Bài tổng quan
Cung Phu Thê, Phúc Đức, Phụ Mẫu Trong Đẩu Số Toàn Thư Và Phú Nôm
Hôn nhân, phúc phận và cha mẹ là ba mối quan hệ gốc rễ nhất mà lá số Tử Vi phản ánh. Ở cung Phu Thê, các chính tinh và phụ tinh được xét theo chuyện vợ chồng, và Thiên Đức, Nguyệt Đức gặp Đào Hoa, Hồng Loan thì trai lấy vợ đẹp, gái lấy chồng giàu sang. Ở cung Phúc Đức, Toàn Thư chỉ luận mười một chính tinh, không có đoạn riêng cho Thiên Cơ, Thái Âm, Thiên Lương, còn bài phú nôm dài của tiền nhân gắn phúc phận mỗi người với phần mộ ông cha. Ở cung Phụ Mẫu, Thái Dương tượng trưng cho cha, Thái Âm tượng trưng cho mẹ, nên hai sao này phải được chú ý trước tiên. Thái Dương, Thái Âm gặp Tuần, Triệt đóng trước cung Phụ Mẫu thì cha mẹ hẳn đã sớm quy tiên.
Mục lục · 3 phần
Cung Phu Thê
Cung Phu Thê chủ về chuyện hôn nhân, duyên phận vợ chồng.
Mười bốn chính tinh tại cung Phu Thê
Tử Vi chủ hôn nhân muộn; vợ hay chồng là người tính cương nghị. Cùng Thiên Phủ thì tốt đôi; cùng Thiên Đồng thì vợ trẻ; cùng Phá Quân, hay cùng Kình Dương, Đà La, Linh Tinh, Hỏa Tinh thì hình khắc; cùng Tham Lang mà có cát tinh phù trợ thì hòa thuận.
Thiên Cơ: đàn ông nên lấy vợ ít tuổi, đàn bà trái lại nên lấy chồng đứng tuổi. Bị Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh vợ chồng dễ bỏ nhau, nên cưới muộn mới tốt; cùng Thiên Lương nên lấy người hơn tuổi; cùng Thái Âm thì có vợ đẹp.
Thái Dương ở miếu vượng thì lấy vợ muộn mới tốt, lấy sớm thì khắc nhưng nhờ vợ mà sang. Cùng Thiên Lương thêm Tả Phụ, Hữu Bật thì vợ hiền, thông minh, giỏi giang; cùng Thái Âm thì được người nội trợ tháo vát; cùng Cự Môn lại thêm Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp thì khắc; gặp Đại Hao, Tiểu Hao thì thường lấy vợ vì phải lo phí tổn lễ cưới.
Vũ Khúc dễ bị bội khắc nên thường thành hôn muộn, lấy người bằng tuổi; lấy nhau rồi làm ăn phát đạt. Cùng Thất Sát thì khắc tới hai ba đời vợ, nếu thêm Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp thì càng nặng.
Thiên Đồng lấy vợ muộn thì nên chồng đứng tuổi, vợ trẻ hơn; bị Tứ Sát xung phá thì khắc hoặc sinh ly; cùng Cự Môn thêm sát tinh thì khắc; cùng Thái Âm thì vợ đẹp; cùng Thiên Lương thì cả hai vợ chồng đều đẹp.
Liêm Trinh chủ ba lần lấy vợ; cùng Tham Lang càng khắc vợ; cùng Thất Sát cũng khắc; gặp Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh dễ bỏ nhau; cùng Thiên Phủ thì có thể sống với nhau tới đầu bạc răng long.
Thái Dương (nhắc lại riêng về lòng vợ) chủ vợ yêu thương chồng; gặp Kình Dương, Đà La, Linh Tinh, Hỏa Tinh thì phải lấy muộn mới tốt.
Thái Âm nhập miếu thì vợ chồng đều đẹp, thêm Văn Xương, Văn Khúc càng đẹp, không sợ Kình Dương, Đà La, Linh Tinh, Hỏa Tinh, Địa Không, Địa Kiếp; cùng Thiên Cơ thì người nội trợ giỏi giang.
Tham Lang chủ vợ chồng thường không đẹp, ba bốn lần làm chú rể; nhập miếu thì nên lấy muộn; cùng Liêm Trinh thì hình khắc, lại thêm Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh thì chủ chia lìa; cùng Tử Vi thì nên lấy vợ hoặc chồng hơn tuổi.
