Bài tổng quan
Trời, đất, người: chọn phương nằm và phương đi để tránh hạn
Cùng một lá số đủ tài, quan, ấn, có người làm quan đầu tỉnh, có người mãi là cán bộ huyện; có người thành tỷ phú, có người chỉ vừa đủ ăn. Khoảng cách ấy không nằm trong tám chữ, mà nằm ở nơi người ta ngủ, ở hướng chiếc giường và ở con đường bước ra khỏi cửa. Một căn phòng sai phương có thể làm bệnh phổi dai dẳng cả năm, và một lần xoay giường đôi khi hơn cả một chuyến đi xa...
Cùng một lá số đủ tài, quan, ấn, có người làm quan đầu tỉnh, có người mãi là cán bộ huyện; có người thành tỷ phú, có người chỉ vừa đủ ăn. Khoảng cách ấy không nằm trong tám chữ, mà nằm ở nơi người ta ngủ, ở hướng chiếc giường và ở con đường bước ra khỏi cửa. Một căn phòng sai phương có thể làm bệnh phổi dai dẳng cả năm, và một lần xoay giường đôi khi hơn cả một chuyến đi xa...
Trời, đất, người: cùng một lá số mà đời khác nhau
Kinh Dịch nói: ngẩng lên xem trời, cúi xuống xem đất; gần là bản thân, xa là muôn vật. Đó là lời nhắc về trời và đất, cũng là ba điều thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Khổng Minh từng nói với Lưu Huyền Đức rằng muốn thành nghiệp bá, hãy tạm nhường Tào Tháo chiếm thiên thời, Tôn Quyền chiếm địa lợi, còn mình chiếm nhân hòa, để thành thế chân vạc. Nghĩa là chiếm được một trong ba thì đã có thể lập nghiệp. Thật ra cả ba đều không thể thiếu. Chính Khổng Minh trước đó đã phân tích: dòng dõi nhà vua, tín nghĩa vang bốn phương, là bậc anh hùng cái thế, ấy là nhân hòa; lấy Kinh Châu làm nhà, rồi lấy Tây Xuyên làm nền tảng, ấy là địa lợi; đợi thiên hạ có biến, một tướng đem quân Kinh Châu ra lấy Uyển Lạc, còn người chủ đích thân dẫn dân Ích Châu ra Tần Xuyên, ấy là thiên thời. Nói chỉ cần một trong ba là nói với người biết quyền biến, nghiêng về trọng điểm mà thôi.
Với mệnh vận, có người bi quan, cho rằng tất cả do mệnh định đoạt, mọi cố gắng đều uổng công. Có người lại phủ định hoàn toàn, cho rằng chỉ cần phấn đấu thì chắc chắn đạt mục đích. Cả hai đều cực đoan. Cũng có người nói hạt nhân của mệnh vận không đổi được, mệnh thường dân thì đừng mơ làm hoàng đế; cách nghĩ ấy hợp lẽ tự nhiên. Nhưng nếu chỉ dựa vào tứ trụ thì có lúc rất khó định đoạt sát thực. Thực tế cho thấy những lá số cùng đủ cách cục tài, quan, ấn mà giàu sang chênh nhau rất xa: người là quan đầu tỉnh, người mới là cán bộ huyện; người là tỷ phú, người chỉ tạm đủ ăn.
Nếu xếp theo trọng điểm, năm, tháng, ngày, giờ sinh thuộc tiên thiên; đại vận, lưu niên, việc chọn tháng ngày giờ tốt là hậu thiên; tất cả cùng thuộc phạm trù thiên thời. Phần mộ, nhà ở, phòng ở, vị trí giường nằm, nơi làm việc, phương hướng đi đến thuộc phạm trù địa lợi. Nhân hòa chỉ là cách nghĩ, cách làm thuận theo quy luật tự nhiên. Cả những thứ ấy mới dựng nên bản chất của mệnh vận; còn chênh lệch giàu nghèo, sang hèn, họa phúc mà tứ trụ phản ánh chỉ là một phần của hạt nhân. Phần mộ, nhà ở, gen di truyền cùng tạo nên thai nhi; giữa chừng người mẹ mang thai dọn đến một căn nhà xấu cũng đủ làm sẩy thai. Một mầm tốt mà hậu thiên không bồi đắp thì cũng khô héo. Bậc đại đức đại thành tất phải có tiên thiên dồi dào thuần khiết, hậu thiên tu dưỡng công phu, phần mộ và nhà ở đều đẹp. Mộ phần, nhà ở xấu mà lại không lo tu dưỡng bản thân thì mệnh tốt đến đâu cũng khó tránh tai ác. Mệnh không xung khắc thiên thời, hành vi không trái địa lợi, nhân hòa thì chắc chắn tốt. Vậy nên không phủ nhận mệnh vận, nhưng rất coi trọng việc bổ cứu của hậu thiên; còn có gì vượt qua được trời đất? Bởi thế phương vị nên tránh trở thành yếu tố quan trọng trong các cách hóa giải tai ách.
