Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bát Tự Hà Lạc

Bài tổng quan

Mười thần vượng suy ứng vào cha mẹ, vợ chồng, con cái

Bói Dịch - Bát Tự Hà Lạc01/10/202618 phút đọc4 lượt đọc
Mười thần vượng suy ứng vào cha mẹ, vợ chồng, con cái

Người có chính quan ở trụ năm thuở nhỏ đã có ý chí học hành, còn người có thiên ấn ở trụ giờ lại khó nuôi dạy con. Cùng một thần, đứng ở trụ nào thì báo một chuyện khác về cha mẹ, vợ chồng hay con cái. Vậy khi thần ấy vượng hay suy, đời người sẽ rẽ ra sao…


Chính quan: sao của người biết tự ràng buộc mình

Chính quan là quan tinh khắc nhật chủ. Chữ "chính" nghĩa là quang minh chính đại, chữ "quan" nghĩa là quản, tức tự ràng buộc mình để làm điều tốt. Chính quan thấu ra mà không có thiên quan lẫn vào thì gọi là thanh cao, tinh túy. Khi ấy nếu thân vượng thì rất tốt.

Nhưng quan quá nhiều thì sự khắc chế quá nhiều, sức trói buộc mạnh quá, người ta thành nhu nhược, không có năng lực. Quan nhiều còn là quan lẫn sát, chủ về cuộc sống gia đình không đầy đủ, đường học vấn nhiều trắc trở. Nếu không có ấn kiêu hóa giải hoặc cứu giúp, nghĩa là quan sinh ấn, khí của quan xì sang ấn, ấn lại sinh thân, thì càng có hại. Chính quan sợ nhất là gặp thương quan, họa bất ngờ trăm đường ập đến, dù cũng có trường hợp quan nhiều lại mừng gặp thương quan, nhưng đó là chuyện khác.

Chính quan theo lệnh tháng

Quan tinh gặp lệnh tháng ở các cung trường sinh, mộc dục, quan đới, lâm quan, đế vượng, lại không bị hình xung phá hại thì cấp bậc quan cao, rất hợp với người làm công chức. Quan tinh gặp lệnh tháng ở suy, bệnh, tử, mộ, tuyệt thì rất kém; gặp tháng thai, dưỡng thì còn đỡ hơn một chút. Người làm công chức không nên gặp thế này.

Chính quan ở bốn trụ

Trụ năm. Người có chính quan ở trụ năm được nhờ âm đức tổ tiên lớn. Trụ năm chỉ thuở nhỏ, nên lúc còn bé đã có ý chí, đường học hành tốt, tức nhân tố tiên thiên tốt. Tuy vậy còn phải phối hợp với sức cố gắng và các vận trình về sau để phán đoán tổng hợp. Nếu bẩm sinh có khả năng học tập mà vận khí không tốt thì đường học hành thi cử vẫn trắc trở, thường đến tuổi trung niên, thậm chí tuổi cao mới có cơ hội đỗ đạt, thành đạt. Nếu cả can lẫn chi của trụ năm đều là chính quan, không bị hợp mất, không gặp kị, thì người ấy sinh ra trong gia đình khá giả, chẳng hạn gia đình quan chức hay có địa vị trong vùng, đồng thời bản thân cũng có công danh địa vị.

Trụ tháng. Can tháng hoặc chi tháng mừng có quan tinh xuất hiện: đó là người con út được cha mẹ nuông chiều, đời không khó nhọc. Họ chính trực, có tinh thần trách nhiệm với người khác, trọng chữ tín nghĩa, học hành công danh có thành tích. Trụ tháng có cung phụ mẫu, nên người ấy có anh chị em, và những người đó có công danh phúc lộc.

Trụ ngày. Quan tinh đóng ở trụ ngày chủ về thông minh, mưu lược, biết ứng biến. Thân vượng mà gặp tài vận thì phát đại phúc. Với nam, địa chi của trụ ngày là vợ, gặp hỉ quan thì tốt, vợ đoan trang hiền hậu, nội trợ giỏi. Với nữ, trụ ngày có hỉ quan là gặp chồng phú quý.

