Bài tổng quan
Chòm Sao Lộc Tồn, Thái Tuế, Song Hao Và Các Trung Tinh
Khoa Tử Vi Việt đã phát triển nhiều sao phụ vượt xa những gì Toàn Thư ghi lại. Với chòm mười hai sao đi theo Lộc Tồn, Toàn Thư chỉ có một bài phú ngắn, tiền nhân ta dựa vào đó giảng kỹ từng vị từ Bác Sĩ đến Quan Phủ. Đại Hao, Tiểu Hao đóng ở cung nào thì hao ở cung đó, trừ khi đóng hai cung Mão, Dậu thành cách trăm ngọn nước chảy về đông. Bốn sao Tang Môn, Bạch Hổ, Điếu Khách, Quan Phù được đặt cạnh bộ mười một sao của Tử Vi Việt. Long Trì, Phượng Các, Tam Thai, Bát Tọa, Hồng Loan, Thiên Hỷ, Thiên Đức, Nguyệt Đức phần lớn chỉ có lời giải của tiền nhân. Sao Đầu Quân coi về nguyệt lệnh. Nhàn cung là nơi một sao bị giảm tới tám phần mười khả năng phát huy tốt.
Chùm Sao Đi Theo Lộc Tồn
Tử Vi đẩu số toàn thư chỉ đưa ra lời giảng vỏn vẹn một bài phú ngắn cho chòm mười hai sao đi theo Lộc Tồn, đại ý: Bác Sĩ thông minh, Lực Sĩ chủ quyền, Thanh Long là hỷ khí, Tiểu Hao là hư hao tiền bạc, Tướng Quân tượng trưng uy vũ, Tấu Thư chủ về phúc trạch, Phi Liêm đại biểu cho sự cô độc, Hỷ Thần chủ vui mừng, Bệnh Phù có tật bệnh, Đại Hao phá tổ nghiệp, Phục Binh và Quan Phủ mang vạ khẩu thiệt. Phải xét đủ mười hai sao này mới đoán được nguồn gốc họa phúc của một con người.
Cần chú ý một điểm: theo cách an sao của Tử Vi Việt Nam, chòm Lộc Tồn không có sao Bệnh Phù mà chỉ có sao Trực Phù; còn sao Bệnh Phù lại được xếp sang chòm Thái Tuế. Tiền nhân ta đã căn cứ vào bài phú về chòm sao Lộc Tồn để phát triển thành lời giảng đoán kỹ càng hơn cho từng sao, như sau.
Mười vị trong chòm sao
Bác Sĩ chủ về văn chương, bác học; nếu đi cùng Thiên Riêu, Thiên Y là cách thầy thuốc giỏi — dù trong Tử Vi đẩu số toàn thư không có sao nào gọi là Thiên Y.
Lực Sĩ là dòng sao có tác dụng tăng thêm hung hoặc tăng thêm cát tùy vào sao nó đứng cạnh.
Thanh Long chủ về may mắn, đem điều tốt lành tới; rất hay nếu đi cặp với Long Đức mà đứng tại cung Thìn. Thanh Long gặp Hóa Kỵ ví như rồng gặp mây gặp hội. Thanh Long với Long Đức cùng đóng ở cung Phúc Đức là nhà có mồ mả kết phát. Thanh Long đồng cung với sao Lưu Hà — dù Tử Vi đẩu số toàn thư không có sao này — là rồng vào biển khơi, tha hồ vùng vẫy.
Tướng Quân oai vệ, quyền thế; đi cặp với Thiên Tướng là lưỡng Tướng, càng thêm quyền thế. Tướng Quân hội với các sao mang ý nghĩa binh quyền, ấn tín thì võ nghiệp hiển hách.
Tấu Thư chủ về sắc phong, ân tín; hội với Hóa Kỵ ở miếu vượng địa là người tháo vát, giỏi giang; gặp Bạch Hổ trong đại hạn, tiểu hạn thường đắc ý về công danh và hỷ sự; hội cùng Vũ Khúc, Đào Hoa, Hỷ Thần thì có thiên hướng về nghệ thuật diễn xuất, sân khấu.
Phi Liêm đóng cung Thân, Mệnh: con trai đa số góa vợ, con gái góa chồng, vì sao này chủ về sự cô độc. Phi Liêm đóng tại cung Dần mà gặp Bạch Hổ ví như hổ mọc cánh bay. Phi Liêm gặp Hỏa Tinh, Thiên Hình có thể chết trận.
Hỷ Thần chủ về niềm vui; đi cặp với Thiên Hỷ là người phong lưu, hồ hết lại đầy, tính tình dễ vui. Đại hạn, tiểu hạn có cả hai sao hỷ này thường toại ý bất ngờ, may mắn.
Bệnh Phù chủ bệnh tật, hay ốm đau; nếu ở cung Mệnh lại gặp Địa Kiếp thì bần khổ, cơ hàn.
