Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bát Tự Hà Lạc

Bài tổng quan

Thần sát Tứ trụ: cách tra từ thiên đức đến kiếp sát

Bói Dịch - Bát Tự Hà Lạc01/10/202618 phút đọc2 lượt đọc
Thần sát Tứ trụ: cách tra từ thiên đức đến kiếp sát

Hai người sinh cùng tháng, một người gặp thiên đức, người kia không; người trước đi qua hiểm nguy như có thần hộ mệnh. Thần sát không quyết định số phận, nhưng là những dấu hiệu rất nhạy. Mỗi sao tra thế nào, báo điều gì…


Thần sát có dùng được không, và dùng đến đâu

Về thần sát trong mệnh cục Tứ trụ, có nơi khẳng định, có nơi phủ định. Qua kiểm nghiệm trong đoán thực tế có thể khẳng định thần sát có vai trò của nó. Có thứ tác dụng rất lớn, như kình dương dùng để đoán việc xấu rất chuẩn, như thiên đức, nguyệt đức dùng khi gặp hung hóa cát cũng rất chuẩn. Những thần sát khác như hoa cái, thiên y, trạch mã, đào hoa dùng để bàn về tính cách và nghề nghiệp của con người thì rất hay. Còn trong việc đoán cát hung cả một đời người, tác dụng của chúng không nổi bật bằng kình dương, thiên đức, nguyệt đức. Thần sát phần nhiều lấy địa chi làm căn cứ, nên có thể làm tăng thêm lực của hình, xung, hợp, hại. Dưới đây chỉ nêu những cách ghi nhớ quy luật nhanh nhất cho các thần sát thường gặp.

Cát thần và hung sát không phải càng nhiều càng tốt

Cát thần không có nghĩa là trong Tứ trụ càng nhiều càng tốt, và hung sát cũng không phải cứ không có là tốt. Rất nhiều thần sát luôn có cả mặt cát lẫn mặt hung. Từ kinh nghiệm tổng kết được, người có nhiều thần sát là mệnh cục tương đối phức tạp; nhưng nếu tổ hợp Tứ trụ tốt lại phối với thần sát thì thường là người siêu quần xuất chúng. Còn người dân bình thường nói chung thần sát không nhiều, và thần sát càng ít thì việc đoán càng đơn giản. Dĩ nhiên không có gì tuyệt đối: người nhiều hung sát chưa chắc gặp xấu. Mấu chốt là xem tổ hợp của Tứ trụ và tổ hợp của tuế vận là hỉ hay là kị.

Thần sát hoặc cát hoặc hung cũng không tuyệt đối, chỉ có thể nói thần nào đó lấy cát làm chính, sát nào đó lấy hung làm chính. Cát thần mà gặp hình, xung, khắc, hại thì như không có. Hung sát mà bị chế, bị hợp, không đủ sức làm hại thì cũng chẳng còn gì đáng kị. Các thiên can và địa chi đứng dưới nó, gặp cát thần hay hung sát, nhờ đó mà can chi ấy có đắc lực hay không, trở thành vượng hay suy. Phải xem các can chi ấy có bị hình hợp, xung khắc hay không để biết nó có tác dụng hay không. Mệnh cục gặp cát thần thì cả cuộc đời thuận lợi trọn vẹn; trong vận, trong năm gặp cát thần thì đã tốt càng thêm tốt. Tứ trụ kị gặp hung thần vì cả đời hay bị tai họa; trong vận, trong năm gặp hung thần thì hung càng thêm hung.

Thiên đức và nguyệt đức: hai vị cứu tinh

Thiên đức và nguyệt đức tra theo tháng sinh.

Thiên đức quý nhân

Người sinh tháng tý thấy tị; tháng sửu thấy canh; tháng dần thấy đinh; tháng mão thấy thân; tháng thìn thấy nhâm; tháng tị thấy tân; tháng ngọ thấy hợi; tháng mùi thấy giáp; tháng thân thấy quý; tháng dậu thấy dần; tháng tuất thấy bính; tháng hợi thấy ất. Người nào sinh vào tháng ấy mà tra thấy các can chi như vậy trong Tứ trụ là có thiên đức quý nhân.

