Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Nhập môn

Bài tổng quan

Tam Cường Cung Thiên Di, Quan Lộc, Tài Bạch Trong Đẩu Số Toàn Thư

Tử Vi Nam Phái - Nhập môn16/09/202618 phút đọc6 lượt đọc
Tam Cường Cung Thiên Di, Quan Lộc, Tài Bạch Trong Đẩu Số Toàn Thư

Thiên Di, Quan Lộc và Tài Bạch hợp thành ba cường cung của nam mệnh, nơi quyết định con người ra đời, làm quan và giữ của ra sao. Ở cung Thiên Di, Tử Vi cùng Tả Hữu xuất ngoại được quý nhân phù trợ, Thái Dương nên ra ngoài mới phát phúc, còn Liêm Trinh bị sát tinh xung phá thì có thể chết đường. Ở cung Quan Lộc, mười bốn chính tinh được xét theo đường công danh sự nghiệp, và mộ địa gặp Tả Hữu thì thăng quan tiến chức. Ở cung Tài Bạch, từng sao được xét theo tiền bạc của cải, còn Đại Hao, Tiểu Hao hội tại Phúc Đức và Tài Bạch thì tán nhiều tụ ít. Phú nôm của tiền nhân còn ví Thiên Di có Thiên Mã như chinh binh cưỡi ngựa đánh đông dẹp bắc.


Cung Thiên Di

Cùng với Tài Bạch, Quan Lộc, cung Thiên Di là một trong ba cường cung của nam mệnh, cho thấy cảnh ngộ của đương số khi ra ngoài xã hội.

Mười bốn chính tinh tại cung Thiên Di

Tử Vi cùng Tả Phụ, Hữu Bật xuất ngoại được quý nhân phù trợ mà phát phúc; cùng Thiên Phủ thì xuất nhập thông đạt; cùng Thiên Tướng thì phát tài nơi xa; cùng Phá Quân thì thân với quý nhân; bị Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp thì ra ngoài bất an.

Thiên Cơ xuất ngoại gặp quý nhân, nhưng ở nhà lại hay mang tiếng thị phi. Cùng Cự Môn thì cần phải hoạt động mới hay; cùng Thiên Lương thì xuất ngoại xứng ý; cùng Thái Âm thì thường gặp sự hoang mang; bị Kình Dương, Đà La, Linh Tinh, Hỏa Tinh thì xuất ngoại phải đối đầu nhiều bất trắc.

Thái Dương nên xuất ngoại mới phát phúc, vì là người không thể ngồi yên một chỗ. Cùng Thái Âm thì xuất ngoại lúc cấp bách lại chuyển thành hay; cùng Cự Môn thì lao tâm; bị Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp thì thân tâm bất an khi ở xa nhà.

Vũ Khúc đối phó với bên ngoài cần tĩnh tâm, đừng lật đật lúc cấp bách. Cùng Tham Lang thường là tay kinh doanh lớn; cùng Thất Sát, Phá Quân là người ưa hoạt động, nóng vội; bị Kình Dương, Đà La, Linh Tinh, Hỏa Tinh dễ mang tiếng thị phi.

Thiên Đồng xuất ngoại có quý nhân phù trợ. Cùng Cự Môn thì lao tâm khổ trí; đồng cung với Thái Âm thì tàn khổ; cùng Thiên Lương thì dễ thân với quý nhân; bị Kình Dương, Đà La, Linh Tinh, Hỏa Tinh, Địa Kiếp, Địa Không thì xuất ngoại không được toại chí.

Liêm Trinh xuất ngoại thì thông đạt, gần gũi người quyền quý — không nên cứ ở mãi trong nhà. Cùng Tham Lang thì cần biết chờ thời, "thả câu lúc nước đục"; cùng Thất Sát thì ra ngoài làm ăn ra tiền; cùng Thiên Tướng thì nên luôn hoạt động; bị Kình Dương, Đà La, Linh Tinh, Hỏa Tinh, Địa Kiếp, Địa Không xung sát thì có thể chết đường.

Thiên Phủ xuất ngoại có quý nhân phù trợ; cùng Tử Vi thì phát phúc; cùng Liêm Trinh, Vũ Khúc thì giữa lúc thiên hạ hoang mang, mình lại hoạt động mà dễ phát tài, thường là tay buôn bán lớn.