Trụ giờ. Can giờ là con trai, chi giờ là con gái. Trụ giờ có chính quan chủ về con cái hiếu thảo, bản thân cuối đời hưởng hạnh phúc. Hỉ quan ở đây là thân và quan tinh ngang sức nhau, không đến nỗi bị khắc hay áp chế, thân thắng được quan, quan là lộc nên thân có công danh thành đạt. Phải làm rõ đâu là hỉ, đâu là kị trước, nếu không sẽ "râu ông nọ cắm cằm bà kia", rất dễ đoán sai.

Thiên quan: quyền uy chỉ bền khi có chế

Chữ "thiên" nghĩa là không chính thống, chữ "quan" nghĩa là quản. Trong mệnh cục mà thực thần hay thương quan chế khắc thì gọi là thiên quan, không có chế thì gọi là thất sát. Để xếp lá số cho rõ, thông thường có chế hay không có chế đều tính là sát. Đã có thiên quan thì không gặp chính quan.

Người có thực thần, thương quan chế ngự thì túc trí đa mưu, có quyền uy. Thực thần chế sát, thương quan khắc sát, hợp sát đều không nên nhiều, vì nhiều thì không còn là quý mà thành thấp hèn. Vậy nên Tứ trụ có thất sát thì chỉ khi thân và sát ngang sức nhau lại có chế mới tốt. Thân vượng, sát nhược, tài tinh vượng là mệnh tốt. Ngược lại thân nhược, sát vượng, lại gặp tài tinh thì nghèo đói, nhiều tai ách, nặng hơn có thể gặp họa mất mạng.

Đã có thiên quan thì không nên có chính quan, nếu không sẽ thành quan sát hỗn tạp, dễ vướng họa lao tù hoặc kiện tụng, nghịch nhiều thuận ít, mọi việc khó thành hoặc biến thành kẻ tiểu nhân. Cách tốt nhất là thực thần, thương quan chế được, hoặc hợp mất một quan, hoặc gặp một sát để bớt điều xấu. Thân nhược sát vượng thì phải dựa vào ấn để hóa giải. Nếu thân và sát ngang sức, sát ấn tương sinh thì công danh hiển đạt, sự nghiệp phát triển, văn võ song toàn, quyền uy nổi tiếng. Có sát mà không có ấn thì có lực mà không oai phong, trung hậu đa tình, ít vui. Sát hoặc quan nhiều quá, khắc cả trụ ngày thì không tốt, tính cách nhu nhược, không có năng lực, kém cỏi ít nói mà lại dễ manh động.

Thiên quan gặp trường sinh, mộc dục, quan đới, lâm quan, đế vượng thì vinh hoa phú quý. Thiên quan gặp tử, mộ, tuyệt thì đường học hành trắc trở, quan lộc tổn thất.

Thiên quan ở bốn trụ

Trụ năm. Con đầu nếu không phải là trai thì trên cũng đã có anh hoặc chị, xuất thân gia đình nghèo đói. Nếu thiên quan ở trụ năm có chế thì người ấy nổi tiếng về võ chức. Thân nhược mà không có chế thì xuất thân gia đình nghèo đói.

Trụ tháng. Can năm và can giờ có thực thần, thương quan để chế ngự thì mệnh ấy quý.

Chi ngày. Người ấy phần nhiều lấy được vợ hoặc chồng cương nghị, quật cường, có tiết tháo. Nếu không có thực thần chế ngự thì vợ chồng không hòa thuận; gặp xung thì phần nhiều gặp tai họa hoặc bệnh tật. Khi có thực thần chế ngự, hoặc gặp hợp để biến khác đi thì tức là đã có sự hóa giải.