Cách tra cho người sinh các tháng tý, ngọ, mão, dậu xuất phát từ ngôi trường sinh của ngũ hành. Ngoài ra còn cách gọi tháng tý gặp quẻ tốn thìn là thủy đức, vì nguồn xuất thủy quy mộ về cung tốn; tháng mão gặp quẻ khôn mùi là mộc đức, vì nguồn xuất mộc quy mộ về cung khôn; tháng ngọ gặp quẻ càn tuất là hỏa đức, vì nguồn xuất hỏa quy mộ về cung càn; tháng dậu gặp quẻ cấn sửu là kim đức, vì nguồn xuất kim quy mộ về cung cấn. Thiên đức chỉ dùng địa chi chứ không dùng thiên can. Trong kiểm nghiệm thực tế, lấy chính ngôi trường sinh để xác định thiên đức quý nhân cho người sinh các tháng tý, ngọ, mão, dậu, tức chia ra thành tị, hợi, thân, dần, là khá chuẩn.

Nguyệt đức quý nhân

Lấy chi tháng làm chủ để tra các thiên can trong Tứ trụ. Sinh các tháng dần, ngọ, tuất thấy bính. Sinh các tháng thân, tý, thìn thấy nhâm. Sinh các tháng hợi, mão, mùi thấy giáp. Sinh các tháng tị, dậu, sửu thấy canh. Cách nhớ dựa vào khí của tam hợp: dần, ngọ, tuất thuộc hỏa nên lấy bính hỏa làm đức; thân, tý, thìn thuộc thủy nên lấy nhâm thủy; hợi, mão, mùi thuộc mộc nên lấy giáp mộc; tị, dậu, sửu thuộc kim nên lấy canh kim. Phàm các tháng trong cục gặp can dương vượng khí đều là gặp nguyệt đức.

Hai quý nhân thiên đức và nguyệt đức đều chủ về người có cuộc đời không gặp nguy hiểm. Thiên đức quý nhân là cát tinh phúc tường, tính tình nhân từ đôn hậu, đời nhiều phúc, ít nguy hiểm, gặp hung hóa cát, hóa hiểm thành an, như có thần bảo hộ. Nguyệt đức quý nhân là cát tinh phúc thọ. Trong Tứ trụ có cả thiên đức và nguyệt đức là người có năng lực gặp hung hóa cát rất mạnh: gặp được cát thần thì càng thêm tốt, gặp phải hung thần cũng bớt xấu đi nhiều, nhưng gặp xung khắc thì vô dụng.

Thiên ất quý nhân và lộc thần: hai ngôi sao của công danh

Thiên ất quý nhân

Lấy can ngày hoặc can năm làm chủ để tra các địa chi trong Tứ trụ. Can ngày hoặc can năm là giáp, mậu thấy sửu, mùi; ất, kỷ thấy tý, thân; bính, đinh thấy hợi, dậu; canh, tân thấy dần, ngọ; nhâm, quý thấy mão, tị.

Người tra thấy như vậy là có thiên ất quý nhân. Cát tinh này chủ về thông minh, trí tuệ, là thần gặp hung hóa cát. Nếu hợp hóa thành dụng thần hoặc hỉ thần thì rất tốt; rất kị gặp hình, xung, khắc, hại, suy, bệnh, tử, tuyệt. Người thân vượng thì phúc quý càng tăng, cuộc đời ít bệnh tật; người thân nhược thì bệnh nhiều hoặc phúc quý bị giảm. Thiên ất quý nhân là ngôi sao ở bên trái sao Tử Vi trong thiên thể, là chủ tể của muôn thần. Trụ năm hoặc trụ tháng gặp được hai quý nhân là có ý phân âm dương để trị, hàm ý trong ngoài có khác nhau. Thìn, tuất là vị trí của sao khôi cương, cho nên quý nhân không đến.