Thái Âm nhập miếu mà xuất ngoại thì gặp quý nhân, bất ngờ phát tài sản; ở hãm địa thì gặp thị phi. Cùng Thái Dương thì rất tốt; cùng Thiên Đồng ở miếu vượng địa thì xuất ngoại tay trắng cũng làm nên cơ đồ.

Tham Lang đứng một mình ở ngoài thì vất vả, nhưng hay gặp dịp bất ngờ phát tài nếu chịu liều lĩnh. Cùng Liêm Trinh mà thêm Tứ Sát thì tân khổ; cùng Vũ Khúc là tay buôn bán lớn; có Kình Dương, Đà La, Linh Tinh, Hỏa Tinh, Địa Không, Địa Kiếp thì thường gặp họa binh đao.

Cự Môn ra ngoài thì lao tâm, bất an, luôn gặp chuyện thị phi; thêm Địa Không, Địa Kiếp, Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh thì càng xấu hơn.

Thiên Tướng xuất ngoại thì có người đề bạt, nâng đỡ. Cùng Tử Vi càng tốt; cùng Vũ Khúc thì xuất ngoại phát tài; cùng Liêm Trinh mà thêm Kình Dương, Đà La, Linh Tinh, Hỏa Tinh thì bị thị phi chiếu tới.

Thiên Lương xuất ngoại thì gần gũi người quyền quý; cùng Thiên Đồng thì phúc hậu; cùng Thiên Cơ thì thường lập nghiệp bằng tài năng nghệ thuật.

Thất Sát sống ở bên ngoài nhiều hơn ở trong nhà. Cùng Vũ Khúc nên hoạt động mới hay; cùng Liêm Trinh xuất ngoại sinh tài; cùng Tử Vi ra ngoài được toại chí; có Kình Dương, Đà La, Linh Tinh, Hỏa Tinh, Địa Không, Địa Kiếp thì lênh đênh nơi góc bể chân trời.

Phá Quân xuất ngoại thì vất vả; dù nhập miếu, cuộc sống ở xa nhà cũng bấp bênh, nay khá mai tàn. Bị Kình Dương, Đà La, Linh Tinh, Hỏa Tinh thì phải bôn ba; được Văn Xương, Văn Khúc, Vũ Khúc thì là người rất tháo vát.

Các phụ tinh tại cung Thiên Di

Văn Xương xuất ngoại gặp quý nhân thì phát đạt; kỵ Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp. Văn Khúc xuất ngoại tận hưởng quý khí, thêm cát tinh phù trợ thì đắc tài; bị Kình Dương, Đà La, Linh Tinh, Hỏa Tinh thì ít toại chí.

Tả Phụ cần hoạt động luôn mới dễ gặp quý nhân phù trì; gặp Kình Dương, Đà La, Linh Tinh, Hỏa Tinh dễ mang tai tiếng thị phi. Hữu Bật xuất ngoại gặp quý nhân, phát đạt, không nên ngồi yên; gặp Kình Dương, Đà La, Linh Tinh, Hỏa Tinh thì ra ngoài dễ tranh cạnh, xung đột với người.

Lộc Tồn xuất ngoại thì y lộc toại tâm; gặp Kình Dương, Đà La, Linh Tinh, Hỏa Tinh, Địa Không, Địa Kiếp thì thường bị thua thiệt.

Kình Dương nhập miếu ra ngoài thì áo mũ, bổng lộc đủ đầy, phát tài nhờ tính táo bạo, quyết đoán; ở hãm địa thì chỉ là loại tay sai, dao búa. Đà La thêm cát tinh xuất ngoại thì đắc tài; ở hãm địa lại bị Địa Kiếp, Địa Không, Linh Tinh, Hỏa Tinh, Kình Dương thì dễ dính vào nhiều chuyện thị phi, hầu hạ người khác.

Hỏa Tinh đứng một mình xuất ngoại thì bất an; được cát tinh phù trì thì có thể bất ngờ phát tài; bị Kình Dương, Đà La, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp thì không toại chí. Linh Tinh được cát tinh trợ lực thì xuất ngoại tốt; bị Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Địa Không, Địa Kiếp thì xấu.

