Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Niên sinh tứ hóa

Bài tổng quan

Tứ hóa là bốn mùa xuân hạ thu đông của mệnh bàn

Tử Vi Bắc Phái - Niên sinh tứ hóa03/10/202610 phút đọc3 lượt đọc
Tứ hóa là bốn mùa xuân hạ thu đông của mệnh bàn

Mùa xuân có Lộc, mùa hạ có Quyền, mùa thu có Khoa, mùa đông có Kỵ. Bốn hóa của Đẩu Số không phải bốn lời khen chê mà là bốn mùa của đất trời được đặt vào mệnh bàn. Vì sao nhiều Kỵ chồng nhau không bao giờ thành không có Kỵ…


Từ thái cực đến bốn mùa: gốc của tứ hóa

Người xưa nói thái cực sinh lưỡng nghi, tức âm và dương; lưỡng nghi sinh tứ tượng, gồm thái dương, thiếu dương, thái âm, thiếu âm. Tứ tượng ấy không xa vời gì: nhìn quanh đời sống, ta thấy nó chính là bốn mùa xuân, hạ, thu, đông. Tứ hóa Lộc, Quyền, Khoa, Kỵ trong Đẩu Số được dựng đúng theo khuôn ấy.

Mùa xuân, trăm hoa nở, mầm vừa nhú, cây đâm chồi, đất trời tràn sức sinh phát và mọi người rộn ràng với một năm mới, một vụ mùa mới. Mùa hạ, vạn vật đã trưởng thành, thịnh vượng, người ta thu hoạch trái trên cây. Mùa thu, gió thổi lá úa, cảnh vật xơ xác tiêu điều; đây là lẽ "thấy thịnh thì phải kìm lại". Người ta vội vàng cầm liềm hái, tức dụng cụ bằng kim loại, để gặt lúa. Mùa đông, chim di trú rời núi, đường vắng người; vạn vật ẩn náu, con người cũng thu mình cất trữ, nghỉ ngơi qua rét.

Bốn mùa quay vòng năm này sang năm khác, và mỗi mùa có một ngũ hành làm chủ: xuân hoa nở lá xanh là mùa vượng Mộc; hạ nắng gắt là mùa vượng Hỏa; thu tiêu điều là mùa vượng Kim; đông sương tuyết, vạn vật ẩn náu là mùa vượng Thủy. Khí ấy lưu hành, "ở trời thành tượng". Xưa nay trí tuệ đều sinh từ đạo pháp tự nhiên, vì vậy tứ hóa của Đẩu Số về bản chất là cái pháp của tự nhiên, là tứ tượng của đất trời. Nói cách khác, bốn hóa chính là bốn mùa xuân hạ thu đông của thế giới tự nhiên đem vào mệnh bàn.

Có một lời nhắc cho người học đi sâu: khi nhìn bốn mùa ấy trong từng ngày, thì việc chuyển tiết khí theo ngày là một nguyên lý khá phức tạp. Nó liên quan đến cục số, và cục số quyết định cái gọi là ứng hạn.

Bốn mùa có bốn tính cách. Mỗi hóa mang theo sắc thái của mùa mình, và hiểu được sắc thái ấy là hiểu được một nửa chuyện luận lá số.

Hóa Lộc: hơi ấm đầu xuân

Lộc là thiếu dương, là mùa xuân, hành Mộc đang vượng, nghĩa là sinh phát và hy vọng. Cả gam màu của Lộc đều là nhẹ nhõm, ấm áp, mở ra. Gộp các ý lại, Lộc mang những tượng sau:

  • Niềm vui và sự thoải mái. Vui sướng, cát khánh, ung dung, trôi chảy, lạc quan, tùy duyên, tự tại, thân thiện và không câu nệ.
  • Phúc và cơ hội. Có phúc, có hy vọng, có cơ hội, quang minh, sức khỏe.
  • Cái mới đầu. Trẻ tuổi, mới bắt đầu, nguyên nhân của một chuyện.
  • Tình cảm lãng mạn. Lãng mạn, tình cảm, kỷ niệm đẹp, mộng đẹp và cả ảo tưởng.
  • Hưởng thụ. Thỏa mãn, nhưng cũng buông tuồng, lười biếng, mập mạp.
  • Cỡ lớn, mới, nhiều, tốt.

