Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Chuyên đề

Bài tổng quan

Hóa Kỵ, từ ghen ghét nghi ngờ đến chữ kỳ tài

Tử Vi Nam Phái - Chuyên đề01/10/202615 phút đọc2 lượt đọc
Hóa Kỵ, từ ghen ghét nghi ngờ đến chữ kỳ tài

"Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau" là câu thơ ai cũng thuộc, và cũng là một vì sao trên lá số. Một người tài sắc vẹn toàn bước ra đường đã bị đố kỵ vô cớ, rồi bị nghi ngờ, cấm đoán, sợ hãi theo từng nấc. Nhưng chỉ khác nhau một dấu, Kỵ có thể thành Kỳ...


"Trăm năm trong cõi người ta, Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau." Câu thơ của Nguyễn Du ai cũng thuộc, nhưng ít ai nghĩ rằng nó vừa nói điều gì đó về lòng người, vừa nói về một vì sao trên lá số: Hóa Kỵ. Nhìn kỹ thì Kỵ không chỉ là "xấu"; nó là cả một chuỗi trạng thái liên hoàn, bắt đầu từ ghen tức và kết thúc ở chỗ có thể hóa thành điều kỳ lạ.

Kỵ trước hết là ghen tức

Hóa Kỵ không phải là một sao thật mà là hóa khí của một số sao, tùy theo Can của năm sinh. Cho nên mỗi chính tinh mang Kỵ lại có một sắc thái riêng, nhưng trước khi đi vào từng sao, cần nắm trục chung của nó, theo thứ tự như sau.

Thứ nhất là ghen tức. Ta hay nghe "ghen ăn tức ở": sao họ được ăn ngon, ở sang hơn mình, mình cũng là người như họ mà. Sao họ đẹp quá, sao ta không đẹp bằng; rồi khi nghe người thân tán tụng họ ta dễ nảy lòng đố kỵ, "đẹp gì con mụ nớ, nó sửa không thiếu thứ gì". Đẹp hơn ta gọi là đố, tài hơn ta gọi là kỵ. Vì thế người tài sắc vẹn toàn ra ngoài thường bị đố kỵ một cách vô cớ: kẻ ganh tài, người ganh sắc, nam nữ đều như nhau. Hai cô ca sĩ có bao giờ khen nhau; con gà gáy, nếu có một con gáy thì cả bầy gáy theo, còn không thì chẳng thèm báo canh. Từ ghen tức vì thua kém, chuyển thành ghen ghét vô cớ, dù người ta chẳng chọc gì mình mà ta sẵn sàng tìm lỗi để gây sự.

Nghi ngờ, cấm đoán, sợ hãi

Ghen tức không dừng ở trong lòng; nó chuyển động theo từng nấc, và mỗi nấc mang một cái tên khác.

Từ ghen tức, Kỵ chuyển thành nghi ngờ, ngờ vực. Người này làm việc ở cơ quan mình, không khéo ta bị lép hết. Ông chồng hay buồn thì chắc bị bồ đá; ông chồng hồi này vui vẻ quá, chắc có bồ nhí. Buồn cũng bị nghi, vui cũng bị nghi. Nếu thêm sao ám như Thiên Diêu mù quáng, luôn có kiểu "y như là", thì thành nhị ám; thêm Đà La thì thành tam ám như đám mây mù giăng khắp nơi, có mắt cũng như mù, cái gì cũng ngờ vực.

Từ nghi ngờ, Kỵ chuyển thành cấm đoán, răn đe; nếu cấm không được thì hạ xuống khuyên răn, khuyến cáo; nếu không thành thì hạ giọng "đừng", rồi thấp thêm một nấc nữa là "xin đừng". Kỵ còn là lời phê bình, chỉ trích. Khi đã bị cấm mà ta vẫn vi phạm thì Kỵ chuyển thành sợ hãi: đã dặn đừng sờ mó vào đó rồi mà vẫn cố sờ, nên sinh họa. Đây là những tình huống Cự Kỵ, Thất Sát Kỵ Hình.

Từ Kỵ sang Kỳ: cà phê đắng và đám mây

Vậy Kỵ có lối thoát nào không? Có, và chữ đổi ở đây chỉ khác nhau một dấu: Kỵ thành Kỳ.