Cự Môn nên lấy người nhiều tuổi hơn; cùng Thái Dương mà không bị Tứ Sát xung phá thì sống với nhau đến già; cùng Thiên Cơ thì vợ có nhan sắc; cùng Thiên Đồng thì vợ thông minh, lanh lợi; bị Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp thì phải qua nhiều đời vợ. Sách có câu: "Cự Môn cư thê đa bất mãn hoài" — Cự Môn ở cung Thê thường khiến lòng chẳng bao giờ thỏa mãn.
Thiên Tướng chủ có vợ đẹp và hiền thục; đàn bà nên lấy chồng nhiều tuổi. Cùng Tử Vi thì vợ chồng sống đến già; cùng Vũ Khúc hay xảy ra bất hòa; gặp Kình Dương, Đà La, Linh Tinh, Hỏa Tinh thì hình khắc.
Thiên Lương chủ vợ có nhan sắc; cùng Thiên Đồng thì vợ chồng hòa thuận; cùng Thiên Cơ thì đẹp mà hiền; gặp Kình Dương, Đà La, Linh Tinh, Hỏa Tinh, Địa Không, Địa Kiếp thì lục đục.
Thất Sát chủ khắc sớm; cùng Vũ Khúc cũng khắc; cùng Liêm Trinh thì chia lìa, thêm Kình Dương, Đà La, Linh Tinh, Hỏa Tinh thì khắc tới ba đời vợ.
Phá Quân: nam mệnh khắc vợ, nữ mệnh khắc chồng, lấy lại lần nữa cũng dễ ly dị; cùng Vũ Khúc càng khắc; cùng Tử Vi thì nên lấy vợ hoặc chồng nhiều tuổi hơn mình.
Các phụ tinh tại cung Phu Thê
Văn Xương chủ vợ ít tuổi, thông minh; cùng Thiên Cơ, Thái Âm thì vợ đẹp; rơi vào hãm địa mà gặp Kình Dương, Đà La, Linh Tinh, Hỏa Tinh thì tối kỵ, vợ lẳng lơ, hư hỏng. Văn Khúc lại thêm Văn Xương thì đa thê, lắm thiếp; gặp Kình Dương, Đà La, Linh Tinh, Hỏa Tinh thì hình khắc; hội cùng Thái Âm ở miếu địa thì rất hay.
Lộc Tồn nên lấy vợ ít tuổi và lấy muộn; nếu bị Kình Dương, Đà La, Linh Tinh, Hỏa Tinh hay Triệt Lộ, Tuần Trung Không Vong thì cô độc.
Tả Phụ, Hữu Bật chủ vợ chồng sống với nhau đến già; cùng Tham Lang, Liêm Trinh hay Kình Dương, Đà La, Linh Tinh, Hỏa Tinh thì thường lấy nhầm người dữ. Theo tiền nhân ta, Thê cung có Tả Phụ, Hữu Bật là người lắm vợ, trong khi Tử Vi đẩu số toàn thư lại cho rằng phải là Văn Xương, Văn Khúc đi cặp ở cung Thê mới đúng như vậy.
Hỏa Tinh nhập miếu, thêm sao tốt phù trợ thì vợ chồng hòa thuận; ở hãm địa thì hình khắc.
Thiên Khôi, Thiên Việt chủ vợ chồng đều đẹp.
Phú nôm của tiền nhân ta về cung Phu Thê
Thiên Đức, Nguyệt Đức mà gặp Đào Hoa, Hồng Loan thì trai lấy được vợ đẹp, gái lấy được chồng giàu sang. Sao Thai mà gặp Đào Hoa thì "tiền dâm hậu thú" mới nên vợ chồng. Vợ chồng phải kết duyên xa xứ, tha phương nếu Đào Hoa, Hồng Loan đối chiếu vào cung Thiên Di. Cung Phu Thê có Hóa Kỵ đứng một mình thì mối tình chưa dứt, mối tình khác đã vui. Thiên Riêu khiến cả đôi bất chính; Liêm Trinh phối duyên xa xứ ở nơi bần hàn. Tuần, Triệt gặp Thiên Mã, Thiên Hình ở cung Thê thì vợ bỏ chồng, hay Đào Hoa khiến người phải xa quê hương. Vợ chồng nay giận mai hờn thường bởi Phục Binh, Hóa Kỵ đóng nơi cung Phu Thê. Vợ về mang theo của cải muôn vàn nếu có An Quang, Nguyệt Đức, Thái Dương, Thiên Mã đồng cung. Ai có Thiên Tướng, Hồng Loan; ai có Thiên Mã, Lộc Tồn gặp Thanh Long — đều là những cách phối hợp tốt cho duyên vợ chồng.