Đọc kĩ các tượng ấy sẽ thấy Lộc không chỉ là "tốt". Nó có mặt mềm yếu: buông tuồng, lười, ảo tưởng, béo tròn. Mùa xuân đẹp mà cũng dễ khiến người ta ngủ quên.

Hóa Quyền: nắng gắt của mùa hạ

Quyền là thái dương, là mùa hạ, hành Hỏa; vạn vật lúc này khỏe mạnh và đang hướng tới thịnh vượng. Quyền mang sức mạnh của một người đã trưởng thành, biết mình muốn gì.

  • Tự tin và hoài bão. Tự tin, chủ kiến, ý đồ, hoài bão, tích cực, dục vọng.
  • Dẫn dắt và mở lối. Lãnh đạo, khai sáng, phát triển, đột phá, bền chắc, lớn mạnh, quyền lực, địa vị.
  • Chủ quan và quyết đoán. Năng lực, quả quyết, cương cường, ứng biến.
  • Nhận thức và hành động. Cương quyết, sắc bén, tranh đấu, nhưng cũng thô bạo.
  • Cỡ lớn, mới, nhiều, tốt.

Mặt trái của Quyền đã nằm sẵn trong chính các tượng của nó: chủ quan đi liền thô bạo, cương cường đi liền tranh đấu. Nắng mùa hạ nuôi cây nhưng cũng làm cháy đất.

Hóa Khoa: cái lạnh nhã của mùa thu

Khoa là thiếu âm, là mùa thu, hành Kim; vạn vật xơ xác tiêu điều. Bậc thánh nhân noi theo khí thu mà chế ra lễ giáo, sinh ra văn minh. Vì vậy Khoa là khí của chữ nghĩa, của sự kiềm chế có văn hóa.

  • Danh tiếng và khoa bảng.
  • Quý nhân và sự hòa hoãn. Có người giúp, có chuyển hoàn, mọi việc dịu đi.
  • Nhã nhặn. Khiêm tốn, văn chất, thư hương, lịch sự, thanh tú, xinh xắn, tinh xảo, đẹp.
  • Mềm yếu. Ưu nhu, do dự, ưa làm đẹp, thích đồ trang sức.
  • Cỡ vừa phải, không lớn cũng không nhỏ.

Hóa Kỵ: mùa đông cất giữ

Kỵ là thái âm, là mùa đông, hành Thủy; vạn vật ẩn núp, thu tàng, chờ thời. Kỵ có nhiều tượng nhất và nhiều chiều nhất, vì mùa đông vừa là lúc cất giữ lương thực vừa là lúc rét buốt.

  • Chất phác và ngay thẳng. Thật thà, chất phác, thẳng thắn, trung trinh, nghĩa khí.
  • Giữ gìn. Thu tàng, thủ thành, an định, và cả "kết quả", thứ gặt hái cuối cùng.
  • Bó buộc. Câu nệ, bảo thủ, phiền não, ưu thương, mắc nợ, lao lực.
  • Thị phi. Tiểu nhân, thị phi, thù hận, tức giận, thống khổ.
  • Dục vọng mờ tối. Tham dục, si mê, vọng niệm, tà niệm, ích kỷ.
  • Cản trở và cũ nát. Trở ngại, nhỏ mọn, u ám, bẩn thỉu, xấu xí, cũ kỹ.
  • Cỡ nhỏ, ít, già.