Phú nôm của tiền nhân ta về cung Thiên Di

Tiền nhân ta còn để lại tám ý phú nôm về cung này: Thiên Di mà có Thiên Mã, chinh binh cưỡi ngựa, thì đánh đông dẹp bắc, pha trộn cuộc đời nơi đất khách. Long đong, xuôi ngược Đông Tây chẳng qua cũng vì Thiên Mã đóng cung Thiên Di mà lại hãm địa. Thiên Di có Thái Dương, Thái Âm giáp cung là số suốt đời xuất ngoại nhiều nơi mà vẫn được kính nể. Thiên Di có Hóa Kỵ ra ngoài thì kẻ thù, người oán chẳng ai gần gũi được mình. Thiên Di có Địa Kiếp cùng Liêm Trinh thì hồn phách lạc lõng như cánh tiên lỡ bước xuống trần phàm. Cung này gặp Hỷ Thần, Đào Hoa thì tốt, nhưng Thiên Di lại tối kỵ Địa Kiếp, Địa Không xâm nhập vào. Thiên Di có Hoa Cái, Hỷ Thần, Tả Phụ, Hữu Bật là người được quý nhân yêu mến. Kẻ chơi bời phiêu bạt sông hồ thường là Thiên Di gặp Thiên Mã lại thêm Đà La.

Cung Quan Lộc

Cung Quan Lộc, cũng thuộc "tam cường cung" của nam mệnh, chủ về đường công danh, sự nghiệp.

Mười bốn chính tinh tại cung Quan Lộc

Tử Vi ở miếu vượng địa mà hội Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên Khôi, Thiên Việt thì chức vị đến bậc phong hầu; bị Kình Dương, Đà La, Linh Tinh, Hỏa Tinh thì chỉ tầm thường. Cùng Thiên Phủ thì quyền quý, danh lợi vẹn cả hai; thêm Thiên Tướng thì trong ngoài đều quyền quý; cùng Phá Quân thì giữa lúc thiên hạ sóng gió, riêng mình vẫn yên ổn.

Thiên Cơ nhập miếu thì quyền quý; hội Văn Khúc làm bậc lương thần, nhưng phải có Kình Dương, Đà La, Linh Tinh, Hỏa Tinh phối hợp mới thật hay. Cùng Thiên Lương thì tài kiêm cả văn lẫn võ; cùng Thái Âm thì danh chấn nơi biên ải; ở hãm địa thì mất chức, lui quan.

Thái Dương nhập miếu thì văn võ đều hay, miễn không gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh, Kình Dương, Đà La xung phá. Cùng Thái Âm thì quý hiển; cùng Tả Phụ, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Khôi, Thiên Việt lại thêm Hóa Khoa, Hóa Quyền, Hóa Lộc thì làm tới bậc nhất phẩm tể tướng.

Thiên Đồng văn võ đều có khả năng, nhưng cần không gặp Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh. Cùng Cự Môn thì làm ăn trước nhỏ sau lớn; hội Tả Phụ, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Khôi, Thiên Việt càng hay; cùng Thái Âm ở hãm địa thì rất xấu.

Vũ Khúc nhập miếu, đồng cung lại có Tả Phụ, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc thì ở võ chức dễ làm lớn; thêm Hóa Khoa, Hóa Quyền, Hóa Lộc còn giàu sang hơn. Cùng Tham Lang thường làm quan tham ô; cùng Phá Quân là người dựng nghiệp trong quân ngũ; cùng Thất Sát lập công danh nhờ những trường hợp đặc biệt; ở hãm địa mà bị Kình Dương, Đà La, Linh Tinh, Hỏa Tinh xung phá thì công danh vô phận.

Liêm Trinh nhập miếu thì võ chức bền lâu; cùng Tham Lang thường lên được quyền quý trong thời loạn.

Thiên Phủ nhập miếu thì văn võ đều hay, nếu không bị Kình Dương, Đà La, Linh Tinh, Hỏa Tinh, Địa Không, Địa Kiếp. Cùng Tử Vi thì văn võ đều thành danh; cùng Liêm Trinh, Vũ Khúc thì quyền quý, nếu gặp Địa Không, Địa Kiếp cũng chỉ bình thường.

Thái Âm nhập miếu thì quý hiển; ở hãm địa là người kiêu căng, ưa phá ngang, khó lòng hiển đạt. Hội cùng Thái Dương, Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phụ, Hữu Bật thì làm tới bậc tam phẩm; cùng Thiên Đồng thì văn võ đều hay; cùng Thiên Cơ thì giữa lúc loạn lạc vẫn tiến thân được.