Cung Phúc Đức
Cung Phúc Đức chủ về phúc phận, sự an nhàn hưởng thụ của một đời người. Trong mười bốn chính tinh, Tử Vi đẩu số toàn thư chỉ luận riêng mười một sao tại cung này; Thiên Cơ, Thái Âm, Thiên Lương không có lời luận riêng.
Mười một chính tinh có lời luận riêng tại cung Phúc Đức
Tử Vi hưởng phúc an lạc; cùng Thiên Phủ thì suốt đời tốt lành; cùng Phá Quân thì lo nghĩ, buồn phiền; cùng Thiên Cơ thì hưởng phúc suốt đời; gặp Kình Dương, Đà La, Linh Tinh, Hỏa Tinh, Địa Không, Địa Kiếp thì phúc phận kém.
Thái Dương giữa cơn hoạn nạn vẫn gặp phúc; cùng Thái Âm thì vui sướng; cùng Cự Môn thì lo phiền; cùng Thiên Lương thì an ổn; gặp Kình Dương, Đà La, Linh Tinh, Hỏa Tinh, Địa Không, Địa Kiếp thì suốt đời gặp chướng ngại.
Vũ Khúc nhập miếu thì an nhiên hưởng phúc; ở hãm địa thì lo phiền; cùng Phá Quân thì bôn tẩu; cùng Thất Sát thì đau ốm, lo phiền; gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh vẫn tốt, gặp Tham Lang cũng hay.
Thiên Đồng an ổn, sung sướng; cùng Cự Môn thì buồn nhiều hơn vui; cùng Thiên Lương thì thanh nhàn; cùng Thái Âm thì hưởng phúc.
Liêm Trinh đứng một mình mà đắc địa thì như có một mảnh ruộng để cứu vãn lúc bí bách, rồi lại thông. Cùng Thiên Đồng thì vừa phúc vừa thọ; cùng Thiên Phủ thì an lạc; cùng Phá Quân thì bất an, thêm Kình Dương, Đà La, Linh Tinh, Hỏa Tinh thì lao khổ suốt đời.
Thiên Phủ an tĩnh, hưởng phúc; cùng Tử Vi thì an ổn; cùng Liêm Trinh thì tâm bất an; cùng Vũ Khúc thì tuổi trẻ gian nan, về sau mới nhàn nhã; bị Kình Dương, Đà La, Linh Tinh, Hỏa Tinh, Địa Không, Địa Kiếp thì lao khổ hằng ngày.
Tham Lang lao tâm, khổ trí; cùng Liêm Trinh thì phận mỏng; cùng Tử Vi thì tới cuối đời mới được thanh nhàn.
Cự Môn lao lực, bất an; cùng Thái Dương thì lúc vui lúc buồn thất thường; cùng Thiên Cơ thì lao tâm; cùng Thiên Đồng thì hưởng phúc; bị Kình Dương, Đà La, Linh Tinh, Hỏa Tinh, Địa Không, Địa Kiếp thì cuộc đời khi hay khi dở.
Thiên Tướng an nhàn, hưởng phúc, sống lâu; cùng Tử Vi thì khoái lạc; cùng Thiên Cơ thì giữa lúc thiên hạ lo lắng, riêng mình vẫn an; cùng Thái Dương thì phúc thọ song toàn, thêm Kình Dương, Đà La, Linh Tinh, Hỏa Tinh, Địa Không, Địa Kiếp thì không được nhàn tĩnh.
Thất Sát nhập miếu thì hưởng phúc; ở hãm địa lại thêm Kình Dương, Đà La, Linh Tinh, Hỏa Tinh thì lao tâm, tốn sức; cùng Vũ Khúc thì bất an; cùng Liêm Trinh thì tân khổ; cùng Tử Vi thì trước vất vả sau an nhàn, cuối đời mới toại tâm. Nữ mệnh mà Thất Sát đứng một mình tại cung Phúc Đức thì thường làm nô tỳ hoặc kỹ nữ.
Phá Quân lao tâm, tốn sức; cùng Vũ Khúc thì vất vả; cùng Liêm Trinh thì chăm chỉ, chịu khó; cùng Tử Vi thì an lạc, thêm Kình Dương, Đà La, Linh Tinh, Hỏa Tinh thì cuộc sống nhiều buồn lo.