Lấy nơi sinh làm gốc, lấy chỗ ở làm tâm
Các nhà mệnh học đều biết phương nên tránh hay nên đến không ngoài quy tắc: tránh phương kỵ thần, đi theo phương hỉ thần, dụng thần. Nhưng lấy gì làm chuẩn? Có người nói nên lấy quê hương tổ tiên, có người lấy nơi sinh của người cha; cả hai đều chưa đúng. Mệnh vận tứ trụ là ngày giờ sinh nên lấy nơi sinh làm gốc để định phương hướng là đúng nhất, cho cả cuộc đời. Nhưng có người vì nhiều lẽ mà xa quê, sống ở vùng khác đã lâu, quen với môi trường ở đó. Với năm ứng tai ách, phương nên tránh phải xác định theo nơi đang ở. Như thế mỗi vận là một thái cực: Dịch có bất biến và có biến dịch. Không hiểu điều ấy thì như người mù đi đường, chẳng biết bắt đầu từ đâu để tới điều tốt, tránh điều xấu.
Năm ứng tai ách, lấy chỗ ở làm tâm; trong vòng bán kính chừng hai mươi đến ba mươi cây số, khí hậu nói chung ít đổi; ra khỏi phạm vi ấy mới kể là đi xa. Khi đi xa phải tránh phương cừu thần, kỵ thần, nên đi hướng hỉ thần, dụng thần. Còn nếu vẫn ở trong phạm vi ấy thì cũng nên kiêng hoạt động nhiều ở phương cừu, kỵ thần, mà hoạt động nhiều ở phương hỉ, dụng thần.
Trong nhà thì căn cứ trung tâm ngôi nhà để định phương hướng; trung tâm là giao điểm của hai đường chéo nền nhà. Phương xấu của căn nhà vừa là phương cừu, kỵ thần của chủ nhân, vừa là phương xấu theo phong thủy. Nên tránh hoạt động nhiều ở phương bất lợi, trong nhà cũng như vùng quanh nhà; nếu không thì mệnh tốt cũng chịu ảnh hưởng ở mức nào đó.
Nhiều người mệnh xấu cố đi xa nhưng lại ở trong một căn phòng xấu. Chẳng hạn người hỏa vượng kim nhược ở căn phòng phía nam nên không tránh được viêm phổi, bệnh lặp đi lặp lại mãi không khỏi; về sau dọn sang phòng phía bắc thì không uống thuốc mà khỏi. Cho nên năm ứng tai họa có thể đi xa một lần, nhưng phải thật cẩn thận; cũng có thể không đi xa mà chỉ đổi phòng, đổi chỗ giường, ấy là tiện nhất. Người ra ngoài vẫn chịu ảnh hưởng của môi trường nơi ở: bên ngoài khí trường phân tán nên ảnh hưởng ít, trong phòng khí trường tụ nên ảnh hưởng nhiều. Có người hỉ thần là hỏa, được dặn phương nam lợi cho mình, không ngại xa xôi đi về phương nam mà vẫn gặp rủi ro, vì phương nam của ngôi nhà họ ở rất xấu. Có lúc đi xa không bằng đổi chỗ trong nhà, nhất là với người già, vừa đỡ tốn tiền vừa đỡ hại sức. Ngay bên cạnh cũng có âm dương, cần gì tìm xa. Nếu biết dùng phương tốt ngay trong nhà thì dù không đi xa cũng hóa giải được.
Nhưng có lúc phương của hỉ thần, dụng thần không trùng với phương cát lợi theo phong thủy; ấy là lý do người có hỉ thần là hỏa, ở phòng phía nam vẫn gặp rủi ro. Người so với nhà thì cát hung của nhà quan trọng hơn, nên phải xác định rõ phương cát hung của ngôi nhà. Phong thủy học cao sâu, nên những điều sắp nói chỉ là phần cơ bản, nhưng nắm vững cũng đủ hóa giải tai họa. Nếu không rành phong thủy thì lập một quẻ: khi hào tử tôn của quẻ là quẻ thế mà vượng thì chắc chắn không có gì đáng lo.
Giường nằm phải tránh phương nào trong năm hạn
Cái giường nằm yên một chỗ, nhưng mỗi năm có những phương mang sát khí đi qua nó.