Trụ giờ. Thiên quan ở trụ giờ là kị thần, phần nhiều con cái không hiếu thảo. Trong Tứ trụ có chế ngự thì lại sinh được con cái phú quý. Nếu can giờ chế được thiên quan, nhật nguyên lại vượng, có tài tinh, ấn tinh và không bị xung thì là mệnh đại phú quý, phần nhiều làm quan cấp tướng trấn ải biên cương, hoặc là người uy danh vang khắp xa gần.

Chính ấn: sao của học thuật và người mẹ hiền

Ấn nghĩa là con dấu, đại diện cho quyền lợi, địa vị, sự nghiệp, học vị. Chính ấn là sao thuộc về học thuật. Khi trụ ngày yếu, quan sát vượng thì mừng gặp chính ấn để rút bớt sức quan và sinh phù cho thân đang yếu.

Trụ ngày đã vượng mà ấn còn nhiều, lại không bị chế, thì đã đi quá cực đỉnh, thành mệnh cô hàn hình khắc. Chính ấn quá vượng khiến người ta biển lận, ít con cái, phải gặp tài tinh mới có con.

Chính ấn theo vòng trường sinh

Chính ấn lâm trường sinh chủ về mẹ đoan chính, nhân từ, trường thọ. Lâm mộc dục chỉ nghề nghiệp của người ấy nhiều biến đổi. Lâm quan đới là người xuất thân gia đình có danh tiếng, đời hiển đạt. Chính ấn vượng ở lâm quan là cuộc sống yên ổn, có mẹ hiền. Chính ấn lâm đế vượng là người có thể đứng đầu một vùng. Chính ấn lâm suy là cuộc đời bình thường, gia phong có nề nếp. Chính ấn lâm bệnh, tử, mộ, tuyệt chủ về tình mẹ đạm bạc hoặc xuất thân gia đình tầm thường.

Chính ấn ở bốn trụ

Trụ năm. Nếu trong Tứ trụ gặp hỉ ấn thì người ấy sinh ra trong gia đình phú quý, đường học hành tốt.

Trụ tháng. Người ấy nhân từ, hiền hậu, thông minh, khỏe mạnh, cả đời ít bệnh, an toàn. Trong Tứ trụ có thiên quan hay chính quan để sinh ấn thì là người phúc hậu. Tứ trụ không có thiên tài thì ấn không bị khắc, đường khoa cử thành công. Còn nếu chi tháng có chính ấn mà chi ngày xung thì gia đình cha mẹ sa cơ, suy bại.

Chi ngày. Lấy được vợ hoặc chồng nhân hậu, hiền từ, thông minh, đôn hậu. Trong mệnh có hỉ ấn thì được vợ hoặc chồng trợ giúp đắc lực.

Trụ giờ. Đó là hỉ ấn, chủ về con cái nhân từ, thông minh, hiếu thảo.

Thiên ấn: tay nghề lắm nhưng ít gần mẹ

Chữ "thiên" là không chính hoặc không chính thống. Thiên ấn gặp thực thần thì thành kiêu thần đoạt thực, gọi tắt là kiêu. Mệnh có thiên ấn thì phù trợ được cho thân nhược, nhưng gặp thực thần lại là mệnh lao dịch vất vả. Thân vượng thì lấy thực thần để xì hơi. Trong mệnh có cả kiêu thần lẫn thương quan cũng chấp nhận được. Thiên ấn quá nhiều mà không có cách giải thì là người phụ bạc, bất hạnh, tật bệnh, hoặc con cái khó khăn. Duy chỉ thiên tài mới giải được những tai ách ấy.

Chính ấn và thiên ấn cùng xuất hiện thì người ấy có nhiều nghề. Trong Tứ trụ, thân vượng mà còn có kiêu thần cùng tài quan, ắt là người phú quý. Mệnh có thiên ấn mà lại gặp quan sát hỗn tạp thì thắng lợi nhiều mà thất bại cũng lắm.

