Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Phi hóa

Bài tổng quan

Thể và dụng, nhân và quả: nền tảng của cách đọc phi hóa

Tử Vi Bắc Phái - Phi hóa03/10/202611 phút đọc2 lượt đọc
Thể và dụng, nhân và quả: nền tảng của cách đọc phi hóa

Cung Huynh Đệ phi Kỵ vào Thiên Di, nói anh em ta ngay thẳng thật thà hay anh em ta lao lực? Chỉ một bước đọc lệch là câu trả lời đổi hẳn. Muốn khỏi lạc đường, phải biết cung nào là nhân, cung nào là quả…


Vì sao đọc phi hóa không giống đọc tính chất sao

Phi Tinh giải thích mệnh bàn bằng một lối riêng, không dựa vào tính chất vốn có của từng vì sao. Dù là một cung đứng một mình, một cung tự hóa, hai cung nối nhau, hay các cung hỗ hóa cho nhau, mỗi cách đều sinh ra một tầng nghĩa đặc biệt. Cái tên cung và dạng tứ hóa đã định sẵn "phương hướng giải thích": cung khác nhau, hóa khác nhau thì kết quả giải thích đương nhiên khác nhau.

Vì thế khi đọc một mệnh bàn, người ta xác định phương hướng trước, tức xem cung nào đang nói chuyện với cung nào, bằng hóa gì; rồi mới thêm tinh diệu vào, và tổng hợp lại để luận. Mười hai cung chứa quá nhiều chuyện thế gian nên khó mà chia gọn từng ngăn; cung và tứ hóa phải được hiểu một cách rộng rãi, linh hoạt. Có hai việc cần làm:

  • Định nghĩa mỗi cung từ mặt phẳng đến tầng sâu của "hoạt bàn". Hiểu thấu cung rồi mới lập thể và xen hóa tượng vào.
  • Giải thích Lộc, Quyền, Khoa, Kỵ một cách rộng, gần đời sống giữa các cung, để cho vui, giận, yêu, ghét hiện ra rõ ràng.

Nhiều người học Phi Tinh tứ hóa cả chục năm mà khó tiến, phần lớn vì vướng ở nghĩa cơ bản của cung và tứ hóa. Khái niệm chưa đầy đủ thì câu trả lời thường trái bản nghĩa, thậm chí sai hẳn bản chất, khiến người xem đáp bừa hoặc dở khóc dở cười.

Nền tảng ấy gói lại trong vài cặp khái niệm đối xứng: xuất và nhập, nhân và quả, thể và dụng, tĩnh và động. Hiểu được chúng, mọi mũi tên phi hóa sẽ có chỗ đặt.

Hóa xuất và hóa nhập, nhân cung và quả vị

Lấy một ví dụ: cung Mệnh phi Hóa Lộc nhập cung Sự Nghiệp. Cung Mệnh là nơi hóa phát ra, gọi là hóa xuất cung. Cung Sự Nghiệp là nơi hóa đổ vào, gọi là hóa nhập cung. Người ta thường nói gọn là "Mệnh Lộc nhập Sự Nghiệp".

Giữa hai cung, mũi tên hóa sinh ra một quan hệ đối đãi. Đứng ở lập trường đối đãi ấy, cung phát ra có thể gọi là nhân cung, cung nhận về là quả vị. Mọi hiện tượng, lành hay dữ, thuận hay trắc trở, đều không vượt khỏi phạm vi nhân quả này. Muốn biết chuyện gì sẽ xảy ra, hãy hỏi: cung nào là nhân, cung nào là quả, và hóa nào nối chúng?

Cùng một hai cung, đổi hóa là đổi nghĩa. Thử lấy Tài Bạch và Mệnh. Khi Tài Bạch Hóa Kỵ nhập Mệnh, tức Tài Bạch là hóa xuất cung và Mệnh là hóa nhập cung, thì đó là kiếm tiền khổ cực hoặc thu nhập lương cố định; gặp vận kém còn khổ vì tiền. Nếu đổi lại thành Tài Bạch Hóa Lộc nhập Mệnh, tiền đến dễ dàng, dùng tiền không phiền não (nhưng không phải do mình tự kiếm), cuộc sống khá vui vẻ. Như vậy hóa xuất cung, hóa nhập cung, và hóa tượng mà Tài Bạch sinh ra, đều góp phần quyết định chuyện lành dữ.

Tĩnh bàn và động bàn: bàn ghi sẵn và dòng thời gian

Lá số lúc lập xong gọi là tĩnh bàn, còn gọi là thiên bàn, bản mệnh bàn, thái cực bàn. Ở tĩnh bàn đã có những tượng vị có thể nói lành dữ. Nhưng năm tháng cứ lưu chuyển, nên có động bàn: đại hạn, lưu niên và các bàn tương tự. Động bàn khế ứng với tĩnh bàn, từ đó mà sinh ra sự tiêu trưởng, lúc lành tăng, lúc dữ giảm.