Tham Lang nhập miếu mà gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh thì ở võ chức nắm đại quyền; cùng Tử Vi có thể quý hiển cả về văn lẫn võ. Tham Lang ở hãm địa thì làm quan tham ô, bị Kình Dương, Đà La, Địa Không, Địa Kiếp thì chỉ tầm thường.

Cự Môn nhập miếu thì võ chức quyền quý, văn chức không bền lâu. Cùng Thiên Cơ tại cung Mão rất tốt, tại cung Dậu tuy hay nhưng khó bền; ở hãm địa thì công danh lận đận, thêm Kình Dương, Đà La, Linh Tinh, Hỏa Tinh, Địa Không, Địa Kiếp càng xấu.

Thiên Tướng nhập miếu thì văn võ đều hay, bổng lộc dồi dào; ở hãm địa thì thành bại vô thường. Cùng Tử Vi thì quyền quý; cùng Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phụ, Hữu Bật thì hiển vinh; cùng Vũ Khúc thì trấn thủ biên cương; cùng Liêm Trinh thì quyền quý; bị Kình Dương, Đà La, Linh Tinh, Hỏa Tinh, Địa Không, Địa Kiếp thì dễ mất chức, chịu đày đọa.

Thiên Lương miếu địa ở cung Ngọ mà hội Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên Khôi, Thiên Việt là bậc tài kiêm văn võ; cùng Thiên Đồng thì quyền quý không nhỏ; cùng Thiên Cơ thì quý hiển; bị Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp thì chỉ bình thường.

Thất Sát ở miếu vượng thì võ chức quyền quý, văn nhân thì không hay. Cùng Vũ Khúc thì có chức vị; cùng Liêm Trinh thì công danh hiển đạt.

Phá Quân ở miếu vượng thì võ chức hiển ngang; cùng Vũ Khúc thêm quyền lộc, Văn Xương, Văn Khúc thì hiển đạt; bị Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh thì chỉ bình thường; cùng Tử Vi đồng cung thì có tiếng tăm; cùng Liêm Trinh thì không tốt cho người theo nghiệp văn.

Các phụ tinh tại cung Quan Lộc

Văn Xương nhập miếu mà hội Thái Dương thì càng hay; cùng Thiên Phủ, Văn Khúc thì phú quý vẹn cả hai. Văn Khúc ở miếu vượng thì văn võ đều tốt; rơi vào hãm cung mà gặp Thiên Cơ, Thái Âm thường hiển đạt bằng con đường lại nha — tức là làm những việc hung dữ, ác độc; hội với Tử Vi, Tả Phụ, Hữu Bật thì thường được gặp mặt vua; bị Kình Dương, Đà La, Linh Tinh, Hỏa Tinh, Địa Không, Địa Kiếp thì chỉ bình thường.

Tả Phụ nhập miếu là bậc tài kiêm văn võ, nhưng vượng nhất về đường võ, bất lợi cho văn nhân; gặp sao tốt phù trợ thì hiển vinh; bị Kình Dương, Đà La, Địa Không, Địa Kiếp, Linh Tinh, Hỏa Tinh thì thường gặp tai tiếng. Hữu Bật làm nên võ chức, không hợp với văn nhân; cùng Tử Vi, Văn Xương, Văn Khúc thì cả tài lẫn quan đều đẹp; ở hãm địa dễ mất chức; gặp Kình Dương, Đà La, Linh Tinh, Hỏa Tinh thì thường bị giáng chức.

Lộc Tồn gặp cát tinh thì văn võ đều hay, thuộc cách tài quan song mỹ.

Kình Dương nhập miếu rất lợi cho nghiệp võ, thêm cát tinh thì quyền quý; ở hãm địa thì bình thường, có danh cũng chỉ là hư danh. Đà La đứng một mình thì bình thường, toàn chuyện danh hão — Đà La đứng một mình ở cung Mệnh còn tốt hơn ở cung Quan Lộc.

Hỏa Tinh lớn tuổi mới toại công danh, tuổi trẻ thì long đong, thành bại thất thường; hội cùng Tử Vi, Tham Lang rất tốt; ở hãm địa thì hư hỏng. Linh Tinh đứng một mình ở vượng cung thì tốt; ở hãm địa thì xấu.

