham Lang" có các sao đào hoa tụ tập, lại gặp các sao hư, hao, là điểm ứng nhiễm những thú vui không lành mạnh, chìm đắm trong tửu sắc, lúc này cũng có thể ảnh hưởng đến sinh hoạt vật chất.

"Tử Vi, Phá Quân" của nguyên cục có tính chất ổn định, ưa đến ba cung hạn "Tử Vi, Phá Quân", "Vũ Khúc, Thất Sát", "Liêm Trinh, Tham Lang"; ngoại trừ trường hợp phi tinh của đại hạn và lưu niên khiến tính chất của các cung hạn này biến thành không ổn định, như hóa thành sao kị, có lưu sát tinh bay tới.

Trường hợp Thiên Phủ có sao lộc, hoặc hội tinh hệ Thiên Tướng "Tài ấm giáp ấn"; Thiên Phủ chủ về ổn định, bất kể bản chất của "Tử Vi, Phá Quân" như thế nào cũng đều ưa đến cung hạn của nó. Nếu so sánh, thì "Tử Vi, Phá Quân" có tính chất ổn định đến thì tốt hơn.

Nếu Thiên Phủ là "kho lộ", "kho trống", lúc "Tử Vi, Phá Quân" có tính chất không ổn định đến cung hạn này, bất kể là lưu niên hay đại vận, đều chủ về thất bại, nguyên nhân là do không giữ sự nghiệp đang có, mà vọng động cải cách. Lúc "Tử Vi, Phá Quân" có tính chất ổn định đến cung hạn này, thì chỉ xảy ra tình hình túng thiếu, chớ không đến nỗi thất bại.

Thái Âm độc tọa, bất kể miếu hay hãm đều có tính chất không ổn định, có điều Thái Âm nhập miếu ở cung Tuất thì tốt hơn ở cung Thìn. Cả hai trường hợp đều lấy trường hợp được Lộc, Quyền, Khoa là ổn định; còn bị Hóa Kị mà gặp sát tinh là không ổn định. Nếu có đủ cát hóa và sát tinh, "Tử Vi, Phá Quân" có tính chất ổn định rất nên gặp nó, chủ về vì hoàn cảnh mà xảy ra thay đổi, thoát khỏi cảnh khốn khó. "Tử Vi, Phá Quân" có tính chất không ổn định, gặp Thái Âm Hóa Lộc thì rất thích hợp, ban đầu sẽ cảm thấy khó khăn, nhưng cuối cùng có thể phát triển mang tính đột phá.

Cự Môn độc tọa gặp sát tinh, là có lực kích phát đối với "Tử Vi, Phá Quân" thuộc tính chất ổn định; không gặp sát tinh mà còn được cát hóa, có thể nhờ vào tính chất không ổn định của "Tử Vi, Phá Quân" mà thay đổi theo hướng đắc lợi. Nếu Cự Môn hóa làm sao kị, thì "Tử Vi, Phá Quân" có bản chất nào cũng đều không nên, dễ xảy ra rối loạn ("Liêm Trinh, Tham Lang" của nguyên cục không cát tường sẽ khiến tình cảm rối bời; "Vũ Khúc, Thất Sát" không cát tường thì xảy ra xung đột lợi ích.)

"Tử Vi, Phá Quân" không ưa đến cung hạn "Thiên Đồng, Thiên Lương", bởi vì cung hạn này ắt sẽ mang lại cảnh khốn khó, sau khi khắc phục được mới có thu hoạch. Nhưng đời người ngắn ngủi, hà tất phải gây nên cảnh khốn khó, cho nên khi đến cung hạn này nên yên tĩnh để phòng thủ là tốt nhất.

Thái Dương cũng có tính chất không ổn định, chỉ lúc Hóa Lộc, Hóa Quyền, được "Tử Vi, Phá Quân" có tính chất ổn định khiến mệnh tạo động hay tĩnh đều thích đáng; Hóa Khoa thì lợi cho "Tử Vi, Phá Quân" có tính chất không ổn định, khiến tăng danh vọng, có thể thay đổi với biên độ lớn hơn. Lúc hóa làm sao kị, "Tử Vi, Phá Quân" động tĩnh đều dễ phạm sai lầm, nhất là nữ mệnh, chủ về gặp trắc trở lớn về tình cảm.