Lộc thần

Lấy can ngày làm chuẩn để tra các địa chi trong Tứ trụ. Ngày giáp lộc ở dần; ngày ất lộc ở mão; ngày bính, mậu lộc ở tị; ngày đinh, kỷ lộc ở ngọ; ngày canh lộc ở thân; ngày tân lộc ở dậu; ngày nhâm lộc ở hợi; ngày quý lộc ở tý.

Can ngày mà gặp lộc trên chi năm gọi là tuế lộc, trên chi tháng là kiến lộc, trên chi ngày là chuyên lộc hay tọa lộc, trên chi giờ là quy lộc. Thần lộc vượng mà gặp địa chi kiếp tài, không bị hình, xung, khắc, phá thì chủ về công danh thuận lợi. Thân vượng mà lộc nhiều thì nên bị khắc cho xì hơi bớt; thân nhược mà lộc vượng lại không bị phá đều là quý mệnh. Lộc kị bị xung phá: giáp lộc ở dần gặp thân là bị phá; lộc mão kị gặp dậu; lộc tị kị gặp hợi; lộc ngọ kị gặp tý. Quan viên gặp phải thì mất quan mất chức, nghèo khổ hư danh; người thường gặp phải thì cơm áo không no, bôn ba vất vả.

Lộc nhờ có thế lực mà được hưởng thì gọi là lộc, là cát thần. Lộc là khí của bốn mùa, tùy theo ngũ hành vượng. Trong đó bính lộc ở tị, đinh lộc ở ngọ, mậu lộc ở tị, kỷ gửi ở ngọ, vì hỏa sinh thổ nên thổ nhờ mẹ mà được hưởng lộc. Thìn, tuất là khôi cương, là chỗ ác địa kém cỏi nên lộc thần không gửi ở đó. Sửu, mùi là cửa xuất nhập của thiên ất quý nhân nên lộc lánh xa, do đó không có lộc. Cách nhớ lộc của mười can chỉ cần nhớ can ngày và bản khí của địa chi, như dần mộc tàng can bản khí là giáp mộc.

Văn xương, hoa cái, tướng tinh, trạch mã

Văn xương

Lấy can ngày, can năm làm chuẩn để tra các địa chi trong Tứ trụ. Giáp thấy tị; ất thấy ngọ; bính, mậu thấy thân; đinh, kỷ thấy dậu; canh thấy hợi; tân thấy tý; nhâm thấy dần; quý thấy mão. Người tra thấy như vậy là có sao văn xương. Văn xương nhập mệnh thì thông minh hơn người. Tứ trụ kiêm có học đường thì chủ về học tập ưu tú, khí chất nho nhã, lại còn có tác dụng gặp xung hóa cát. Sao văn xương là thực thần lâm quan, là chỗ trường sinh. Ví dụ giáp lấy bính làm thực thần, bính lâm quan ở tị, cho nên giáp lấy tị làm văn xương.

Hoa cái

Lấy chi ngày, chi năm làm chuẩn để tra các chi khác. Chi ngày hoặc chi năm là dần, ngọ, tuất thấy tuất; thân, tý, thìn thấy thìn; tị, dậu, sửu thấy sửu; hợi, mão, mùi thấy mùi. Tứ trụ tra được như vậy là có sao hoa cái. Sao này chủ về nghệ thuật, kỹ thuật, thường có duyên với mệnh khí công, tôn giáo, võ thuật, tăng đạo. Hoa cái là cách xưng hô tượng hình: hình sao này như cái tàn thường che phía trên chỗ vua ngồi, nên lấy bản kho của tam hợp địa chi làm hoa cái. Ví dụ lấy sửu trong bộ tị, dậu, sửu làm hoa cái, vì sửu là kho của kim.