Kỵ có đắc địa không? Không. Nhưng có những sao cứu giải khiến Kỵ chuyển thành Kỳ lạ, Kỳ tài, Kỳ nhân. Những sao ấy thực chất là sự phối hợp hài hòa, như độc tố có thể đem làm thuốc trị bệnh; ai cũng biết nọc rắn có giá hơn vàng nhiều lần theo thể trọng. Người viết ví Kỵ như ly cà phê đắng ngắt không đường: hãy thêm đường vào, uống được lại còn khen ngon, và khi ấy không ai khen đường mà đều khen cà phê, tức là khen Hóa Kỵ.

Cuộc đời của người có Hóa Kỵ như có một đám mây đi theo. Đám mây ấy có thể là đám mây hờn ghen, đám mây đen báo bão, nhưng cũng có thể là đám mây che mát cho quý nhân, thậm chí là đám tường vân đem điều lành cho nhân loại.

Những sao cứu giải cho Kỵ

Long Kỵ Hà là bộ ghép của Thanh Long, Hóa Kỵ, Lưu Hà: con rồng ẩn trong đám mây đồng thời uốn lượn sinh động. Thực tế đó là lời nói (Thanh Long) phê bình (Kỵ) lưu loát trôi chảy (Lưu Hà): muốn phê bình thì cần tiếng nói, anh phê bình mà không nói thì chỉ ôm bụng sình ruột lên, như chuyện "ông vua tai lừa". Đây là cách đắc ý nhờ hợp lý, được xem như vận hội "rồng mây gặp hội". Hóa Khoa Hóa Kỵ cũng hợp cách vì Kỵ cấm đoán có cơ sở khoa học của Khoa: cấm anh viết thường ở đầu dòng (Khoa Văn), cấm anh le lưỡi liếm dây điện (Khoa Điện), cấm bán thuốc độc bảng A khi không có giấy của bác sĩ (Khoa Y). Từ đó Kỵ chuyển thành lời khuyên, lời răn, như mười điều răn của Chúa hay mười điều cấm kỵ của Phật.

Thiên Không Hóa Kỵ thì ông Thiên Không lắc đầu bảo có gì đâu mà phải nghi ngờ; Kỵ trở thành không bị cấm đoán, được ưu tiên nói gì thì nói. Kỵ hợp với một số chính tinh chủ tài năng như Tử Vi, Vũ Khúc, Thiên Cơ, Thiên Đồng, Thiên Lương, hưởng điều kỳ lạ nếu đi với cát tinh.

Kỵ trên từng chính tinh

Mỗi chính tinh mang Hóa Kỵ lại cho Kỵ một sắc thái riêng, theo đúng tính chất của chính nó.

Tử Vi Hóa Kỵ mang nghĩa kỳ bí, bí ẩn, huyền bí, hành động kỳ lạ; Tử Vi là một môn khoa học kỳ bí, đi với cát tinh thì kỳ tài, kỳ diệu. Nếu nằm ở cung an Thân thì thân thể có điểm kỳ lạ. Cũng chỉ nơi thâm nghiêm cấm lai vãng, như Tử Cấm Thành, "vô phận sự miễn vào". Rất kỵ thêm Thiên Hình, vì dù có Hóa Khoa cũng thành vi phạm luật pháp bằng hành vi, ngay cả người quyền cao chức trọng cũng bị đổ vỡ, nhẹ nhất là bị cấm hoạt động.

Vũ Khúc Hóa Kỵ luôn có ở Can Nhâm, chủ kỳ tài; nhiều cát tinh, nhất là Khoa Quyền Lộc thì đoán kỳ tài, còn nhiều hung tinh thì đoán kỳ khôi, kỳ cục, kỳ lạ, kỳ quái. Còn chủ những nghi vấn trong lịch sử. Đi với Tham mà có Hình cũng không ngại nếu có bộ Tướng Ấn.

Liêm Trinh Hóa Kỵ luôn có ở Can Bính: lòng trong sáng bị nghi ngờ, đạo đức bị nghi vấn, bị theo dõi, bị điều tra; kỵ thêm Thiên Hình, Bạch Hổ, Triệt. Nếu Mệnh và đại hạn có Liêm Trinh mà không bị Kỵ thì chú ý năm lưu Kỵ là năm Bính, tháng Bính. Thiên Phủ Hóa Kỵ là che đậy và nghi ngờ: càng che đậy, người ta càng nghi; còn có nghĩa bị nghi che đậy, bảo trợ, khuyến khích, tùy tình huống; kỵ thêm Thiên Hình dễ can tội bao che. Thiên Tướng Hóa Kỵ là thương và ghét, nếu gặp nhiều thị phi tinh thì oán hận càng cao, có Đào hoặc Khốc Hư với Địa Kiếp rất xấu; thành tương kỵ "mày ghét tao, tao ghét mày"; kỳ thị cách, đóng cung nào cung đó bị kỳ thị; kỵ Kình Dương, nếu có Liêm Trinh dễ bị đánh đập.