Thiên Cơ được cát hóa, thích hợp với "Tử Vi, Phá Quân" có tính chất ổn định; Thiên Cơ không được cát hóa, gặp cát tinh, thì thích hợp với "Tử Vi, Phá Quân" có tính chất không ổn định. Trường hợp trước là sản sinh nguồn động lực để phát huy những trải nghiệm, trường hợp sau có thể được người giúp sức lúc thay đổi. Nếu Thiên Cơ hóa làm sao kị, "Tử Vi, Phá Quân" có tính chất không ổn định thì càng thay đổi càng khốn khổ.

Xin cử một ví dụ thực tế để thuyết minh tình hình "Tử Vi, Phá Quân" ở cung tử nữ.

Thái Âm tọa mệnh ở cung Tuất, "Tử Vi, Phá Quân" thủ cung tử nữ ở Mùi. Người sinh năm Đinh, Kình Dương đồng độ với "Tử Vi, Phá Quân", gây ảnh hưởng khiến "Tử Vi, Phá Quân" có tính chất ổn định.

Đến đại vận Quý Mão, "Vũ Khúc, Thất Sát" thủ mệnh, Cự Môn thủ cung tử nữ ở cung Tí, Cự Môn của nguyên cục Hóa Kị, bị Kình Dương và Đà La của vận hạn giáp cung, còn Cự Môn Hóa Kị lại hóa làm sao quyền.

Trong hạn Quý Mão, "Vũ Khúc, Thất Sát" của cung mệnh hội hợp với "Liêm Trinh, Tham Lang" Hóa Kị, là điểm ứng xảy ra những khiếm khuyết đáng tiếc trong đời sống tinh thần, thêm vào tính chất của cung tử nữ, vì vậy đến vãn niên tài sản bị con cái chiếm đoạt, mà không phụng dưỡng mệnh tạo. May mà có "Tử Vi, Phá Quân" Hóa Lộc hội chiếu cung mệnh, cho nên lúc trung niên hùn vốn với bạn bè mở một công xưởng nhỏ để sống.

Nếu cung tử nữ của nguyên cục không phải là "Tử Vi, Phá Quân" có kèm Kình Dương, thì Cự Môn tuy Hóa Quyền xung Hóa Kị, cũng không đến nỗi có con bất hiếu.

Thiên Phủ Độc Tọa Ở Hai Cung Mão Hoặc Dậu

Thiên Phủ độc tọa Mão Dậu, đối nhau với "Vũ Khúc, Thất Sát", cung tam hợp là Thiên Tướng độc tọa, và "Liêm Trinh, Tham Lang" mượn sao an cung.

Thiên Phủ trong 12 cung, lúc độc tọa ở hai cung Mão hoặc Dậu là ổn định, bảo thủ nhất. Bởi vì trong 12 cung, chỉ có hai cung này không tương hội với Tử Vi ở "tam phương tứ chính". Không bị Tử Vi quấy nhiễu, tính cách bảo thủ của Thiên Phủ hoàn chỉnh hơn.

Do đó, muốn luận đoán bản chất của Thiên Phủ ở hai cung này cần phải chú ý tính ổn định, bảo thủ của nó, xem nó thuộc loại già dặn vững vàng ở cục diện lớn, hay chỉ là xử sự cẩn thận ở cục diện nhỏ.

Thiên Phủ ở 12 cung, lúc ở bốn cung Tị, Hợi, Mão, Dậu rất ưa "bách quan triều củng". Ở hai cung Mão hoặc Dậu, nếu Thiên Phủ được "bách quan triều củng", thì cách cục cao, cục diện lớn, về cơ bản thuộc loại vững vàng có thể nắm giữ sự nghiệp lớn. Nếu không có "bách quan triều củng", Thiên Phủ cô lập, dù được một hai sao cát hội hợp, bất quá cũng chỉ cẩn thận kinh doanh ở cục diện nhỏ. Nếu không có sao cát, mà gặp các sao sát, kị, Thiên Phủ lại không có sao lộc, thì chủ về là người bủn xỉn, keo kiệt, tham lam, ti tiện, thậm chí còn gian xảo.

Thiên Phủ có sao lộc, vẫn chưa phải là người vững vàng ở cục diện lớn, cần phải có tính chất tốt lành của Thiên Tướng ở cung sự nghiệp, như là "Tài ấm giáp ấn", hoặc Văn Xương và Văn Khúc đồng thời tụ tập trong cùng một cung; hoặc Tả Phụ và Hữu Bật đồng thời tụ tập trong cùng một cung, mới khiến cho cục diện của Thiên Phủ thuộc loại lớn lao.