Các phụ tinh tại cung Phúc Đức
Văn Xương được cát tinh phù trợ thì hưởng phúc; ở hãm địa gặp Kình Dương, Đà La, Linh Tinh, Hỏa Tinh, Địa Không, Địa Kiếp thì số phận long đong. Tả Phụ được cát tinh trợ giúp thì hưởng phúc, đứng một mình cũng sung sướng lúc về già; gặp Kình Dương, Đà La, Linh Tinh, Hỏa Tinh, Địa Không, Địa Kiếp thì khổ sở. Hữu Bật khi sinh ra đã phúc lộc toàn mỹ, được cát tinh phù trợ thì suốt đời không lo; bị Kình Dương, Đà La, Linh Tinh, Hỏa Tinh, Địa Không, Địa Kiếp thì lao tâm, vất vả.
Lộc Tồn suốt đời phúc lộc; bị Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp thì cả thân lẫn tâm đều lo phiền. Thiên Khôi, Thiên Việt được làm bạn với quý nhân, hưởng phúc.
Kình Dương nhập miếu thì phúc đến trong lúc lao đao, khốn cùng rồi lại chuyển thái lai; ở hãm địa thì phải bôn tẩu, phiêu bạt. Hỏa Tinh tuổi trẻ nếm trải cay đắng, đến tuổi già mới khá hơn. Linh Tinh đứng một mình thì vất vả, long đong.
Về bài phú nôm dài của tiền nhân ta gắn cung Phúc Đức với phần mộ tổ tiên
Tiền nhân ta còn để lại một bài phú nôm rất dài về cung Phúc Đức, liệt kê hàng loạt tổ hợp sao gắn với tình trạng phần mộ của tổ tiên: nào là cách Thủy Kim hợp cách ở Sửu, Mùi có Văn Xương; cách Cự Môn, Thiên Cơ ở Mão, Dậu thêm phúc; cách Thiên Lương có chỗ gối đầu thảnh thơi; cách hai sao Thiên Tướng, Phá Quân cùng ngồi; cách Tang Môn, Cô Thần, Quả Tú, Đào Hoa khiến trong họ có người góa bụa, cô đơn; cách Thiên Khốc, Thiên Hư, Cô Thần khiến đường đi lối lại của con cháu gặp trắc trở; cùng nhiều tổ hợp khác liên quan tới Đà La, Thiên Mã, Tướng Quân, Triệt Lộ, Tuần Trung Không Vong, Hoa Cái, Hỷ Thần...
Đọc toàn bộ bài phú nôm này có thể thấy rõ: theo tiền nhân ta, phúc phận của cung Phúc Đức mỗi người hoàn toàn gắn liền với phần mộ của ông cha. Nhưng ý nghĩa của bài phú khá mơ hồ nếu không rành về phong thủy học. E rằng khó có thể khẳng định đúng sai, vì khoa phong thủy vốn rất rộng lớn, phức tạp — giải đoán theo kiểu này chẳng khác nào "trói voi bỏ vào rọ", không ổn thỏa. Trong khi đó, chính Tử Vi đẩu số toàn thư của Hi Di Trần Đoàn tiên sinh lại hoàn toàn không nói gì tới mối liên hệ giữa cung Phúc Đức với phần mộ.
Cung Phụ Mẫu
Khi xem cung Phụ Mẫu, cần chú ý đặc biệt tới hai sao Thái Dương và Thái Âm: Thái Dương tượng trưng cho cha, Thái Âm tượng trưng cho mẹ. Thái Dương ở hãm cung thì cha mất sớm hoặc cha con ly cách; Thái Âm ở hãm cung thì mẹ mất sớm hoặc mẹ con ly cách. Nếu cả hai sao đều ở hãm cung, phải lấy giờ sinh mà đoán thêm: sinh ban ngày thì cha còn, sinh ban đêm thì mẹ còn.
Mười bốn chính tinh tại cung Phụ Mẫu
Tử Vi không khắc cha mẹ; cùng Thiên Phủ cũng không khắc; bị Kình Dương, Đà La, Linh Tinh, Hỏa Tinh, Địa Không, Địa Kiếp cùng các ác sát khác thì hình khắc; cùng Thiên Đồng thì tốt; cùng Tham Lang mà không có ác sát thì không sao; cùng Phá Quân thì khắc sớm.
Thiên Cơ ở miếu địa thì tốt; ở hãm địa mà gặp Địa Không, Địa Kiếp, Kình Dương, Đà La thì làm con nuôi, hoặc ở với mẹ; có Kình Dương, Đà La cùng Thiên Lương, Thiên Đồng vẫn tốt, miễn không gặp thêm ác sát; cùng Cự Môn thì khắc sớm.