Đừng nhìn Lộc là lành, Kỵ là dữ

Từ bốn gương mặt ấy, mấy lời dặn đáng khắc vào lòng:

  • Thấy Lộc đừng vội cho là thiện. Nhiều Lộc thành ra "tiêu dao vô chí", nhởn nhơ mà không có chí hướng.
  • Thấy Kỵ đừng vội cho là hung. Kỵ có thể là "giữ vững không làm trái". Có những người phải nhờ Kỵ mới thành công.
  • Nhiều Quyền thì phải đề phòng thô bạo; nhiều Khoa lại hóa ra ưu nhu.
  • Lộc, Quyền, Khoa, Kỵ là hóa tượng, không phải tinh diệu. Chúng là cách các sao đang biến đổi, không phải thêm một vì sao nào.
  • Có người nói nhiều Kỵ chồng nhau thì thành không có Kỵ. Điều đó sai.

Với Kỵ có một thang bậc đáng nhớ. Một Kỵ ngồi trong cung là "thủ thành" hoặc "mắc nợ", trả giá cho một chuyện đời. Hai Kỵ cùng cung, hoặc hai Kỵ ở hai cung đối nhau, tức song Kỵ, là bắt đầu phá bại. Ba Kỵ đồng cung hoặc đối cung là đại thế không ổn. Bốn Kỵ đồng cung hoặc đối nhau là đối mặt sinh tử, đi hay ở đều phải liều.

Một ví dụ cho thấy các hóa gặp nhau thế nào: Giao Hữu có Kỵ năm sinh, mà Tài Bạch phi Lộc nhập vào Giao Hữu, thì Lộc và Kỵ tạo thành "song Kỵ". Ngược lại, nếu năm sinh có Lộc mà Tài Bạch phi Kỵ nhập vào, thì thành song Lộc. Được hay mất phải xem cung vị mà quyết.

Cũng cần nói rõ chỗ đứng của một Kỵ lẻ. Một Kỵ đơn lành hay dữ tùy cung nó đóng. Ở tam phương Mệnh và tam phương Điền Trạch thì không luận là "mất". Ở tam phương Giao Hữu hay tam phương Phúc Đức mới luận là "mất". Còn song Kỵ, rơi vào cung nào cũng luận là đổ nát.

Hóa Lộc thuộc Mộc hay thuộc Kim? Bốn mùa trả lời

Trong các cách gán ngũ hành cho tứ hóa, một cách thường gặp nói rằng Khoa thuộc Mộc, Quyền thuộc Hỏa, Lộc thuộc Kim, Kỵ thuộc Thủy. Cách ấy phối theo Hà Đồ, mà Hà Đồ là bản đồ tiên thiên, tức "thể". Còn Lạc Thư là hậu thiên, tức "dụng". Khi luận lành dữ, họa phúc, người ta phải dùng ngũ hành hậu thiên của Lạc Thư thì mới nhìn ra được ý trời.

Lý lẽ ở đây giản dị nếu ta quay về bốn mùa. Lộc ứng với mùa xuân, mùa của sinh phát, vui sướng, hy vọng. Nếu gán Lộc thuộc Kim, mà Kim ứng với mùa thu, mùa xơ xác tiêu điều, thì làm sao Lộc còn là tượng sinh phát, vui sướng và hy vọng được? Câu hỏi này không có lời giải đẹp, nên người học nên nghĩ lại: Lộc thuộc Mộc, như mùa xuân; Quyền thuộc Hỏa, như mùa hạ; Khoa thuộc Kim, như mùa thu; Kỵ thuộc Thủy, như mùa đông.

Khoa không xóa tai họa nhưng làm chậm nó

Khoa thường được nghĩ là một hóa tốt, nhưng sức của nó khác sức của Lộc. Lộc có thể biến chuyện lớn thành nhỏ, hoặc khiến tai họa không đến với người. Khoa thì như người đã đọc sách thánh hiền: có văn chất, biết tự hạn chế, nên có thể làm hoãn lại cơn rối và thêm phần yên ổn. Chữ xưa gọi là "chậm lệ tăng tường": làm chậm tai ách, thêm điềm lành.