Nếu chỉ có sao lộc, nhất là Thiên Phủ đồng cung với Lộc Tồn, bất quá chỉ là xử sự cẩn thận mà thôi.

Thiên Phủ đồng độ với Lộc Tồn, đã có Kình Dương và Đà La giáp cung, nếu lại hội chiếu hai sao Hỏa Tinh, Linh Tinh, là "kho lộ", chủ về là người gian trá; dù đồng thời hội tụ với sao cát, cũng chủ về ưa chiếm lợi ích nhỏ của người khác.

Nếu Thiên Tướng ở cung tam hợp là "Hình kị giáp ấn", hoặc có tứ sát tinh và các sao hình, kị hội hợp, hoặc Hỏa Tinh, Linh Tinh giáp ấn, thì dù bản thân Thiên Phủ hội hợp với các sao cát, cục diện cũng nhỏ, chỉ biểu hiện "rất cẩn thận".

"Liêm Trinh, Tham Lang" ở cung tam hợp, không ưa có kèm sao lộc, cũng không ưa có kèm các sao đào hoa; nếu có sẽ tước bớt quyền lực của Thiên Phủ, khiến cục diện trở thành nhỏ. Vì vậy nếu "Liêm Trinh, Tham Lang" có kèm sao lộc đồng thời có kèm cả sát tinh đến hội, bản chất của Thiên Phủ chỉ là "cẩn thận" mà thôi; cần phải "Liêm Trinh, Tham Lang" hóa làm sao quyền, không kèm sát tinh, và còn không có Văn Xương và Văn Khúc đồng độ, mới không ảnh hưởng đến cục diện của Thiên Phủ.

"Vũ Khúc, Thất Sát" đối nhau với Thiên Phủ, rất ưa đồng độ với Lộc Tồn, hoặc Vũ Khúc Hóa Lộc, thì cục diện sẽ to lớn mà Thiên Phủ còn già dặn vững vàng. Vũ Khúc Hóa Kị, thì bản chất của Thiên Phủ giỏi lắm cũng chỉ là "cẩn thận ở cục diện nhỏ" mà thôi.

Bất kể Thiên Phủ thuộc tính chất nào, khi đến 12 cung, đều ưa "Tử Vi, Phá Quân" thuộc tính chất ổn định. Đặc biệt là, nếu đến cung hạn đại vận 10 năm, có thể sẽ làm sự nghiệp có chuyển biến, mà không cần phải trải qua gió to sóng lớn, tức có tiến bộ một bước dài.

Nếu cung hạn "Tử Vi, Phá Quân" thuộc tính chất không ổn định, thì không thích hợp với Thiên Phủ thuộc loại "cẩn thận ở cục diện nhỏ". Nếu Thiên Phủ thuộc loại vững vàng thì tuy trải qua sóng gió, nhưng cuối cùng nhờ ứng phó thích đáng (gặp Tả Phụ, Hữu Bật), hoặc cơ duyên khéo trùng hợp (gặp Thiên Khôi, Thiên Việt), mà thành tựu đại cục.

Thiên Phủ có kèm tính chất gian xảo, đến cung hạn "Tử Vi, Phá Quân", ắt cuộc đời và sự nghiệp sẽ nhiều chìm nổi, hoặc cục diện tuy lớn nhưng bên trong trống rỗng.

Thiên Phủ ưa đến vận Thái Âm, hợp hơn so với vận Thái Dương hơi không có thực chất, trống rỗng. Vì Thiên Phủ là kho tiền, Thái Âm là sao tiền tài, hai bên có khí cơ hợp nhau.

Thái Âm nhập miếu, đối với Thiên Phủ thuộc loại vững vàng hay thuộc loại cẩn thận đều có lợi. Thái Âm Hóa Lộc hay Hóa Quyền thì càng đẹp, ít nhất trong vận hạn cũng có thể nắm giữ quyền tài chính. Có điều cục diện lớn thì Thái Âm nên Hóa Khoa, cục diện nhỏ mà đến vận hạn Thái Âm Hóa Khoa thì hơi có sát tinh xung hội, dễ bị dụ dỗ đầu tư sai lầm gây ra tổn thất. Nếu Thái Âm Hóa Kị, lại gặp sát tinh đồng độ, bất kể Thiên Phủ thuộc tính chất nào cũng đều không nên đầu tư vào hạng mục mới, sự nghiệp đang có cũng không nên khuếch trương, nếu không ắt sẽ bị tổn thất.