Tướng tinh

Lấy chi năm, chi ngày để tra các chi khác. Chi năm, chi ngày là dần, ngọ, tuất mà còn gặp ngọ; thân, tý, thìn còn gặp tý; tị, dậu, sửu còn gặp dậu; hợi, mão, mùi còn gặp mão. Gặp một trong bốn trường hợp ấy là có tướng tinh. Tướng tinh vừa chủ về văn vừa chủ về võ, có khả năng nắm quyền, được mọi người tín phục. Tướng tinh đi với mã tinh, đi với kình dương là hỉ: người như thế không phải tướng soái thì cũng ở cấp tương đương, lộc trọng quyền cao. Tướng tinh giống như đại tướng trong quân, nên lấy vượng khí giữa ba chi hợp lại để làm tướng tinh. Ví dụ dần, ngọ, tuất là tam hợp, trong đó ngọ ở ngôi giữa, gặp ngọ tức là có tướng tinh.

Trạch mã

Lấy chi năm, chi ngày để tra các chi khác. Chi năm hoặc chi ngày là dần, ngọ, tuất còn gặp thân; thân, tý, thìn còn gặp dần; tị, dậu, sửu còn gặp hợi; hợi, mão, mùi còn gặp tị. Trạch mã có hung có cát. Trạch mã là hỉ thì nhiều nhất là có tin mừng thăng quan tiến chức, ít nhất cũng thu được lợi trong sự vận động. Mã là kị thì nhiều nhất là bôn ba lao khổ, ít nhất là vất vả bận rộn. Mã gặp xung như tuấn mã được thúc thêm roi; mã bị hợp hoặc bị hóa thì như mã bị trói. Mã tinh là thực thương, nếu gặp tài vận là hỉ, phát tài rất nhanh. Nhâm thân, quý dậu là kiếm phong mã, người có trụ ngày như vậy là gặp mã tinh. Người xưa nói: "Đầu ngựa treo kiếm là uy trấn biên cương." Mã tinh ở trụ giờ thì thường được điều động đi xa, ra nước ngoài.

Kim dư, thiên y, kình dương, lục giáp không vong

Kim dư

Lấy can ngày để tra các chi khác. Can ngày giáp gặp thìn; ất gặp tị; bính, mậu gặp mùi; đinh, kỷ gặp thân; canh gặp tuất; tân gặp hợi; nhâm gặp sửu; quý gặp dần. Kim là quý, dư là xe, Tứ trụ có kim dư là tượng xe vàng: người quân tử làm quan thì được lộc, được đi xe; thần dân lấy xe làm nghiệp để chở quan. Kim dư là cát tinh. Cách nhớ là ngôi của nó cách lộc của nhật can hai ngôi; ví dụ giáp lộc ở dần, nếu trong Tứ trụ có thìn tức là có kim dư.

Thiên y

Lấy chi tháng để tra các chi khác. Chi tháng tý còn gặp hợi; sửu còn gặp tý; dần còn gặp sửu; mão còn gặp dần; thìn còn gặp mão; tị còn gặp thìn; ngọ còn gặp tị; mùi còn gặp ngọ; thân còn gặp mùi; dậu còn gặp thân; tuất còn gặp dậu; hợi còn gặp tuất. Lệnh tháng trong Tứ trụ gặp những chi ấy là có thiên y. Thiên y vượng là cát tinh, nắm quyền chữa các bệnh tật; mệnh gặp thiên y là người có y thuật hoặc trong gia tộc có người làm thuốc. Thiên y nhược thì không phải sao tốt: người như thế nếu không bệnh tật thì thân thể cũng yếu đuối vô lực. Ví dụ tháng dậu gặp chi thân là có thiên y.