Trước hết là tam sát. Tam sát là ba phương tuyệt, thai, dưỡng của tam hợp cục; tuyệt là kiếp sát, thai là tai sát, dưỡng là tuế sát. Tam sát là khí ám muội, phạm phải thì gặp nhiều điều xấu. Năm hợi, mão, mùi có tam sát ở các phương thân, dậu, tuất. Năm dần, ngọ, tuất có tam sát ở các phương hợi, tý, sửu. Năm tị, dậu, sửu có tam sát ở các phương dần, mão, thìn. Cách làm là xác định trung tâm ngôi nhà và tám phương; sát ở phương đông thì kiêng đặt giường ở phía đông, các trường hợp khác theo đó mà suy.
Kế đến là phương thái tuế và phương tuế phá. Phương thái tuế là phương của chính năm ấy: năm tý ở phương tý, năm sửu ở phương sửu, năm dần ở phương dần. Phương tuế phá là phương xung với nó: năm tý ở phương ngọ, năm sửu ở phương mùi, năm dần ở phương thân. Gặp năm hạn, nhất là năm mệnh xung thái tuế, vị trí giường không được đặt ở phương thái tuế hay tuế phá, nhất là tuế phá của căn nhà. Ví dụ người có năm, tháng hoặc ngày mùi, thì năm Đinh sửu 1997 gặp hạn thái tuế, giường kiêng đặt ở phương sửu và mùi, nhất là phương mùi. Còn mệnh gặp hạn phục ngâm thì không được đặt giường ở phương thái tuế và tuế phá, kỵ nhất là phương thái tuế: người có năm, tháng hoặc ngày sửu, năm 1997 phạm phục ngâm, giường không đặt ở phương sửu, mùi, kỵ nhất là phương sửu, vì phục ngâm sẽ nặng thêm.
Thứ ba là phương tuế hợp với can: năm Giáp ở phương Kỷ; năm Ất ở phương Canh; năm Bính ở phương Tân; năm Đinh ở phương Nhâm, và cứ thế theo các cặp can hợp. Kinh Dịch nói người có tuế hợp với can là sự hợp của âm dương, trời đất, chủ về giảm nhẹ tai ách, tăng thêm phúc lộc; cách này rất hợp để dùng cho mệnh cục. Chẳng hạn nhật nguyên Canh kim, trụ tháng có Quý thủy là thương quan, thì năm Đinh sửu 1997 thương quan gặp quan, không tốt; giường nên đặt ở phương Nhâm hợp với can Đinh, để tham hợp mà quên khắc, hóa hung thành cát.
Thứ tư là phương lục hợp: năm tý ở phương sửu, năm sửu ở phương tý, năm dần ở phương hợi, năm mão ở phương tuất, năm thìn ở phương dậu, và cứ thế. Hợp với thái tuế chủ về điều mừng; cách này cũng rất hợp với mệnh cục. Chẳng hạn chi ngày sinh là mùi thổ, thì năm Đinh sửu 1997 cung vợ chồng xung phạm thái tuế, không tốt; giường nên đặt ở phương tý, là phương lục hợp, tham hợp mà quên xung, hóa hung thành cát. Lại như tứ trụ có mùi và tuất thì năm 1997 gặp tam hình, không tốt, giường cũng nên đặt ở phương tý của lục hợp, tham hợp mà quên hình.
Cửu tinh bay vào chín cung: tìm Ngũ hoàng và Nhị hắc
Chín sao là Nhất bạch, Nhị hắc, Tam bích, Tứ lục, Ngũ hoàng, Lục bạch, Thất xích, Bát bạch, Cửu tử. Chín cung là Khảm, Khôn, Chấn, Tốn, cung giữa, Càn, Đoài, Cấn, Ly. Chín sao bay thuận vào chín cung theo thứ tự: bước một vào cung giữa; bước hai vào Càn; bước ba vào Đoài; bước bốn vào Cấn; bước năm vào Ly; bước sáu vào Khảm; bước bảy vào Khôn; bước tám vào Chấn; bước chín vào Tốn.
Ba nguyên chín vận chia thời gian thành các giai đoạn hai mươi năm: từ 1864 đến 1923 là thượng nguyên, từ 1924 đến 1983 là trung nguyên, từ 1984 đến 2043 là hạ nguyên. Mỗi năm có một sao nhập cung giữa, và mỗi năm sao ấy lùi một bậc: năm Giáp tý, thượng nguyên là Nhất bạch, trung nguyên là Tứ lục, hạ nguyên là Thất xích; năm Ất sửu lùi thành Cửu tử, Tam bích, Lục bạch; năm Bính dần lùi thành Bát bạch, Nhị hắc, Ngũ hoàng, cứ thế đi tiếp. Sao nhập giữa của từng tháng cũng lùi mỗi tháng một bậc: năm tý, ngọ, mão, dậu, tháng giêng là Bát bạch, tháng hai Thất xích, và đến tháng chạp là Lục bạch; năm thìn, tuất, sửu, mùi tháng giêng là Ngũ hoàng; năm dần, thân, tị, hợi tháng giêng là Nhị hắc.