Thiên ấn theo vòng trường sinh

Thiên ấn lâm trường sinh là người ít gắn bó với mẹ đẻ. Lâm mộc dục là người nhiều nghề nhưng tiền của bị mẹ kế tiêu hết. Lâm quan đới, đế vượng là người ít gắn bó với mẹ đẻ nhưng lại thành đạt trong nghề phụ. Thiên ấn lâm suy, bệnh, tử, tuyệt là người bôn tẩu bốn phương để kiếm sống, ít gắn bó với cha mẹ. Lâm mộ là người đầu voi đuôi chuột, làm việc có đầu không có đuôi. Lâm thai là người mới ra đời đã xa mẹ.

Thiên ấn ở bốn trụ

Trụ năm. Là kị thần phá bại tổ nghiệp, làm mất thanh danh gia đình, thiếu nề nếp gia giáo.

Trụ tháng. Thích hợp phát triển các nghề y học, nghệ thuật, diễn xuất, nghề tự do, nghề dịch vụ. Nếu trên trụ tháng cùng có thiên đức, nguyệt đức thì mệnh tốt, tính nết ôn hòa.

Chi ngày. Khi là kị thần thì nam không lấy được vợ tốt, nữ không lấy được chồng tốt.

Trụ giờ. Khi là kị thần thì không lợi cho con cái, con khó thành tài, khó nuôi dạy.

Ngang vai: người đứng cạnh mình, giúp mà cũng tranh

Ngang vai là ngang với tôi, giúp tôi, gọi tắt là tỉ. Khi trụ ngày suy nhược, nó đỡ cho thân. Nhưng nếu Tứ trụ có nhiều ngang vai mà không có gì chế ngự thì được cái tay chân, cấp dưới hòa thuận, kèm theo đó là kết hôn muộn, tính tình thô bạo, không hòa hợp với cộng đồng, cứng nhắc cố chấp, khắc cha, khắc người phối hôn, làm nhiều mà không gặp của, lòng nhiều đố kị.

Can ngày nhược thì mừng có ngang vai trợ giúp. Tài quan nhiều mà nhờ ngang vai giúp thân thì khỏi bị mất của. Can ngày vượng mà trong trụ lại có ngang vai thì mừng gặp quan sát, thực thương hoặc tài tinh để bớt sự hao tán, xì hơi; không có quan tinh thì ít con cái. Ngang vai lâm vượng địa thì anh chị em đông, hiếu thắng, không cúi đầu trước cấp trên, nhưng không lợi cho hôn nhân và cho cha. Ngang vai lâm tử, mộ, tuyệt thì tuy có anh em nhưng sớm sống xa nhau.

Ngang vai ở bốn trụ

Trụ năm. Có anh chị em hoặc là con nuôi, có xu hướng sống độc lập, nhà nghèo, vất vả từ bé.

Trụ tháng. Cũng có anh chị em hoặc là con nuôi, sống độc lập, muốn nắm của cải hoặc có tính lý tài.

Chi ngày. Hôn nhân dễ thay đổi, kết hôn muộn hoặc tái hôn. Khắc người phối hôn, hay cãi cọ lắm lời. Người gặp xung thì không lợi cho vợ hoặc chồng, không lợi cho việc đi xa, dễ chết nơi đất khách quê người.

Trụ giờ. Là con nuôi, ít con cái.

Kiếp tài: kẻ đuổi con ngựa của cải

Tài ví như con ngựa, kiếp tài tức là cái khắc tài, nên gọi là kẻ đuổi thần mã, hoặc là bại tài, gọi tắt là kiếp.

Tứ trụ có kiếp tài quá nhiều thì nam khắc vợ, cướp thê tài, vợ lắm bệnh; nữ thì mất chồng, tranh chồng hoặc hao tổn tài, khó có của. Anh em không hòa thuận, chuốc lấy sự phản bội và phỉ báng. Tính tình sống sượng, ngoan cố, không phân biệt phải trái, thường chuốc lấy sự căm ghét và đối địch. Can chi đi cùng hành là tỉ kiếp, khắc cha, khắc người phối hôn. Kiếp tài và thiên tài cùng đứng một trụ thì không lợi cho cha, phải tái hôn. Mệnh vốn mừng tài mà bị kiếp tài khắc phá thì thành bại tài, tổn thất vợ, đói khó. Mệnh vốn mừng kiếp mà bị quan đến phá thì con cái phần nhiều ngỗ ngược, hoặc dễ gặp tai ách. Vượng suy của kiếp tài chủ về những việc giống ngang vai.