Thất Sát Hóa Kỵ chủ sát giới, giới cấm đầu tiên của Phật giáo, nên nếu có Hóa Quyền thì lợi cho giới tu hành; còn chủ mất mát và nghi ngờ: "một mất mười ngờ", nghi bị chiếm đoạt, đánh đập.

"Dần Thân Sát Kỵ trùng gia, thường chiêu đả mạ thực là gian truân."

"Đả" là ẩu đả, "mạ" là chửi bới, thường mua lấy ẩu đả chửi lộn làm thú vui, nên còn hàm ý bị ghét bỏ vì hay đập phá. Chỉ một Hóa Kỵ thôi cũng làm hỏng cách oai hùng của Thất Sát; thêm Hình là yểu tử.

"Kỵ Hình Thất Sát tương phùng, thiếu niên yểu chiết như dòng Nhan Uyên."

Còn Thất Sát Hình Kỵ thêm Đà Dương thì tranh giành, chiếm đoạt, chống phá, vi phạm pháp luật. Chủ thất kinh sợ hãi, thất sủng, thất tình; có Tướng Binh đồng cung thì càng dễ thất tình. Bộ này cần Khoa, vì có giết có sát thì đối tượng là vi trùng, côn trùng, động vật hay cái gì đó nguy hiểm cho xã hội.

Phá Quân Hóa Kỵ là ghét bỏ lẫn nhau, bị ghét bỏ, bỏ rơi; nhưng cũng chủ cấm phá, cấm bỏ, cấm trói nếu có Quyền, lợi cho giới tu hành; có Khoa thì thành lời "đừng bỏ, đừng phá, đừng trói buộc"; có Triệt là bị ghét bỏ; kỵ Lộc Tồn hoặc Tướng Binh đồng cung; cần bộ Tử Vũ để hóa giải, Khoa, Long Hà, Thiên Không nhưng chớ gặp Kiếp vì thành bộ Kỵ Kiếp.

Tham Lang, Thiên Cơ và những sao chủ tài năng

Tham Lang Hóa Kỵ luôn có ở Can Quý. Nếu đồng cung với Vũ Khúc, vẫn hay vì hưởng cách kỳ tài của Vũ. Chủ bị ghét bỏ vì ham ăn chơi, hình ảnh gã thanh niên bị chê vì ăn chơi, rất kỵ thêm Đào Hoa. Chủ "đừng can thiệp": ta can thiệp thì bị nghi, dùng quyền thì chuyển thành cấm can thiệp; nhưng không can thiệp cũng không yên, vì người ta kết luận ta ngoảnh mặt xem hai kẻ thù đấu nhau là vui sướng rồi hai kẻ thù quay lại liên minh chống ta. Đó là lý do Tham Kỵ là cách khó chịu: can dự cũng chết, không can dự cũng họa. Còn chủ lòng mơ ước, ham muốn bị nghi ngờ: ta bày tỏ ước muốn vô tư mà người ta nghĩ ta mượn tiền, xin chức, thế là tai họa đến từ chính một ước muốn nhỏ bé. Có Việt Hình thì họa to ập xuống. Thêm Diêu Y thì "Tham Kỵ phùng Diêu thủy tai nan miễn", hình thành nhị ám.

Thiên Cơ Hóa Kỵ luôn có ở Can Mậu, chủ kỳ tài, kỹ năng, kỳ thạch, cật vấn và nghi kỵ, bỏ lỡ cơ hội.

"Thiên Cơ Hóa Kỵ lạc nhàn cung, túng hữu quan tai diệc bất chung. Thoái tận gia tài kiêm thọ yểu, phiêu bồng tăng đạo trú sơn trung."

Câu phú này nói Thiên Cơ lạc hãm gặp Kỵ thì thất cơ lỡ vận: dễ gặp quan sự thị phi, tán tài, yểu mệnh, nên vào núi làm tăng đạo.