Phú nôm của tiền nhân ta về cung Quan Lộc

Mộ địa mà gặp Tả Phụ, Hữu Bật đồng lai thì thăng quan tiến chức, miếu đài hiển vinh. Thiên Đồng, Thiên Lương hội chiếu tại Dần, Thân thì từ chỗ tay trắng mà trở nên sang giàu. Lộc Tồn gặp Tử Vi, Thiên Mã đồng một dạng thì như mây gió gặp hội, ngựa rồng mừng vui.

Cung Tài Bạch

Cung Tài Bạch, cường cung còn lại của nam mệnh, chủ về tiền bạc, của cải.

Mười bốn chính tinh tại cung Tài Bạch

Tử Vi thì thóc gạo đầy kho; bị Kình Dương, Đà La, Linh Tinh, Hỏa Tinh thì kém vượng. Cùng Phá Quân thì trước khó sau dễ; cùng Thiên Đồng thì tiền của tích lũy; cùng Thiên Phủ thì no đủ suốt đời, thêm Tả Phụ, Hữu Bật thì phú quý; cùng Thất Sát thì bất ngờ phát tài.

Thiên Cơ phải lao tâm, tốn sức tính toán mới sinh ra tiền. Cùng Cự Môn thì phải xoay xở nhiều mới kiếm được; cùng Thiên Lương thường dùng mánh khóe mà sinh thêm tài ngoài; cùng Thái Âm ở hãm địa thì làm ăn dễ thất bại; gặp Kình Dương, Đà La, Linh Tinh, Hỏa Tinh thì vốn liếng dễ phá sản.

Thái Dương nhập miếu thì no đủ, sung túc; ở hãm địa thì vất vả, khốn khó. Cùng Thái Âm thêm Tả Phụ, Hữu Bật thì phát tài lớn; cùng Lộc Tồn thì đại phú; cùng Cự Môn thì thành bại thất thường.

Vũ Khúc cùng Cự Môn thì gia tư vạn hộ; cùng Phá Quân thì tiền vào tay phải, ra tay trái, Đông lai Tây khứ; cùng Thiên Tướng ở cung Tài Bạch thì gặp nhiều quý nhân giúp đỡ; cùng Thất Sát thì tay trắng làm nên; cùng Tham Lang thì sau ba mươi tuổi mới phát đạt; bị Kình Dương, Đà La, Linh Tinh, Hỏa Tinh thì tiền tài khó tụ. Vũ Khúc ở cung Tài Bạch rất kỵ Không Vong.

Thiên Đồng tay trắng dựng cơ đồ, nhưng phát đạt muộn. Cùng Cự Môn thì tài khí lúc tiến lúc lùi; cùng Thiên Lương thì tiền của rất vượng.

Liêm Trinh tại Dần, Thân thì như buông câu giữa dòng nước đục, vẫn phát tài sinh lợi; ở hãm địa thì xấu. Cùng Tham Lang thì bất ngờ phát rồi bất ngờ phá; gặp Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh thì dễ có tiền bất ngờ; cùng Thất Sát là người giỏi xoay xở; cùng Thiên Tướng thì phú túc, ăn tiêu thoải mái; bị Đại Hao, Tiểu Hao, Địa Không, Địa Kiếp thì thường phá nghiệp.

Thiên Phủ thì no ấm; thấy Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp thì thành bại thất thường; cùng Tử Vi thì có của ăn của để; cùng Liêm Trinh, Vũ Khúc lại thêm Hóa Quyền, Hóa Lộc thì thành phú ông.

Thái Âm nhập miếu thì tiền bạc đầy kho; ở hãm địa thì tiền tài khó tụ. Cùng Thái Dương thì trước ít sau nhiều; cùng Thiên Cơ thì tay trắng làm giàu; cùng Thiên Đồng thì tài lộc vượng; cùng Lộc Tồn, Tả Phụ, Hữu Bật thì chủ về đại phú.

Tham Lang ở miếu vượng thì dễ bất ngờ phát tài; ở hãm địa thì bần cùng. Cùng Tử Vi thì nên giữ vững chứ đừng để sẩy tay; gặp Hỏa Tinh thì sau ba mươi tuổi bất ngờ phát tài, trước đó thì vất vả.