Kiếp tài ở bốn trụ

Trụ năm. Có anh em trai, là người hám tài, coi nhẹ nghĩa khí, hôn nhân hay thay đổi, hoặc có cấp dưới khác bụng.

Trụ tháng. Khó có của, ham cờ bạc, đầu cơ, tự trọng cao, ham trang điểm bề ngoài, hay bất bình, hay mắng người.

Chi ngày. Hôn nhân chậm, hay thay đổi hoặc tái hôn; với nam là đoạt thê tài.

Trụ giờ. Đường con cái khó khăn, thường bị thương quan làm tổn hại con cái.

Thực thần: sao phúc thọ và cái lộc ăn uống

Thực thần có tên là tước tinh, còn gọi là thọ tinh, gọi tắt là thực. Tác dụng của nó là xì hơi cho thân, sinh tài, áp chế quan sát. Thực thần đóng ở nơi chính quan của trụ ngày thì phú quý.

Can chi đều có thực thần thì phúc lộc dồi dào, nhưng không hợp với công chức mà hợp với người làm việc công cộng. Mệnh nữ có thực thần thì hay khinh chồng. Thực nhiều là thương tổn, dễ tổn thương con cái, khắc chồng. Tứ trụ thực thần nhiều thì nghèo khó, thân thể yếu, nữ thì sa cơ phong trần, chỉ có thiên ấn mới cứu giải được. Thực nhiều mà thiên quan ít thì không có con. Thực và sát cùng một trụ là người có dịp nắm quyền bính nhưng dễ vất vả lao khổ, tai ách và ít con.

Can có thực thần mà chỉ thấy ngang vai là chủ về có thân thích, bạn hữu hoặc tay chân giúp đỡ. Can là thực thần mà chỉ có kiếp tài là người phúc đức giàu có, gặp điều xấu vẫn có lợi. Thực thần mà có cả kiếp tài, thiên ấn đi kèm thì đoản thọ.

Thực thần lâm trường sinh, vượng địa hoặc gặp cát thần thì phúc lộc nhiều, phần nhiều là người phúc lộc thọ toàn diện. Thực thần lâm tử, tuyệt, bệnh, bại thì phúc ít, bạc mệnh. Thực thần lâm mộ là người chết yểu.

Thực thần ở bốn trụ

Trụ năm. Được âm phúc tổ tiên, sự nghiệp phát triển, cuộc sống yên ổn, phúc lộc.

Trụ tháng. Can tháng là thực, chi tháng là quan thì người ấy phát đạt, làm công chức càng tốt. Chi tháng là thực thần thì thân hình béo khỏe, tính ôn hòa.

Chi ngày. Lấy được vợ hoặc chồng to béo, tính nết ôn hòa, cuộc sống đầy đủ.

Trụ giờ. Cuối đời có phúc. Nhưng thực thần và thiên ấn cùng một trụ thì chủ về cô đơn, phòng không.

Chính tài: nguồn nuôi sống cần cân bằng với thân

Tài là sao vừa làm mình hao sức vừa là nguồn nuôi sống. Người nhiều tài thì sợ thân nhược. Người thân mạnh thắng được tài, nhưng thân mạnh lại sợ không có tài. Chỉ khi thân và tài cân bằng mới là mệnh tốt.

Trong Tứ trụ có tài, dù tài vượng hay suy, người ấy cũng ưa nhàn nhã, không thích lao động, muốn của nhiều mà làm ít, phần nhiều không ham học. Nhật can vượng, tài vượng là bậc phú ông trong thiên hạ; có thêm chính quan nữa là phú quý song toàn, nam được vợ hiền nội trợ giỏi. Ngược lại thân nhược, tài vượng thì không những nghèo mà cầu tài cũng khó, trong nhà vợ nắm quyền.