Cổ nhân tóm tắt: cát hung hưu cữu sinh ra từ "động"; "động" sinh ra tứ hóa; hóa sinh ra tượng; rồi lấy tượng để xét cát hung. Giống như một năm lưu chuyển bốn mùa, bởi tượng biến hóa nên có hy vọng (Lộc), vượng thịnh (Quyền), thu được (Khoa), ẩn núp (Kỵ), và nhân sự mỗi lúc một khác.

Khi động bàn là dụng khế ứng với tĩnh bàn là thể, ta có "đối đãi hóa tượng", và lành dữ từ đó sinh ra. Cùng một tĩnh bàn, đến các thời điểm đại hạn, lưu niên khác nhau thì tình trạng nhân sự khác, kết quả cũng khác.

Ví dụ: Phụ Mẫu, Mệnh, Huynh Đệ là những cung chí thân. Giả sử bản mệnh có Phu Thê Hóa Lộc nhập Mệnh. Đến đại hạn thứ hai, Phu Thê Lộc nhập đại hạn rơi vào Huynh Đệ (khi đại hạn đi thuận) hoặc Phụ Mẫu (khi đại hạn đi nghịch). Bất kể là cung chí thân nào, có thể mạnh dạn luận rằng lúc Lộc nhập bản mệnh đại hạn thứ hai là lúc tình cảm bắt đầu nảy sinh. Đến đại hạn thứ ba, Phu Thê Lộc nhập đại hạn rơi trúng cung Phu Thê (thuận hành), hoặc đại hạn Mệnh (tức bản mệnh Phu Thê) Lộc nhập bản mệnh Mệnh (nghịch hành). Lúc này quan hệ đối đãi khớp thẳng vào cung vị của đương sự, và tình duyên đạt tới độ chín.

Tự hóa: khi mũi tên rơi ngay vào chính cung phát ra nó

Nếu một cung diễn hóa ra hóa tinh mà hóa ấy vẫn nằm ở bản cung, không bay sang cung khác, thì gọi là tự hóa. Ví dụ cung Mệnh hóa ra Lộc mà sao Lộc đó vẫn ngồi ở Mệnh, ta nói "Mệnh cung tự hóa Lộc xuất", gọi gọn là "Mệnh tự hóa Lộc". Quyền, Khoa, Kỵ cũng theo cách gọi ấy. Cứ tự hóa là gọi "xuất", và có hai tầng nghĩa:

  • Về tình cảm, tính nết. Dễ dụng tình ngay trước mắt, rồi sau đó thờ ơ. Trông như tự tại nhưng thiếu nguyên tắc, thậm chí tự cao, nhạt nhẽo, mâu thuẫn, chịu đựng chưa đủ, không giải quyết được gì, không nhớ lời dạy. Mọi thiếu sót ấy xuất phát từ chỗ không có cái "giữ vững không làm trái", tức thiếu lý tính và chấp tính.
  • Về sự việc, vật chất. Tự hóa Lộc là "từ không sinh ra có". Tự hóa Quyền là phô trương thanh thế không có thực. Tự hóa Khoa là việc đời lơ lửng như có như không. Tự hóa Kỵ là quá mức, cố chấp tới chỗ tự hủy, biến có thành không. Người như vậy ít nhìn đại cục, cuối cùng không chịu nổi va chạm và thử thách.

Tự hóa tồn tại cùng nghĩa với bản cung: nó tự tiêu tán. Hai dạng đáng sợ nhất là Lộc xuất và Kỵ xuất. Tự hóa Lộc xuất giống như đưa tiền ra khỏi nhà, dễ gặp nạn. Tự hóa Kỵ xuất làm bản cung âm thầm tiêu hao, dần dần rỗng ruột.

Thể và dụng: lập thái cực rồi mới hồi quy

Để tượng nghĩa không tràn lan, phải phân rõ thể và dụng. Thể là bản mệnh, tức mệnh bàn mười hai cung. Dụng là cung nào mình lấy ra để xét việc đang hỏi, gọi là "cung vị hạ thủ". Hỏi chuyện anh em thì lấy Huynh Đệ làm dụng.

Thử xem một ví dụ. Cung Huynh Đệ phi Hóa Kỵ nhập Thiên Di. Phải đọc như thế nào? Huynh Đệ phi Kỵ rơi vào Thiên Di, ta quay trở lại với bản mệnh và dùng chính nghĩa của cung Thiên Di để giải: anh em ta ngay thẳng, thật thà. Đây là quy tắc "hồi quy thái cực".

Nói cách khác, cung phát ra hóa là dụng; cung nhận hóa trở về nguyên mệnh bàn vốn là cung vị của thể. Nếu không làm như thế mà lại đọc cung nhận theo vị trí "cung của cung" của Huynh Đệ, rằng Huynh Đệ phi Kỵ vào cung Tật Ách, thì sẽ ra kết luận lệch lạc: anh em ta cần mẫn và lao lực. Đó là sai. Dụng phải trở về thể, ấy là phép "hồi quy thái cực"; việc vận dụng tứ hóa không có phép nào khác.