Kình dương

Lấy can ngày để tra địa chi trong Tứ trụ. Can ngày giáp gặp chi mão; ất gặp dần; bính, mậu gặp ngọ; đinh, kỷ gặp tị; canh gặp dậu; tân gặp thân; nhâm gặp tý; quý gặp hợi. Mệnh gặp kình dương là hung nhiều cát ít. Lộc quá mức thì sinh kình dương, tức thành công đến cực đỉnh mà vẫn chưa rút lui thì sẽ vượt quá giới hạn nên bị tổn thương. Người có quý mệnh để áp chế sát thì kình dương kết hợp với tướng tinh sẽ tạo thành uy phong không cản nổi. Thân nhược gặp kình dương thì nó có thể giúp trợ thân, nhưng mệnh có kình dương thì nguy hiểm như làm bạn với hổ. Nếu kình dương bị hợp, bị xung, bị hình hoặc gặp tuế vận thì dễ có tai nạn nghiêm trọng.

Một số cổ thư đặt kình dương của can âm vào chỗ trước lộc, tức kình dương của ất ở thìn, của đinh, kỷ ở mùi, của tân ở tuất, của quý ở sửu; như thế là sai. Ý chính của kình dương không giống như chỗ cuối lộc là phúc. Lẽ âm dương của vạn vật là cái ác tuy cực thịnh nhưng chưa đầy thì chưa đến cực điểm, đầy thì tràn ra, nên đầy là tai họa. Kình dương hung mãnh đến tận điểm cực, thế tất không tránh khỏi chuyển sang mặt trái. Cách nhớ: chỗ nhật can đế vượng là kình dương.

Lục giáp không vong

Lấy can chi của trụ ngày để tra các chi khác trong Tứ trụ. Can chi ngày trong tuần giáp tý thì Tứ trụ không có tuất, hợi. Tuần giáp tuất thì không có thân, dậu. Tuần giáp thân thì không có ngọ, mùi. Tuần giáp ngọ thì không có thìn, tị. Tuần giáp thìn thì không có dần, mão. Tuần giáp dần thì không có tý, sửu.

Với can chi ngày trong mỗi giáp của bảng sáu mươi giáp tý, các địa chi khác của Tứ trụ gặp như vậy là tuần không. Ví dụ trụ ngày ất sửu, sau giáp tý một ngày, nên thuộc tuần giáp tý. Mười can trong tuần này vừa hết, nhưng hai chi cuối cùng của mười hai địa chi thì chưa đến lượt, nên thành tuần không. Hai chi tuần không ấy chuyển sang tuần giáp sau. Cứ như thế đến tuần thứ sáu thì các can chi mới vừa khớp và kết thúc ở quý hợi. Lục giáp không vong là hung nhiều cát ít. Cát tinh gặp không vong thì không tốt; ngược lại kị thần gặp không vong thì không còn hại nữa. Cái được sinh vượng, khí chất quảng đại phần nhiều thu được danh lợi bất ngờ; nếu gặp tử, tuyệt thì thành công nhiều mà thất bại cũng lắm, phiêu bạt giang hồ.

Đào hoa, ngày âm dương sai lệch, thiên la địa võng, kiếp sát

Đào hoa

Lấy chi ngày, chi năm để tra các chi khác. Chi ngày, năm là dần, ngọ, tuất gặp mão; thân, tý, thìn gặp dậu; tị, dậu, sửu gặp ngọ; hợi, mão, mùi gặp tý. Gặp các trường hợp ấy là Tứ trụ có đào hoa. Đào hoa có cát, có hung: người đẹp, thông minh, nghệ nhân phần nhiều đều có. Khi tổ hợp không tốt thì chủ về phong lưu trăng gió, quan hệ mờ ám giữa nam nữ. Đào hoa rơi vào đất mộc dục còn có tên là hàm trì. Cách nhớ là sau trường sinh một ngôi là mộc dục.

Ngày âm dương sai lệch

Can chi của trụ ngày mà gặp là có: ngày bính tý, đinh sửu, mậu dần, tân mão, nhâm thìn, quý tị, bính ngọ, đinh mùi, mậu thân, tân dậu, nhâm tuất, quý hợi. Âm dương xen kẽ như nam đi ngược với dương cương, nữ đi ngược với âm nhu, nên hôn nhân không tốt, là dấu hiệu tương khắc của khí trường. Ngày sinh gặp phải thì nhẹ là vợ chồng bất hòa, nặng là ly dị. Trong thực tiễn đoán, điều này rất chính xác. Có một số cặp vợ chồng chưa đến vận khắc cung thê hoặc cung chồng thì chưa có hiện tượng gì, nhưng đó chỉ là tạm thời. Nếu trụ năm là thiên hợp địa hợp thì lại là trường hợp khác.

