Bài tổng quan
Tử Vi muốn làm vua thật phải qua năm cửa ải
Ngai vàng đã dựng, nhưng người ngồi lên đó cô độc, chẳng ai hầu cận, chẳng ai hô vạn tuế. Một ông vua giữ ngôi được bao lâu còn tuỳ vào những cửa ải mà lá số đặt ra từng bước. Cửa nào thiếu thì…
Mục lục · 13 phần
- 01Điều kiện ắt có và đủ để Tử Vi đắc cách
- 02Cửa thứ nhất: Tả Phù, Hữu Bật
- 03Cửa thứ hai: Khoa, Quyền, Lộc
- 04Cửa thứ ba: Tuế Hổ Phù, hay Tứ Linh
- 05Cửa thứ tư: văn tinh Xương Khúc, hoặc Khôi Việt
- 06Cửa thứ năm: Lộc Tồn
- 07Những sao làm mất tác dụng và phản tác dụng
- 08Tử Vi vô Tả Hữu: tài càng lớn càng buồn
- 09Mệnh Không Thân Kiếp và Thất Sát lâm Thân
- 10Đại hạn Phá Quân Lộc Tồn: cái đáng bỏ lại còn, cái đáng giữ lại mất
- 11Tử Phủ và ngũ hành: đừng khắt khe quá
- 12Cơ Lương Sửu Mùi: vì sao bị xếp vào hạ cách
- 13Một ví dụ lịch sử: ngôi vua Lê Uy Mục
Điều kiện ắt có và đủ để Tử Vi đắc cách
Muốn đoán ngôi Tử Vi, điều kiện ắt có và đủ trước hết là Tử Vi phải có bộ Phủ Tướng hội họp. Đó là các trường hợp Tử Vi cư Tý Ngọ, Tử Phủ Dần Thân, Tử Tướng Thìn Tuất. Lý do là Tử Vi thiên về hành động, nên cần đi với sự phán xét của Thiên Phủ. Từ cách Tử Phủ Vũ Tướng Liêm ấy, bộ Tử Phủ ở Mệnh là bộ sao hay, đắc ý, đắc địa. Trên nền đó, người xưa không đặt ra công thức khô cứng, mà đặt ra một chuỗi cửa ải. Vượt qua cửa nào thì ngôi vua thêm vững cửa ấy; thiếu cửa nào thì vua chỉ còn là vua dỏm. Dưới đây là năm cửa ấy, rồi đến những sao làm mất tác dụng hay phản tác dụng, cuối cùng là một lá số mẫu để thấy vì sao nhiều người có Tử Vi mà vẫn không giữ được ngôi.
Cửa thứ nhất: Tả Phù, Hữu Bật
Một ông vua đứng một mình giữa triều đình trống thì chẳng ai nghe lệnh.
Tử Vi cần có Tả Hữu, nói siêu ngắn là thiếu tay chân, bộ hạ. Lưu Bị thiếu văn thần như Khổng Minh, võ thần như Quan Công thì cũng chỉ là chiếc áo rách. Có Tả Hữu rồi mới qua cửa thứ hai.
Cửa thứ hai: Khoa, Quyền, Lộc
Tử Vi cần đủ bộ Khoa Quyền Lộc mới hay, tệ lắm thì cũng phải có Khoa Quyền. Đã là vua thì tất nhiên cần có Quyền. Bộ Tam Hóa là bộ sao danh giá, là nổi danh nổi tiếng; thiếu nó thì chỉ còn nỗi lòng.
Cửa thứ ba: Tuế Hổ Phù, hay Tứ Linh
Vua cần bộ Tuế Hổ Phù, hoặc hiểu theo cách khác là bộ Tứ Linh. Bộ này chủ việc được tôn thờ, ngưỡng mộ. Vua bao giờ cũng được vây bọc bởi những người luôn tung hô, nịnh thần hô vạn tuế to nhất và vua cười. Nếu không có bộ sao ấy thì cần có Đào Hồng, ý là nói và làm, tức phải hành động để thấy mình có tài lãnh đạo. Nhưng nếu không có những sao ấy mà phải bộ Tang Hư Khách thì là vua dỏm: vua sân khấu, vua phim trường, vua giả như các ông vua trong phim ảnh, vua bóng đá, vua thép gai. Chỉ riêng một ngôi sao Thiên Hư, mà sách Tử Vi gọi là tiểu tinh và cho là không quan trọng, cũng đủ đập tan huyền thoại Tử Vi là vua.