Thái Âm lạc hãm dù hội cát tinh, cũng chỉ thuộc vận hạn nên phòng thủ. Nếu Thiên Phủ là "kho trống", "kho lộ", mà đến niên vận Thái Âm lạc hãm còn Hóa Kị, sẽ chủ về khuynh gia phá sản, nạn tai, bệnh tật; nếu lại gặp các sao sát, hình, thì chủ về phạm pháp, kiện tụng, bất hòa, tranh chấp.

Thiên Phủ đến cung hạn Thái Dương nhập miếu, nếu không có Hóa Lộc hoặc không hội Lộc Tồn, thì không có "danh" mà cũng không có "thực". Phải gặp sao lộc mới chủ về phú quý. Thái Dương lạc hãm, cục diện nhỏ thì không sao. Nếu cục diện lớn, dù gặp Thái Dương Hóa Lộc cũng phải để phòng thu không đủ chi, bởi vì thu vào càng lớn, sự nghiệp cục diện càng lớn, thì việc chi ra cũng sẽ theo đó mà tăng lên, có khi ngoài dự liệu.

Thái Dương Hóa Kị, gặp các sao sát, hình, chủ về bất hòa, tranh chấp, điều tiếng, phạm pháp. (Lúc đến đại vận "Thiên Đồng, Thiên Lương", Thái Dương Hóa Kị ở cung mệnh của lưu niên, gặp sao hình, Kình Dương, ắt chủ về kiện tụng.) Nếu Thiên Phủ có bản chất không lành mà gặp vận hạn này, tất sẽ bị uy hiếp, thậm chí phải trốn tránh.

"Liêm Trinh, Tham Lang" Hóa Lộc hay Hóa Kị, đều khiến Thiên Phủ có ý muốn thay đổi, có thể biến thành nội tâm trống rỗng, tinh thần bị quấy nhiễu, gây khó khăn, nhưng bề ngoài vẫn có vẻ tươi tắn. Lúc Tham Lang Hóa Kị, Thiên Phủ thuộc loại "kho trống", "kho lộ" cần phải giới tham, vì tham sẽ dẫn đến thất bại. Nếu có các sao đào hoa tụ tập đủ, bất kể xử sự cẩn thận thế nào, cũng chủ về vì sắc mà gây họa.

Đến vận hạn "Vũ Khúc, Thất Sát" thì Thiên Phủ nên thuộc loại cục diện lớn, không nên thuộc loại cục diện nhỏ. Thiên Phủ thuộc cục diện nhỏ dù chỉ hơi có kèm sát tinh, vẫn cảm thấy vất vả mà không được gì, không bằng tình huống lúc chưa thay đổi.

Vận "Thiên Đồng, Thiên Lương", bất kể là được cát hóa hay Hóa Kị, đối với người Thiên Phủ tọa mệnh ở hai cung Mão hoặc Dậu, thường thường cũng sẽ là vận trình có tính thay đổi. Hơn nữa, tính thay đổi sẽ theo hướng xấu, làm cho mọi việc rối bời. Chỉ có ở đại vận "Tử Vi, Phá Quân" thủ mệnh, hoặc lúc Cự Môn Hóa Lộc hay Hóa Quyền thủ mệnh, Thiên Phủ thủ cung mệnh của nguyên cục đến lưu niên "Thiên Đồng, Thiên Lương" thủ mệnh, lại gặp cát tinh hội hợp, mới thành vận trình phát triển có tính căn bản, có thể kiến lập cơ sở cho sự nghiệp. Đối với Thiên Phủ thuộc loại cẩn thận trong cục diện nhỏ, tính chất càng như vậy.

Thiên Cơ ở cung mệnh của vận hạn, nếu có Thiên Mã xung hội, lại không có Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên Khôi, Thiên Việt hội hợp, hoặc lại gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh đồng độ hay xung hội, đối với Thiên Phủ mà nói, đây là vận trình cực kì không ổn định. Trong vận hạn, hễ có kế hoạch mới đều nên cẩn thận. Dù Thiên Cơ Hóa Lộc, cũng không "tụ tài", nếu Thiên Cơ lại hóa làm sao kị, tất sẽ sinh thị phi, oán trách. Lúc này chỉ nên xử sự bình tĩnh, không làm bất cứ việc gì để thanh minh, nếu không, phiền phức sẽ như ong vỡ tổ bay đến. Nhất là lúc Thiên Phủ thuộc loại "kho trống", "kho lộ", nếu hơi dùng cơ tâm để cầu danh lợi, sẽ thân bại danh liệt.