Thiên la, địa võng

Lấy chi ngày, chi năm để tra các chi khác. Chi ngày, năm thìn gặp tị; tị gặp thìn; tuất gặp hợi; hợi gặp tuất. Có những cách tra khác chia theo nam nữ và nạp âm của năm, nhưng lấy chi ngày, chi năm để tra các chi khác là đủ, không cần phân nam nữ hay nạp âm.

Thiên la nói đến trời nghiêng về Tây Bắc, là đất tuất, hợi. Địa võng là vùng đất trũng ở Đông Nam, là đất thìn, tị. Từ tý đến tị là lúc dương khí đang lên cho đến khi kết thúc; từ ngọ đến hợi là lúc âm khí đang lên cho đến khi kết thúc. Nên thìn, tị và tuất, hợi lần lượt được xem là chỗ sáu dương và sáu âm kết thúc. Âm dương kết thúc thì mờ ám không rõ, như người nằm trong lưới trời. Dương là trời, âm là đất nên tuất, hợi là thiên la, thìn, tị là địa võng. Thiên la địa võng là hung thần ác sát, là một trong những dấu hiệu của họa quan lao dịch. Nếu trong Tứ trụ thiên la địa võng xuất hiện cùng lúc với tam hình là kị, thì khi gặp tuế vận thông thường khó tránh khỏi lưới pháp luật.

Kiếp sát

Lấy chi ngày hoặc chi năm để tra các chi khác. Chi ngày, năm là dần, ngọ, tuất gặp hợi; thân, tý, thìn gặp tị; tị, dậu, sửu gặp dần; hợi, mão, mùi gặp thân. Gặp một trong các trường hợp ấy là có kiếp sát. Thông thường kiếp sát là hung tinh, trong tam hợp là chỗ sinh vượng, sau mộ một ngôi là đất tuyệt. Trong Tứ trụ, nếu chi kiếp sát là kị thần vượng tướng thì đến tuế vận sẽ cướp đoạt rất hung mạnh, nên tai họa thường rất xấu. Nó chủ về bị bệnh tật, bị thương hoặc phạm hình pháp, cho nên không gặp là tốt nhất.

Các cát thần và hung sát vừa nêu thường rất hay gặp trong thực tế. Ngoài ra còn một số thần sát của can chi ngày như ngày thập ác đại bại, ngày thiên xích, ngày kim thần, ngày khôi cương, ngày tứ phế, và một số thần sát rất ít dùng, người học có thể tự chọn hoặc bỏ.

Thần sát chỉ ứng khi biết hỉ kị và vượng suy của mệnh

Tóm lại, dưới tiền đề lấy Tứ trụ để định đại cục, thần sát cũng như sự hình hợp xung hại của các địa chi được dùng để xét cát hung của đại vận và lưu niên. Nếu nắm vững hỉ, kị, vượng suy của mệnh thì tác dụng của thần sát khi đại vận và lưu niên đến chắc chắn sẽ lần lượt ứng nghiệm.

Để tra cho nhanh, loại thần sát tra theo can ngày, can năm thì dùng mười thiên can lập thành một bảng; loại thần sát tra theo chi ngày, chi năm thì dùng mười hai địa chi lập thành một bảng; riêng thiên đức, nguyệt đức tra theo chi tháng thì dùng mười hai địa chi. Những thần sát chưa quy vào đây thì có thể tự lập bảng để tra dùng.

Nguồn: Thiệu Vĩ Hoa, Trần Viên, Dự đoán theo Tứ trụ.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bát Tự Hà Lạc