Cự Môn tay trắng làm giàu, nhưng vì thường cao ngạo, tính toán không kỹ càng mà dễ hoang phí, phá của. Cùng Thiên Cơ thì làm đủ nghề; cùng Thái Dương thì tiền bạc tích lũy; bị Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp thì phá nghiệp.

Thiên Lương nhập miếu thì phú quý bậc thượng đẳng; ở hãm địa thì làm ăn vất vả. Cùng Thiên Đồng thì tay trắng sinh tài; cùng Thiên Cơ thì lao tâm khổ trí mà tiền bạc chẳng được bao nhiêu, lại hay biến đổi; bị Kình Dương, Đà La, Linh Tinh, Hỏa Tinh, Địa Không, Địa Kiếp thì chỉ đủ tay làm miệng ăn.

Thiên Tướng thì phú túc; cùng Tử Vi thì tài khí bất ngờ phát; cùng Vũ Khúc thêm Tứ Sát thì làm đủ trăm nghề kiếm tiền; cùng Liêm Trinh thì làm nghề buôn bán; bị Kình Dương, Đà La, Linh Tinh, Hỏa Tinh, Địa Không, Địa Kiếp thì thành bại thất thường, tiền của không tụ.

Phá Quân ở cung Tí, Ngọ thì tiền bạc nhiều, dễ kiếm; ở hãm địa thì khó tụ. Cùng Vũ Khúc ở Tị, Hợi thì tiền vào cửa đông, ra cửa tây; cùng Tử Vi thì tiền hao tốn nhưng vào cũng nhiều; cùng Liêm Trinh thì vất vả mới kiếm được; bị Kình Dương, Đà La, Linh Tinh, Hỏa Tinh thì nghèo khổ.

Các phụ tinh tại cung Tài Bạch

Văn Xương giàu nếu gặp nhiều cát tinh trợ khí vượng; cùng Cự Môn ở miếu địa thì nhiều tiền; bị Kình Dương, Đà La, Linh Tinh, Hỏa Tinh, Địa Không, Địa Kiếp thì chỉ là hàn sĩ, hàn nho. Văn Khúc ở miếu địa thì giàu có, thêm sao tốt được quý nhân trợ giúp; Tứ Sát cùng Địa Không, Địa Kiếp thì chủ về tiền tài khó tụ.

Lộc Tồn thì tiền bạc đến tự nhiên, ít tốn công sức; gặp Kình Dương, Đà La, Địa Không, Địa Kiếp thì làm việc gì cũng khó khăn lúc đầu, về sau mới có tiền.

Kình Dương ở Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thường bất ngờ phát tài; ở hãm địa thì phải vất vả mới kiếm được, thêm Địa Không, Địa Kiếp, Đà La thì nghèo khổ. Đà La cũng luận tương tự như Kình Dương.

Hỏa Tinh đứng một mình thì bất ngờ phát cũng bất ngờ phá; ở hãm cung thì phải cực nhọc kiếm sống qua ngày, nếu được cát tinh phù trợ mới kiếm được tiền. Linh Tinh nhập miếu đứng một mình thì bất ngờ phát tài; ở hãm địa thì cô quạnh, tàn khổ, sống qua ngày đoạn tháng.

Thiên Khôi, Thiên Việt sống trong sự thanh cao mà vẫn đủ đầy, tiền bạc dễ dàng kiếm được.

Phú nôm của tiền nhân ta về cung Tài Bạch

Đại Hao, Tiểu Hao hội tại cung Phúc Đức và Tài Bạch thì tán nhiều tụ ít, mấy ai nên giàu. Người phúc lộc dồi dào thường nhờ Vũ Khúc, Lộc Tồn, Thiên Mã chiếu hòa về cung Tài. Người có tiếng tăm địch quốc thường nhờ Thiên Mã hội cùng cung Tràng Sinh. Phá Quân đóng ở cung Tài thì đồng tiền lên xuống như dòng nước chảy. Nghèo hèn thường bởi tại Địa Kiếp, Địa Không, cùng Kình Dương, Đà La, Linh Tinh, Hỏa Tinh khiến long đong, bôn ba. Tứ Sát đóng ở cung Hợi thì lúc hết lúc lại đầy, khi vơi khi lại có. Người danh lợi thong dong thường bởi Tả Phụ, Hữu Bật hội cùng đế tinh Tử Vi.


Nguồn: Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư – Vũ Tài Lục

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Nhập môn