Cửa thứ tư: văn tinh Xương Khúc, hoặc Khôi Việt
Cửa thứ tư cần Văn Xương Văn Khúc, nếu không thì cần Khôi Việt, để có trình độ nói được, đọc được, viết được. Vua mà đánh vần ngọng nghịu thì ngai vàng không bền. Vì vậy mới cần sự vững bền, đưa ta tới cửa thứ năm.
Cửa thứ năm: Lộc Tồn
Lộc Tồn cần hội họp ở đâu đó. Tồn là tồn tại; đi với Liêm Trinh chủ sự vững bền; cộng hai chữ lại thành “trường tồn”. Tử Vi là trò chơi chữ nghĩa, đòi hỏi độ chính xác cao. Vua mà gặp Kình Đà thì bị đưa lên hạ xuống mấy hồi; vì thế các minh quân mới được lưu danh ngàn năm. Đến đây ta có mô hình sau: Tử Vi, cộng Tả Hữu, cộng Khoa Quyền Lộc, cộng Tứ Linh (hoặc Đào Hồng), cộng văn tinh (Khôi Việt, Xương Khúc). Vua nào có thêm Hỏa Linh càng hay, vì bộ sao này chủ lệnh lạc khẩn cấp; đã là vua thì chỉ tay năm ngón, cần Linh để ban lệnh. Vua mà không ra lệnh được là quá yếu.
Những sao làm mất tác dụng và phản tác dụng
Qua các cửa ấy mà gặp Hóa Kỵ thì sao? Vô hại, thậm chí tốt, vì hợp với Quyền là quyền cấm đoán; có Linh càng hay vì là lệnh cấm. Nhưng chú ý tuyệt đối không được có Hình đi cùng Kỵ, vì vua phạm luật thì phải ở tù, chỗ ở là nhà giam. Ngược lại có Hình mà không có Kỵ thì tốt, vì Hình đi với Quyền là quyền trừng phạt, quyền tha: vua không hài lòng ai thì lũ nịnh thần giết mất, vua hỏi nó đâu, thưa thần làm thịt rồi, đến đó vua cũng chỉ biết than trời.
Nếu có Hình mà không Kỵ, còn phải tránh bằng được Khôi Việt. Vì Khôi Hình là tội lớn: Khôi là to lớn như khôi ngô, Hình là trừng phạt, hai cái cộng lại thành tội lớn. Vua có tội lớn thì không thể ngồi lâu trên ngai vàng, trời không giết thì người cũng giết. Nếu có Khôi Việt thì lại kỵ Không Kiếp, vì Khôi Không là số không to lớn. Với Không Kiếp thì trách nhiệm không tròn, không gánh vác nổi, gánh tai hoạ thì có; với Thiên Không còn là không phải vua đâu. Đối với Triệt là trừ bỏ (ta quen nói là từ bỏ) địa vị, và bí mật bị lộ; kỵ nhất là Triệt đứng đầu cung. Có thể chấp nhận Triệt ở cung Tài. Đối với Tuần là phải tuân theo, nghe theo sự sai khiến của người khác; có thể chấp nhận Tuần ở hai cung Tài và Quan. Các sao ở phần này là “đáp số cuối cùng” để quyết đoán về ngôi Tử Vi.
Tử Vi vô Tả Hữu: tài càng lớn càng buồn
Một lá số mẫu trong sách mới chỉ lọt vào vòng điều kiện ắt có và đủ rồi bị loại trong cuộc thi “hoa hậu Tử Vi”, vì thiếu Tả Hữu. Điều đáng nói là cái cần thì không có, mà cái không cần thì lại có: bộ mất tác dụng và phản tác dụng có đầy đủ, chỉ thiếu Hóa Kỵ; lại có đến Tam Không, như không nghe, không thấy, không biết gì, giống vua ngọa triều. Cho nên vị vua trong lá số ấy phải tự mình lau nhà, giặt long bào, xuống bếp kiếm ăn, vì không có người phục vụ.
Người có Tử Vi mà vô Tả Hữu càng có tài bao nhiêu lại càng buồn bấy nhiêu. Vì không có người trợ giúp, không thể vừa làm vua vừa làm lính, hạ mình xuống làm công việc vặt mất thì giờ; vua phải được thong dong để suy nghĩ, ưa kín đáo, không bị quấy rầy. Người có Tử Vi ở Mệnh, nhất là có cả Khôi Việt (đa phần là con trưởng), thường ưa gánh vác trách nhiệm vào mình, nhất là việc ngoài xã hội trong khi việc nhà chưa chắc xong, vì sâu thẳm trong lòng thấy việc ấy mình làm được thì làm, rất vô tư, không vụ lợi. Người Tử Vi vô Tả Hữu vẫn ưa đi tìm cho mình một minh chủ để thờ.