Vận hạn Cự Môn, không những gặp Kình Dương, mà còn hội Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa cũng không cát lợi. Bởi kết cấu "Thạch trung ẩn ngọc", cũng rất kị Thiên Phủ đến cung hạn này, có thể vì sợ áp lực cạnh tranh mà thành thờ ơ, tiêu cực. Trừ phi Cự Môn ở cung mệnh của đại vận, mà lưu niên gặp Thất Sát, Phá Quân, hay Tham Lang, hơn nữa còn được cát hóa, mới chủ về có tiến bộ một bước dài.

Đến đây xin cử một ví dụ thực tế để thuyết minh tình huống Thiên Phủ ở "cung sự nghiệp".

Cung mệnh ở cung Hợi, mượn "Liêm Trinh, Tham Lang" của cung Tị để an sao. Người sinh năm Nhâm, Thiên Phủ độc tọa thủ cung sự nghiệp ở Mão. Thiên Phủ Hóa Khoa, hội Lộc Tồn ở cung Hợi, có Thiên Khôi đồng độ, mượn hội Thiên Việt của cung Tị, cho nên được song tinh Thiên Khôi, Thiên Việt hội chiếu. Tả Phụ, Hữu Bật đồng thời ở cung Mùi, đồng độ với Thiên Tướng, cùng hội chiếu Thiên Phủ.

Tinh hệ có kết cấu kiểu này, cho thấy Thiên Phủ ở cung sự nghiệp có cách cục khá lớn, nhất là cung Thiên Tướng có kết cấu ưu, rất có trợ lực. Chỉ đáng tiếc, "Vũ Khúc, Thất Sát" ở đối cung, mà Vũ Khúc lại Hóa Kị, sự nghiệp tuy lớn, nhưng tài chính vẫn phải xoay sở, chẳng dư giả.

Mệnh cục loại này, nếu chọn chính sách bảo thủ, thì nhờ cung mệnh có Lộc Tồn tạm gọi là sung túc, lúc xoay sở tiền mặt cũng không xảy ra vấn đề gì, bởi vì Thiên Phủ Hóa Khoa ở cung sự nghiệp lại gặp sao lộc, về phương diện ngân hàng tất phải tốt.

Nhưng đến đại vận Đinh Mùi, Thiên Tướng ở cung mệnh của đại vận đã thành cục "Hình kị giáp ấn", hơn nữa, đại vận và lưu niên ở cùng cung độ, chủ về chịu áp lực; cung sự nghiệp của đại vận ở Hợi, tức là cung mệnh của nguyên cục, cũng bị Kình Dương và Đà La của nguyên cục giáp cung, hơn nữa còn bị Lưu Dương và Lưu Đà của đại vận hội chiếu, nếu không thuộc loại vững vàng, sẽ dễ xảy ra sự cố trong vận hạn.

Năm Tân Dậu, cung mệnh của lưu niên có Vũ Khúc Hóa Kị, bị Kình Dương, Đà La của lưu niên giáp cung; "Tử Vi, Phá Quân" ở cung sự nghiệp của lưu niên có "Vũ Khúc, Thất Sát" và Thiên Tướng xung hội, đều có những khiếm khuyết đáng tiếc. Một là Kình Dương và Đà La giáp cung, hai là hình kị giáp cung. Năm đó mệnh tạo đột nhiên dời trọng điểm đầu tư (đây là sức mạnh của "Tử Vi, Phá Quân" Hóa Lộc, lại gặp Tả Phụ, Hữu Bật), kết quả bị tổn thất lớn, cơ sở sự nghiệp tuy chưa lung lay, nhưng về sau xoay chuyển tiền mặt gặp nhiều khó khăn.

Thiên Phủ ở cung sự nghiệp của nguyên cục, nếu không hội Vũ Khúc Hóa Kị, thì trong vận hạn này sự nghiệp không đến nỗi có biến động. Nhưng cũng may, cung sự nghiệp của lưu niên đến hạn "Tử Vi, Phá Quân", lại có Tả Phụ, Hữu Bật, hơn nữa còn gặp Lộc Tồn, cho nên lúc không ổn định đã ứng phó thích đáng, không đến nỗi thất bại.


Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tam Hợp Phái

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Tam Hợp Phái