Kỵ nhập, kỵ xuất và chấp tính

Lấy Kỵ năm sinh làm ví dụ, để phân biệt Kỵ nhập và Kỵ xuất. Kỵ rơi vào cung Mệnh là Kỵ nhập Mệnh. Kỵ rơi vào cung Thiên Di là Kỵ nhập Di, cũng có thể gọi là Mệnh Kỵ xuất, vì Mệnh là bên trong, Thiên Di là bên ngoài.

Kỵ nhập Mệnh thì cá tính cố chấp, không tốt cho quan hệ, khó ở chung, hay lo buồn vô cớ. Phàm Kỵ năm sinh nhập cung nào, ở cung ấy mang nghĩa cố chấp và dốc sức đi ra. Dù không đạt được gì thì cũng là lao tâm lao lực.

  • Kỵ nhập Sự Nghiệp: gọi là "thiếu nợ sự nghiệp". Trong công việc quá vội, một mình kiêm cả chủ lẫn tớ. Nữ mệnh gặp thường làm nghề đàn bà, nhưng mỗi người một phúc phận.
  • Kỵ nhập Giao Hữu: gọi là "thiếu nợ bạn bè". Đó là người có tình có nghĩa, chịu bỏ ra cho người ngoài. Kỵ nhập Giao Hữu thì xung Huynh Đệ, tức xung cung "thủ thành", cung kho của ta. Khố vị bị xung thì không lành, khó yên ổn.
  • Kỵ nhập tam phương Điền Trạch: lại là điềm lành. Đó là "sao thu tàng nhập cung thu tàng", đắc kỳ sở: chăm lao động sẽ có thành quả.

Nếu Kỵ rơi vào Thiên Di, tức Mệnh Kỵ xuất, thì người ấy ngay thẳng, thật thà, không giả tạo bề ngoài. Nói cách khác, Kỵ xuất rơi vào cung đối nào cũng mang tượng "xuất ra mà không giữ lại". Tài Bạch Hóa Kỵ nhập Phúc Đức là người chịu xài tiền, vui hơn người; nhưng với Tài Bạch đó là Kỵ xuất nên không giữ được tiền, cuộc sống ấy cũng chẳng phải điềm cát. Hay như Phu Thê Kỵ xuất vào Sự Nghiệp: người phối ngẫu cố chấp với công việc, tình cảm hôn nhân chảy ra ngoài, bằng mặt mà không bằng lòng. Không thể nói hôn nhân như thế đã tới ly dị, mà chỉ là tiềm ẩn nguy cơ.

Phàm Kỵ nhập đối cung, Kỵ xuất, tuy có mất mát nhưng không rời "chấp tính" nằm dưới hành động. Cho nên nếu mất thì người ta cũng "biết rõ trong lòng".

Còn một kiểu Kỵ xuất khác: cung Mệnh can Giáp khiến Thái Dương hóa Kỵ, mà Thái Dương lại ngồi ngay cung Mệnh. Đó là Mệnh tự hóa Kỵ xuất. Hai loại này khác nhau rõ rệt:

  • Tự hóa Kỵ xuất. Không có chỗ rơi vào đâu, nên tự tiêu tán, không nguyên tắc, không có chấp tính. Người như vậy khó dạy, thiếu nguyên tắc, hay đổi lòng, hay ăn ở hai lòng; tình yêu hận hình như không để tâm. Nhưng cả đời e khó thành một người "minh bạch" thật sự.
  • Kỵ nhập đối cung. Có chấp tính trong hành động. Đó là cá tính thẳng thắn nhưng chưa viên mãn, vẫn còn bản ngã.

Hai cực, hai thiếu sót. Cố chấp quá thì tự chuốc buồn khổ, từ chỗ trí khôn biến thành "chọn điều thiện mà cố chấp", rồi sinh ra hay nghi ngờ. Vô chấp quá thì mất nền.

Đừng chém đinh chặt sắt với một hóa

Đẩu Số là môn tìm tòi đời sống. Lý lẽ của nó khớp với hiện tượng nhân sự, thuộc về suy luận và quan niệm; vì vậy không thể lấy số học cộng trừ tăng giảm để ra kết quả. Tứ hóa tự nó là một "ký hiệu" rất rộng, giống như "phương hướng" hay "giá trị năng lượng", tuyệt đối không thể dùng toán học để định cho nó một con số.

Học cách giải tượng của tứ hóa cần dụng tâm cân nhắc giữa tứ hóa và cung vị. Nếu nghĩa cơ bản chưa rõ, kết quả phi hóa về sau sẽ lẫn lộn, vì dồn nén mà không tiêu hóa nổi. Từ chỗ này, mọi câu "Mệnh Lộc nhập Sự Nghiệp" hay "Phu Thê Kỵ nhập Phúc Đức" nên được coi là một hướng luận đơn thuần; khi thêm phi hóa từ cung khác, hay gặp tứ hóa năm sinh, tượng nghĩa có thể đổi lớn. Huống hồ luận mệnh là nhìn tổng quát cả cục để đánh giá, không phải gặp một hóa mà phán chắc như đinh đóng cột.

Đó là lời nhắc cẩn trọng của người đi trước.

Nguồn: Lương Nhược Du, Phi Tinh Tử Vi Đẩu Số 12 cung 672 tượng.

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Phi hóa