Trong lá số mẫu, Triệt ở một vị trí đặc biệt hay: quán triệt là hiểu thông suốt, hiểu tận đáy; nhưng Triệt trước mặt Phá Tham lại bất lợi hoàn toàn trước Tử Vi, khiến vị vua rụt rè không dám hành động, nói chi gánh vác. Tuy vậy cũng nên cảm ơn Triệt vì nó triệt đi những cái không ngờ từ bên trong (Thiên Không), đồng thời là lá chắn thành đồng ngăn tai hoạ từ Địa Kiếp bên ngoài xâm nhập.
Mệnh Không Thân Kiếp và Thất Sát lâm Thân
Lá số mẫu thuộc cách Mệnh Không Thân Kiếp. Người có cách này đa phần có những cái “không” cay đắng: không lý tưởng, không địa vị, không được che chở, đến những cái không gia đình, không tổ quốc. Không còn chủ sự “không phải là”: không phải nhà của mình, không phải tổ quốc của mình. Thân ngộ Kiếp là thân xác dễ gặp nạn, dễ thành “thân trâu ngựa”, thành “đồ chơi” hay “bao cát” cho người ta; may mắn là thân ấy mang bệnh nào đó nên người ta mới than thân trách phận. Cách Mệnh Không Thân Kiếp (chỉ có ở người sinh tháng mười) còn chưa xấu bằng cách Mệnh Kiếp Thân Không. Điểm xấu thứ hai là cách “Thất Sát lâm Thân chung thị yểu”: Thân là thân xác, Mệnh là tư tưởng; Thất Sát chủ giết chủ đè nên thân xác dễ bị ai đó, vô tình hay cố ý, cướp mất mạng sống. Hạn đến Thất Sát dễ thấy cái “mất” (thất) đến cái “giết” (sát), huống chi lại an Thân tại đó.
Nhưng nếu mới chào đời mà nói trần trụi như vậy thì làm mất niềm vui của bậc sinh thành, nên Tử Vi rất khó nói. Đoán cho con nít thì nói láo dễ lắm, vì phải hai ba mươi năm sau mới biết đúng sai; vì thế tác giả thích lá số người có tuổi, để chỉ thẳng vào quá khứ chứng minh.
Đại hạn Phá Quân Lộc Tồn: cái đáng bỏ lại còn, cái đáng giữ lại mất
Bộ Sát Phá Tham là bộ sao ưa khám (Thất Sát), phá (Phá Quân), và tìm kiếm (Tham Lang). Từ vị trí Tham Lang nhìn ra mà chẳng thấy sao Tuần Triệt nào, như người đi đường không thấy bảng tín hiệu giao thông. Một ngôi sao cần Tuần Triệt mà không có, trong lúc Tử Vi kỵ Tuần Triệt mà lại có, thật là éo le. Tham Lang còn là ngôi sao tham vọng: từ vị trí Tham Lang mà thấy Triệt là người trừ bỏ tham vọng; thấy Tuần là người có tham vọng lớn; thấy cả hai phải biết tìm cho mình hai chữ đúng sai rồi đặt tham vọng vào đó.
Trong đại hạn Phá Quân ngộ Lộc Tồn, lại có Lưu Hà, Hỏa Tinh (Linh càng hại), Thiên Hình có Phi Liêm, Thiên Việt xung, lá số hình thành cách Phi Việt Hỏa Linh Hình. Với bộ Phá Quân Lộc Tồn, ta thấy cái đáng vứt đi, bỏ đi (Phá Quân chủ bỏ) mà nó vẫn tồn tại (Lộc Tồn); cái đáng vứt lại còn, cái đáng còn lại vứt bỏ; trong lòng chỉ còn nỗi bực mình, bất lực. Có lúc nổi điên, nổi giận đập (Thất Sát) phá (Phá Quân), vô tình hoạ giáng xuống (Lưu Việt Hình), thậm chí đổ máu; đa phần lỗi lầm ấy từ bên ngoài tạo ra trước, ta nóng giận làm điều tai hại (Hỏa Kiếp). May là không có Kình Đà dễ bốc cao vời vợi. Điều tiếu lâm là cái đáng cất giữ lại là cơn giận chứ không phải tiền của. Hỏa Kiếp còn là tai hoạ vì lửa, vì giận, và tai hoạ đến nhanh, chạy không kịp: nên quá tải điện gây cháy đồ vật thì đừng buồn, chỉ coi như của đi thay người. Từ vị trí Tham mà thấy Hỏa lại rất hay, là cách làm giàu nhanh. Hỏa Phá là cách đốt bỏ, có Quốc Ấn thì được quyền nói là kỷ niệm bị đốt bỏ, xé bỏ. Đây là đại hạn dễ bị kích động đủ chuyện.