Thái Dương ở hãm địa thì khắc cha; thêm Kình Dương, Đà La, Linh Tinh, Hỏa Tinh, Địa Không, Địa Kiếp thì khắc sớm cả cha lẫn mẹ. Cùng Thái Âm mà không bị Kình Dương, Đà La xen vào thì cha mẹ song toàn; cùng Cự Môn thì khắc sớm.
Vũ Khúc chủ khắc cha mẹ sớm, nhưng nếu xa cha mẹ từ nhỏ thì khỏi khắc. Cùng Tham Lang hay Thất Sát thì khỏi khắc; cùng Tham Lang, Thất Sát hay Thiên Tướng mà thêm Kình Dương, Đà La, Linh Tinh, Hỏa Tinh thì tính chất ly khắc càng nặng hơn.
Thiên Đồng đứng một mình ở miếu vượng thì tốt; thêm Tứ Sát thì có cha mẹ nuôi. Cùng Cự Môn thì bất hòa với cha mẹ; cùng Thái Âm thì cha mẹ song toàn; bị Kình Dương, Đà La, Linh Tinh, Hỏa Tinh, Địa Không, Địa Kiếp thì cha mẹ không được vẹn toàn.
Liêm Trinh khó lòng kế nghiệp cha, thường có cha mẹ nuôi; cùng Tham Lang thì khắc sớm; cùng Thất Sát thì xa cha mẹ; bị Kình Dương, Đà La, Linh Tinh, Hỏa Tinh thì cha mẹ không được chu toàn; cùng Phá Quân thì hình khắc.
Thiên Phủ chủ cha mẹ song toàn; cùng Tử Vi thì tốt; cùng Vũ Khúc, Liêm Trinh ở miếu vượng thì tốt; bị Kình Dương, Đà La, Linh Tinh, Hỏa Tinh, Địa Không, Địa Kiếp thì khắc cha mẹ.
Thái Âm ở miếu vượng thì tốt; bị Kình Dương, Đà La, Linh Tinh, Hỏa Tinh, Địa Không, Địa Kiếp thì khắc cha mẹ; cùng Thái Dương mà không bị Tứ Sát thì cha mẹ song toàn.
Tham Lang ở hãm địa thì làm con nuôi, hoặc ở với dượng ghẻ; cùng Liêm Trinh ở hãm địa thì xa rời cha mẹ; cùng Tử Vi thì tốt.
Cự Môn ở hãm địa thì khắc; cùng Thái Dương thì bất hòa; bị Kình Dương, Đà La, Linh Tinh, Hỏa Tinh, Địa Không, Địa Kiếp thì cha mẹ không được chu toàn.
Thiên Tướng ở miếu địa thì tốt; cùng Tử Vi thì tốt; cùng Liêm Trinh thì hình khắc; bị Tứ Sát thì xấu.
Thiên Lương ở hãm địa mà bị Tứ Sát thì như phải vào viện mồ côi, nếu không thì phải đi làm con nuôi mới tránh được cảnh hình khắc với cha mẹ.
Thất Sát chủ cô độc; cùng Vũ Khúc thì khắc; cùng Liêm Trinh thì hình khắc.
Phá Quân phải sớm xa gia đình, cha mẹ mới tránh được cảnh hình khắc; chỉ có Tử Vi mới giải được cách này.
Các phụ tinh tại cung Phụ Mẫu
Văn Xương nhập miếu thì tốt; gặp Tứ Sát, Kình Dương, Đà La, Linh Tinh, Hỏa Tinh thì làm con nuôi của họ khác. Văn Khúc đứng một mình ở miếu địa thì tốt; bị Kình Dương, Đà La, Linh Tinh, Hỏa Tinh thì cha mẹ không được chu toàn.
Tả Phụ đứng một mình thì nhờ phúc của cha mẹ; bị Tứ Sát thì ly khắc. Hữu Bật đứng một mình cũng luận tương tự Tả Phụ.
Lộc Tồn tốt; nếu bị Tứ Sát thì cha mẹ làm ăn lụn bại lúc mình còn nhỏ.
Kình Dương chủ hình khắc sớm. Đà La chủ hình khắc cha mẹ từ khi còn trẻ.
Hỏa Tinh chủ có khắc, nhưng được cát tinh phù trợ thì bình hòa. Linh Tinh chủ có khắc.
Phú nôm của tiền nhân ta về cung Phụ Mẫu
Thái Dương, Thái Âm mà gặp Tuần, Triệt đóng trước cung này thì cha mẹ hẳn đã sớm quy tiên từ lúc nào. Cung Phụ Mẫu hội cùng Thiên Lương thì cha mẹ cùng hưởng thọ trường, an vui trọn đời.
Nguồn: Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư – Vũ Tài Lục