Thiên Đồng Hóa Kỵ luôn có ở Can Canh: trong lòng có sự nghi kỵ, ghen ghét; A nghi B thì B cũng nghi A; đứa bé bị ghét bỏ; mặt tốt là đứa bé kỳ lạ, kỳ tài, "Kỳ Đồng cách". Thiên Lương Hóa Kỵ: lương tâm, lương thiện bị nghi là bất lương; có Hóa Khoa và không thêm thị phi tinh thì kỳ tài, kỹ năng; còn chủ lương thực ăn uống bị ghét hay bị cấm; kỵ bộ Việt Linh Hình.

Thái Âm Hóa Kỵ luôn có ở Can Ất và Canh, thuộc cách "âm ám", kỵ Diêu Đà thành tam ám; âm thầm đố kỵ, ghen tương, nghi ngờ; ghét giới nữ, ghét ban đêm thích ban ngày; người đàn bà bị ghét bỏ, nghi kỵ, dễ bị ám hại bởi nữ giới; nữ giới kỵ bộ này ở hạn vì Thái Âm là biểu tượng của chính họ. Thái Dương Hóa Kỵ ở Can Giáp: dương ám, nghi kỵ chuyển sang công khai, cấm đoán công khai, bị ghét bỏ công khai; ghét nam giới; người đàn ông bị ghét; "ngày đáng ghét", ngày kỵ, nên có câu "Thái Dương Hóa Kỵ hữu mục hoàn thương", dễ có tật về mắt.

Cự Môn Hóa Kỵ ở Can Đinh là cách cấm khẩu, á khẩu, phá cách quan trọng của Cự Môn, chủ vọng ngôn. Phú nói:

"Cự Môn Hóa Kỵ giai bất cát, Mệnh Thân Vận hạn kỵ tương phùng."

"Cự Kỵ nên tránh đò sông, Phục Binh Hình Việt mắc vòng binh đao."

Cự Kỵ còn là thủy tai: ta không muốn uống nước mà phải uống đến chết, uống trong nỗi khiếp sợ; vậy đừng ép người khác uống rượu. Cự Kỵ còn là cách chết vì thị phi nghi kỵ của người đời, khiến người ta tự sát, tức chết vì nước bọt. Cự Môn chủ phản đối, Hóa Kỵ chủ cấm; phản đối mà bị cấm tạo thế uất hận, càng phản đối càng bị nghi kỵ ghét bỏ, đúng như câu "con chim chết vì tiếng kêu". Tối kỵ thêm Đà: "Cự Môn phùng Đà Kỵ tối hung".

Kỵ đi cùng những sao khác

Những ngôi sao nhỏ đứng cạnh Kỵ mở ra thêm những cách riêng, mỗi cách một kiểu họa.

Kỵ Kiếp là bộ đáng sợ nhất: chủ ghen ghét và ức hiếp, bị nghi ngờ cướp đoạt. "Tham cư Đoài Chấn thoát tục vi tăng, Kỵ Kiếp lai xâm trần hoàn đa trái": đi tu cũng chẳng yên thân, phải quay về trần tục, như trường hợp Tử Tham ở Mão Dậu. Đào Kỵ Kiếp là ghét mà ra tay làm hại; Khốc Hư Kỵ Kiếp là oán hờn mà ra tay. Khi phát hiện bộ Kỵ Kiếp nằm trên cung nào thì cung ấy bị Mệnh ghét bỏ ức hiếp rất nặng. Kỵ Linh là nghe lệnh cấm, cờ lệnh, nhưng cũng là nghe lời đố kỵ gièm pha, bên tai thường nghe người này nói xấu người kia; rất cần Quyền và kỵ Việt Hình. Kỵ Hỏa là giận và ghét, "ghét mà đốt": "Kình Dương Kỵ Hỏa nhất bài, hãm mà thủ Mệnh ấy loài ác tinh". Khôi Việt Linh Hỏa giao hội thì bất lợi: Khôi Việt chủ bột phát, Linh Hỏa chủ cơn giận điên cuồng; Khôi kỵ Hỏa, Việt kỵ Linh; "Hỏa Linh Hình Việt khác nào, không bị sét đánh búa dao có ngày".

Kỵ Hình chủ gièm pha và trừng phạt, bị ghét mà hành hạ, bị ghét mà giết, vi phạm điều cấm kỵ: luật pháp cấm, kỷ luật, giới luật của tôn giáo. Thiên Hình chủ "hình như là" làm tính nghi ngờ càng mạnh, nên Kỵ Hình làm mất tác dụng của cả bộ Tam Hóa, dù có Hóa Khoa vẫn "sương đọng mây tan". Chỉ có Vũ Khúc là giỏi luồn lách, nhưng nên đừng thấy Vũ luồn mà bắt chước. Kỵ Xương Khúc: Văn Khúc Kỵ ở Can Kỷ, Văn Xương Kỵ ở Can Tân.