Phục Binh chủ về khẩu thiệt, quyền biến, giảo quyệt; ở cung Mệnh thêm sát tinh là người có thủ đoạn, không thực lòng với ai. Nhưng nếu hội với Thiên Hình, Thiên Tướng thì nên theo nghiệp võ mới hiển đạt. Gặp Địa Kiếp dễ bị mưu hại ngấm ngầm. Con gái có Mệnh gặp sao Thai cùng Phục Binh thì dễ ngoại tình hoặc chửa hoang.
Quan Phủ chủ về miệng tiếng, kiện cáo; rất sợ hội với Liêm Trinh, Thiên Hình hay Thái Tuế ở hãm địa, nhưng nếu những sao này cư miếu địa thì Quan Phủ lại tốt, là người có tài ăn nói.
Riêng hai vị Đại Hao và Tiểu Hao trong chòm này được sách bàn riêng ở một mục khác.
Đại Hao - Tiểu Hao
Đại Hao và Tiểu Hao đóng ở cung nào thì hao ở cung đó. Chỉ riêng hai cung Mão, Dậu, khi mỗi sao trong cặp Song Hao đóng một cung, lại rất hay — thuộc cách "chúng thủy triều đông," trăm ngọn nước cùng chảy về biển đông; nhất là khi chính diệu của hai cung đó là Cự Môn, Thiên Cơ, thì người ấy giàu sang lắm.
Bàn thêm về Phi Thiên Tam Sát
Tử Vi đẩu số toàn thư, trong chương An Sao, còn đưa ra Phi Thiên Tam Sát, gây ra không ít thắc mắc. Tam Sát ấy không phải là những sao nào khác lạ, mà chỉ là ba sao thuộc chòm Lộc Tồn — Tấu Thư, Tướng Quân và Trực Phù — theo cách an như sau: người tuổi Dần, Ngọ, Tuất thì ba sao này bay vào các cung Hợi, Mão, Mùi; người tuổi Thân, Tí, Thìn thì bay vào Tị, Dậu, Sửu; người tuổi Hợi, Mão, Mùi thì bay vào Thân, Tí, Thìn; người tuổi Tị, Dậu, Sửu thì bay vào Dần, Ngọ, Tuất. Nói cách khác, người tuổi Dần, Ngọ, Tuất thì lần lượt theo thứ tự Tấu Thư, Tướng Quân, Trực Phù được an vào các cung Hợi, rồi Mão, rồi Mùi; và cứ theo lối đó mà suy ra cho các tuổi khác.
Về lời giải đoán của Phi Thiên Tam Sát, có bài ca rằng: sao Tấu Thư mang họa khẩu thiệt; Tướng Quân bay tới làm cho lòng người kinh sợ; Trực Phù gây lôi thôi, kéo nhau tới chốn công đường — đó chính là ba sao Sát của dòng lưu niên.
Khoa Tử Vi Việt Nam không hề nhắc tới Phi Thiên Tam Sát. Vì sao có sự khác biệt này? Lấy lý mà đoán thì có thể Tử Vi đẩu số toàn thư đã sai, bởi lẽ nó tạo thêm rắc rối vô cớ và thừa thãi vô ích — biết đâu chẳng phải do mấy ông giang hồ thuật sĩ đời sau thêm thắt vào.
Chòm Sao Đi Theo Thái Tuế
Theo cách an sao của Tử Vi Việt Nam, đi theo Thái Tuế có tới mười một sao khác: Thiếu Dương, Tang Môn, Thiếu Âm, Quan Phù, Tử Phù, Tuế Phá, Long Đức, Bạch Hổ, Phúc Đức, Điếu Khách, Bệnh Phù — mỗi cung an một sao cho đủ mười hai cung.
Nhưng trong Tử Vi đẩu số toàn thư, chỉ có bốn sao đi theo Thái Tuế mà thôi: Tang Môn, Bạch Hổ, Điếu Khách, Quan Phù — gọi là Tứ Phi Tinh, với cách an: trước Thái Tuế hai cung an Tang Môn, sau Thái Tuế hai cung an Điếu Khách; cung đối chiếu với Tang Môn thì an Bạch Hổ, cung đối chiếu với Điếu Khách thì an Quan Phủ.
Vì sao có sự khác biệt lớn như vậy giữa hai cách an sao? Cũng chẳng ai rõ. Nhưng nếu lấy lý mà đoán thì Tử Vi đẩu số toàn thư có phần đúng hơn, bởi những sao mà Tử Vi Việt thêm vào dường như không thấy có tác dụng luận đoán rõ ràng nào — chúng như chỉ ngồi cho đủ chỗ; nếu có lời đoán nào đi kèm thì cũng khá gượng ép. Ví như hỏi Thiếu Âm, Thiếu Dương ảnh hưởng tới số mệnh ra sao thì khó có câu trả lời thỏa đáng; hay nói Tử Phù hội với Thiên Lương, Đà La thì thường bị chứng đau ruột, kiết lỵ — nghe cũng quá gượng ép.