Tứ trụ nhiều chính tài là tính phá tài. Tài nhiều khắc ấn nên không lợi cho mẹ. Tài nhiều mà không thuần khiết thì không lợi cho đường học tập, người dốt nát. Địa chi tàng tài là tài phong phú; tài thấu ra là người khẳng khái nhưng không giữ được của. Tài có kho mà gặp xung thì chắc chắn phát tài; với nam là nhà giàu nhưng tính biển lận. Mệnh vượng có chính tài lại gặp thực thần thì được vợ hiền giúp đỡ. Chính tài và kiếp tài cùng xuất hiện thì cuộc đời dễ gặp tiểu nhân, tài bị tổn thất. Chính tài gặp quan vượng, sát vượng thì vợ hay lấn át chồng.

Chính tài lâm vượng địa, nếu nhật vượng thì giàu có, ngược lại thì không nghèo cũng gặp tai nạn. Chính tài lâm phi địa thì của ít.

Chính tài ở bốn trụ

Trụ năm. Thân vượng là ông cha giàu có; can tháng thấu quan tinh là xuất thân trong gia đình phú quý.

Trụ tháng. Người cần cù tiết kiệm, cha mẹ giàu và được nhờ cha mẹ.

Chi ngày. Được vợ giúp thành giàu; gặp hình xung khắc hại thì vợ chồng bất hòa.

Trụ giờ. Con cái giàu có.

Thiên tài: của cải đến từ nghề phụ và duyên với cha

Chính tài hay thiên tài đều là nguồn nuôi sống. Thiên tài chỉ cha hoặc vợ lẽ, hoặc nguồn của cải từ nghề phụ, gọi tắt là tài. Thân vượng, tài vượng, quan vượng thì danh lợi đều có, phú quý song toàn. Thân vượng có thiên tài, không gặp hình xung, tỉ kiếp thì là bậc phú ông trong thiên hạ lại sống lâu. Thiên tài thấu lên thiên can thì kị nhất là có tỉ kiếp, vì như vậy vừa khắc cha, vừa làm tổn hại vợ. Can chi đều có thiên tài là người xa quê tay trắng lập nghiệp rồi trở nên giàu có, tình duyên đẹp, của cải tốt. Nữ thân nhược thì kị gặp tài, vì phần nhiều gây liên lụy, phiền phức đến cha đẻ.

Thiên tài lâm trường sinh, vượng địa thì cha con hoặc thê thiếp hòa thuận, được của nhờ cha, nhờ vợ; cha và vợ đều sống lâu vinh hiển. Lâm mộc dục thì người háo sắc phong lưu. Lâm mộ địa thì cha hoặc vợ chết sớm. Lâm tử, tuyệt, hình, xung thì cha hoặc vợ suy khốn, thậm chí gặp nạn.

Thiên tài ở bốn trụ

Trụ năm. Can năm có thiên tài là người xa quê hương, đời lận đận. Can chi đều có thiên tài thì tuổi trẻ đã làm con nuôi. Can năm có thiên tài, chi năm có tỉ kiếp thì cha rời quê, chết nơi đất khách quê người.

Trụ tháng. Can năm và can tháng đều có thiên tài thì cha nắm quyền trong nhà, hoặc mình từ bé là con nuôi. Trụ tháng có thiên tài, trụ giờ có tỉ kiếp thì trước giàu sau nghèo. Chi giờ có thiên tài là vợ lẽ cướp quyền vợ cả, hoặc chồng thiên lệch về vợ lẽ.

Trụ giờ. Trụ ngày và trụ giờ có thiên tài, không bị hình xung, tỉ kiếp thì người ấy trung niên và cuối đời phát đạt.

Nguồn: Thiệu Vĩ Hoa, Trần Viên, Dự đoán theo Tứ trụ.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bát Tự Hà Lạc