"Miêu nhi bất tú Nhan Hồi, Văn Xương ngộ Kỵ uổng đời tài hoa."

Cách này luôn có trên lá số của người tuổi Tân và Kỷ, chiếm khoảng một phần năm số người, nhưng thực tế đa phần đi qua hạn không chết, chỉ nghe những lời răn đe, cấm đoán, nghi kỵ gièm pha bên tai đến buồn mà chết. Còn là rắc rối giấy tờ, thư tịch, sáng tác bị khen chê; hay phê bình văn chương nghệ thuật, cần Mệnh hạn có chính tinh ái mộ Kỵ như Tử Vũ, Cơ Lương. Kỵ cũng gặp Tuần: đề phòng và nghi ngờ, tuân theo những điều cấm kỵ, lời phê bình trung thực, nội quy riêng; nếu có Hình thì kỵ thêm Sát Phá.

Triệt gặp Kỵ và hạn có Kỵ cố định

Hai sao ưa trừ bỏ và ghét bỏ đứng cạnh nhau thì lời đồn không còn giấu được nữa.

Triệt Lộ Hóa Kỵ là lộ ra sự nghi kỵ, lộ ra sự ghét bỏ, ghét bỏ ra mặt. Cũng có nghĩa là trừ bỏ, xem nhẹ những điều cấm kỵ, có khi vì thế mà mang họa vào thân, rồi sau lại la làng là không nghe, không biết. Đó là cảnh nửa nghi nửa không, nghi ngờ và trừ bỏ, ghét và trừ bỏ. Triệt vốn đã ưa trừ, thêm Kỵ ghét, hai sao hỗ trợ lẫn nhau nên là bộ sao xấu. Những chính tinh sợ Triệt, nhất là sợ cả Kỵ, như Nhật Nguyệt sáng sủa, càng chịu khổ.

Hạn gặp Kỵ cố định thì tìm ngay xem lưu Kỵ nằm ở đâu. Có lúc gặp hạn Kỵ cố định, người ta thấy nhiều xui xẻo vì đây là một ám tinh quan trọng, và khả năng có Đà đi cùng cũng dễ xảy ra. Đáng sợ nhất là Kỵ cố định hội với lưu Hóa Kỵ tọa thủ hay hội họp, hoặc một Kỵ ở đại hạn lại thêm một Kỵ ở tiểu hạn: tối tăm mặt mũi vì Kỵ, sờ đâu cũng bị cấm, nói gì cũng không được. Nếu là Kỵ Kiếp thì càng khổ. Gặp những cái Kỵ tốt như Kỵ Khoa, Lưu Kỵ Hà hay Không Kỵ thì khỏi nói; gặp Kỵ xấu là thấy xui xẻo.

Chén thuốc đắng của Hóa Kỵ

Hóa Kỵ là một chén thuốc đắng, nhưng là chén thuốc đả tật đánh tan bệnh tật. Những lời phê bình chỉ trích của Kỵ làm cay đắng lòng người. Người có tài xem đó là cơ hội để rút kinh nghiệm cho cuộc sống, như những người có Tử Vũ, Cơ Lương; còn người khác thì tối tăm mặt mũi, dễ đem lòng thù oán. Vì thế có câu:

Thiên Di Hóa Kỵ ra ngoài. Kẻ thù người oán chẳng ai yêu mình.

Kỵ dám chỉ trích thẳng vào vấn đề, không ba phải, ai nói gì cũng chấp nhận. Lời thật thì mất lòng. Những bậc kỳ tài mới dám đứng ra chỉ trích, tất nhiên kỳ quái, kỳ cục cũng không thiếu, còn dồi dào hơn, và hay ưa nổi đình nổi đám. Nếu Mệnh có Hóa Kỵ thì là người khó chịu nhịn, nếu có văn tài thì họ không chịu nổi. Vì thế có câu:

Hóa Kỵ văn nhân bất nại.

Họ sẵn sàng chạy theo Kỵ để chỉ trích, khiếu kiện, ôm một đống hồ sơ dày cộm. Thấy điều gì cấm kỵ thì hay nhất là đừng làm, đừng sờ mó vào, mà cũng đừng vì Kỵ sinh lòng oán hận.

Nguồn: Tử Vi Bửu Đỉnh – Phụ Tinh.

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Chuyên đề