Tác giả đem lá số này so với lá số một người anh hùng dân tộc, thấy nhiều nét giống: người ấy chết ở đại hạn tương ứng. Chủ nhân lá số mẫu có Triệt ở Mệnh nên đỡ hơn, trong khi tham vọng của người anh hùng kia có Tuần. Lời khuyên cho hạn này là đừng tìm kiếm danh vọng, vì “càng cao danh vọng càng nhiều gian nan”; tham vọng đi với Quyền là ưa quyền lực, nhưng cần đi với Linh là lệnh lạc hợp cách: “Tham Linh tịnh thủ danh chấn chư bang”; đi với Hỏa Tinh có lúc giàu nhanh. Phá Quân là ngôi sao ưa khám phá, tìm ra đúng sai; thấy được sao Tuần thì vô tình thấy cái gì cũng đúng, cần có thêm một sao Triệt nữa mới phân biệt được đúng sai.
Tử Phủ và ngũ hành: đừng khắt khe quá
Lấy Tử Vi làm ví dụ cho an toàn: cách Tử Phủ đắc địa ở Thân vì Tử Phủ thuộc Thổ mà Thổ sinh Kim (nhưng sinh xuất thì không hay). Bên Dần, Tử Phủ cũng hay rồi, đừng vì thế mà gượng ép chuyện khắc hay không khắc. Chẳng qua Tử Vi ưa bí mật nên cần Thiên Phủ che đậy; Tử Vi ưa bao, Thiên Phủ ưa che; Tử Vi thiên về hành động nên cần thêm tiếng nói vỗ về của Thiên Phủ. Thế là hay, là hợp lý, là đắc ý, đắc địa.
Cơ Lương Sửu Mùi: vì sao bị xếp vào hạ cách
Cách Cơ Lương Sửu Mùi thường bị phú Tử Vi phê là hạ cách. Vì Cơ Lương là cơ hội may mắn, hay ở Thìn Tuất nhờ đồng cung, mà không hay ở Sửu Mùi vì Cơ một nơi, Lương một ngã. Theo ngôn ngữ của tác giả, nội Cơ ngoại Lương, bên ngoài hưởng sự may mắn mà mình thì mất, coi như ngồi nhìn cái may mắn của người khác. Thiên Cơ chủ sự đói no, mà ngoài kia là lương thực, đương nhiên không phải của ta; so với cách Cơ Lương Thìn Tuất đồng cung, lương thực kề bên cạnh tha hồ ăn. Thiên Cơ là nền móng, Thiên Lương là nóc nhà: họ xây xong cái nhà thì ta mới xây cái nền; một điểm cao nhất và một điểm thấp nhất, chỉ để đo độ rơi từ trên cao xuống, nên Cơ Lương Tang Tuế phải coi chừng té ngã từ cao khi leo trèo. Vì Thiên Cơ là cơ thể mà Tang Môn chủ chôn vùi nên phú nói: “Thiên Cơ Bạch Hổ mà gia Tang Môn Điếu Khách là sa hoàng tuyền”. Cơ Lương còn là phơi bày cật vấn, và “may mắn được hỏi”.
Một ví dụ lịch sử: ngôi vua Lê Uy Mục
Lá số của vua Lê Uy Mục, mà tác giả gọi là Quỷ Vương, cho thấy cuộc đời vẻ vang rồi chấm dứt cũng ở đại hạn Phụ Mẫu. Cách được kế thừa địa vị, nối ngôi nối nghiệp là Tử Tướng. Với Khôi Hình thì tội tày đình. Hình Việt thì tai hoạ giáng xuống. Hồng Loan Địa Kiếp là loan báo nạn lớn. Hình Kiếp là ức hiếp và trừng phạt. Tam Không ngộ Tử Vi là không biết, không thở ra không hít vào; nếu ông còn sống lâu thì tội ông càng lớn. Ở đây có hai nhóm sao tốt xấu nằm lẫn lộn, gọi là cát hung tương bán. Ông hưởng cái tốt trước thì hưởng cái xấu sau; nếu không hưởng cái tốt thì cái xấu không đến, coi như tự khắc chế lẫn nhau rồi.
Nguồn: Tử Vi Bửu Đỉnh – Chính Tinh.