Lấy năm Bính tý 1996 làm ví dụ. Bước một: năm 1996 nằm trong khoảng 1984 đến 2003, nên thuộc hạ nguyên, vận bảy. Bước hai: năm Bính tý ở hạ nguyên thì Tứ lục nhập cung giữa. Bước ba: bay thuận vào chín cung, Tứ lục ở giữa, Ngũ hoàng ở Càn, Lục bạch ở Đoài, Thất xích ở Cấn, Bát bạch ở Ly, Cửu tử ở Khảm, Nhất bạch ở Khôn, Nhị hắc ở Chấn, Tam bích ở Tốn. Muốn biết sao của tháng 5 thì tra bảng tháng, thấy Tứ lục nhập giữa, cách bay giống như năm. Muốn biết tháng chạp thì Lục bạch nhập giữa, Thất xích ở Càn, Bát bạch ở Đoài, Cửu tử ở Cấn, Nhất bạch ở Ly, Nhị hắc ở Khảm, Tam bích ở Khôn, Tứ lục ở Chấn, Ngũ hoàng ở Tốn.
Trong chín sao, Ngũ hoàng và Nhị hắc là sao tai ách, bệnh tật. Một sao đến riêng lẻ thì tai ách còn nhẹ; hai sao cùng đến thì nặng hơn, nghiêm trọng có thể chết người. Các tổ hợp hai sao cùng đến là năm Ngũ hoàng tháng Ngũ hoàng; năm Ngũ hoàng tháng Nhị hắc; năm Nhị hắc tháng Nhị hắc; năm Nhị hắc tháng Ngũ hoàng; tổ hợp nào cũng xấu. Khi Ngũ hoàng, Nhị hắc đến thì không nên ở hay hoạt động ở phương bất lợi. Trước hết xác định cung giữa của nhà và tám phương; phòng ngủ và giường nằm đều kỵ phương Ngũ hoàng, Nhị hắc. Tiếp theo xem tám phương: nếu cửa chính của nhà đúng phương Ngũ hoàng hoặc Nhị hắc, gặp tháng Ngũ hoàng hoặc Nhị hắc đến thì người ở phòng ấy khó tránh tai ách.
Khi thấy như vậy, tốt nhất tạm chuyển phòng hoặc tạm đóng cửa, không hoạt động ở đó nữa. Cố gắng hóa giải nhưng chưa bảo đảm chắc chắn tai qua nạn khỏi. Nên đeo thêm trang sức vàng bạc, hoặc bỏ sáu bông hoa bạc vào bể nước ăn, hoặc năm ấy ở phương Lục bạch nên đặt tivi để sinh hoạt nhiều theo phương đó. Ví dụ năm 1996 Ngũ hoàng ở Càn, Nhị hắc ở Chấn; tháng 5 Ngũ hoàng đến Càn, Nhị hắc đến Chấn; cả năm và tháng Lục bạch đều ở Đoài, nên có thể hoạt động nhiều ở phương Đoài.
Khi mệnh, nhà và hành vi cùng hung
Có một người phụ nữ nhờ hóa giải cho chồng. Lá số người chồng gồm năm Ất mùi, tháng Nhâm ngọ, ngày Bính thìn, không biết giờ sinh; lưu niên là Bính tý. Mệnh này hỏa vượng, kình dương lẫn sát, phải đề phòng bất trắc dẫn đến lao tù. Năm 1992 người này đã bị ngồi tù, đến năm 1994 mới ra. Năm 1996 gặp ngang vai và kình dương, tuy có mùi thổ hợp giải, nhưng khó tránh điều xấu. Cửa chính nhà quay về hướng đông, phương của tòa nhà cao tầng; năm ấy Nhị hắc, tháng 5 Ngũ hoàng đến, quả nhiên ngày 12, 13 người này bị bắt vì một vụ cướp. Mệnh hung, nhà hung, hành vi hung thì số kiếp khó tránh. Người vợ được gieo một quẻ vào năm Bính tý, tháng Canh tý, ngày Quý mão, được quẻ Trạch Lôi Tùy biến thành Hỏa Lôi Phệ Hạp.
Quan tinh là dụng thần; quan động hóa tài, tài động sinh quan, nên có tiền thì giải cứu được. Hào thế gặp tuần không, nghĩa là trong nhà không có tiền, lại gặp chu tước, cần đi về phương mùi hoặc gặp người tuổi dê để vay tiền. Nếu năm nay không tích cực giải cứu thì sang năm là mộ kho, rất dễ ngồi tù. Mấy hôm sau, quả nhiên có tin cần hơn một vạn đồng để nộp phạt thì có thể được tha; gia đình đang chuẩn bị.
Nguồn: Thiệu Vĩ Hoa, Trần Viên, Dự đoán theo Tứ trụ.