Nhưng Khoa cũng có mặt khó chịu. Khi Khoa và Kỵ ở chung một cung, người ta thường ưu nhu, thiếu quyết đoán; chuyện dây dưa không dứt, dẫn đến lý lẽ rối loạn.

Một ví dụ cho thấy Khoa làm việc ra sao. Giả sử cung Mệnh có Văn Xương tọa thủ, năm sinh lại có Kỵ, mà can cung là Bính khiến Văn Xương tự hóa Khoa. Người này nói năng từng chữ chải chuốt, không sợ nói lắp.

Với Lộc thì khác. Khi Phúc Đức, Thiên Di, Tật Ách có Lộc năm sinh, hoặc Lộc phi qua lại giữa ba cung này (Thiên Di Lộc nhập Phúc Đức, Phúc Đức Lộc nhập Thiên Di, Thiên Di Lộc nhập Tật Ách, Tật Ách Lộc nhập Thiên Di, Phúc Đức Lộc nhập Tật Ách, Tật Ách Lộc nhập Phúc Đức), chuyện lớn hóa nhỏ, thậm chí họa còn không đến thân. Đó là phúc dày mà tai tự tiêu, hơn hẳn cái "chậm lệ tăng tường" của Khoa.

Bởi vậy khi thấy Khoa chớ vội yên lòng, cũng đừng chê nó yếu. Khoa là sự kiềm chế biết lễ nghĩa; nó làm dịu vấn đề chứ không bẻ cong số phận.

Tứ hóa theo mười thiên can

Can là trời, chi là đất. Trời lưu hành mà thành tượng, đất thành hình, và tứ hóa được lấy theo can. Can khác nhau thì sao hóa cũng khác. Bảng sau cho biết sao nào hóa Lộc, Quyền, Khoa, Kỵ theo từng can:

CanHóa LộcHóa QuyềnHóa KhoaHóa Kỵ
GiápLiêm TrinhPhá QuânVũ KhúcThái Dương
ẤtThiên CơThiên LươngTử ViThái Âm
BínhThiên ĐồngThiên CơVăn XươngLiêm Trinh
ĐinhThái ÂmThiên ĐồngThiên CơCự Môn
MậuTham LangThái ÂmHữu BậtThiên Cơ
KỷVũ KhúcTham LangThiên LươngVăn Khúc
CanhThái DươngVũ KhúcThái ÂmThiên Đồng
TânCự MônThái DươngVăn KhúcVăn Xương
NhâmThiên LươngTử ViTả PhụVũ Khúc
QuýPhá QuânCự MônThái ÂmTham Lang

Nhìn bảng sẽ thấy cùng một sao có thể hóa thành bốn dạng khác nhau tùy can: Thái Âm vừa Lộc (can Đinh) vừa Quyền (can Mậu) vừa Khoa (can Canh, Quý) vừa Kỵ (can Ất). Cũng vì vậy, đọc lá số Phi Tinh là đọc sao trong mối quan hệ với can, và với can của cung, chứ không bao giờ đọc một sao đứng một mình.

Vũ Khúc là một ví dụ rõ: gặp can Giáp thì thành Khoa, can Kỷ thì thành Lộc, can Canh thì thành Quyền, can Nhâm thì thành Kỵ. Thái Dương thì Kỵ ở can Giáp, Lộc ở can Canh, Quyền ở can Tân. Cùng một vì sao nhưng chuyển từ mùa xuân sang mùa đông chỉ vì đổi can, nên người học không nên gắn cho sao một tính tốt hay xấu cố định, mà luôn hỏi: lúc này nó đang mang hóa nào?

Nguồn: Lương Nhược Du, Phi Tinh Tử Vi Đẩu Số 12 cung 672 tượng.

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Niên sinh tứ hóa