Rút lại, chỉ còn bốn sao Bạch Hổ, Tang Môn, Điếu Khách, Quan Phù là đáng kể. Tử Vi đẩu số toàn thư không chép lời giải đoán riêng cho bốn sao này; chỉ có Tử Vi Việt đưa ra lời giải đoán như sau.
Điếu Khách, Quan Phù, Bạch Hổ, Tang Môn
Điếu Khách chủ về ngôn luận, văn chương, thi phú. Hội với Đại Hao, Tiểu Hao, Tang Môn, Bạch Hổ là bộ bại tinh chủ phá tài sản, gia trang, gây tật bệnh, hình thương. Ở hãm địa thì nói năng không cẩn trọng, ham mê chơi bời, nhất là cờ bạc, và ly khắc tổ tông. Hội với Thiên Mã, Thiên Khốc mà lâm mệnh là người có học vấn, tài hùng biện, mẫn tiệp, rất khéo léo về ngoại giao — ví như con ngựa đã có đủ bộ yên cương và nhạc.
Quan Phù chủ về thông minh, cơ mưu, quyền bính. Quan Phù rất hợp với Thái Tuế, Tuế Phá; hay hội với Thiên Cơ, Thiên Lương, Tang Môn, Bạch Hổ, Thiên Hình ở miếu địa thì càng tăng thêm phần rực rỡ, tốt đẹp về văn chương, binh nghiệp. Hội với Thái Tuế, Đà La, Thiên Hình, Hóa Kỵ mà ở hãm địa thì khó tránh khỏi ngục hình hoặc thị phi nơi cửa quan.
Bạch Hổ chủ oai hách, quyền uy khi ở miếu địa; chủ hình thương, tai họa nếu rơi vào hãm địa. Miếu địa của Bạch Hổ là cung Dậu, vì theo ngũ hành, Bạch Hổ thuộc Kim mà Dậu là chính vị của Kim, nên gọi là cách "hổ gầm phía Tây." Về việc Bạch Hổ đóng ở cung Dần thì có hai ý kiến khác nhau: người cho là rất tốt vì "hổ ở đúng vị hổ"; người lại cho là không tốt, vì Dần chẳng khác nào "hổ đã ra khỏi rừng," dễ gây hiểm nguy. Ngoài ra còn nhiều cách phối hợp khác: Bạch Hổ hội cùng Thiên Hình tại cung Dần gọi là "hổ ngậm kiếm," càng tăng sức mạnh; Bạch Hổ cùng Tấu Thư là "hổ đội hòm sắc phong"; Bạch Hổ cùng Kình Dương là cách văn chương oai hùng; hai bên cung Mệnh trước sau có cả Thanh Long lẫn Bạch Hổ gọi là "giáp Hổ giáp Long"; hội đủ bốn sao Phượng Các, Long Trì, Hoa Cái, Bạch Hổ ở Mệnh, Thân gọi là cách Tứ Linh, khi đó sẽ không còn hung sát tinh nào đáng ngại nữa.
Tang Môn không có lời giải đoán riêng nói rõ sao này chủ về những gì; chỉ thấy rải rác vài câu phú đoán nhắc tới nó cùng các sao khác.
Long Trì - Phượng Các
Tử Vi đẩu số toàn thư không có lời giải đoán cho Long Trì, Phượng Các. Tử Vi Việt giải đoán hai sao này là những sao chủ về sự cao sang, đài các và niềm vui mừng. Chúng đi cùng Thái Dương, Thái Âm thì rất hợp cách.
Tiền nhân ta đặt những câu phú nôm về Long Trì, Phượng Các: hai sao này ở Mão, Dậu là đôi miền vượng địa, nếu vượng thì tên đề đầu bảng vàng khoa cử; đóng ở cung Mùi, cung Sửu cũng là chỗ vượng; gặp Thiên Riêu, Thiên Hỷ, Thiên Khốc thì như rồng mây gặp hội, chốn thi đình danh vọng vòi vọi cao. Đi cùng Hoa Cái, Long Trì, Phượng Các, Hồng Loan, Đào Hoa thì chủ quyền nội tướng, sánh vai anh hào. Phượng Các, Long Trì giáp cung Mệnh là người có tài, trước sau đều vinh hiển, nổi danh ra ngoài.
Tam Thai - Bát Tọa
Tử Vi đẩu số toàn thư không có lời giải đoán cho hai sao Tam Thai, Bát Tọa. Tử Vi Việt giải đoán Tam Thai, Bát Tọa: nếu ở miếu địa thì chủ về văn chương, cát khánh, thanh quý, dễ hiển đạt; nếu lạc vào hãm địa thì cô đơn, âm thầm.
Tiền nhân ta đặt những câu phú nôm về hai sao này: được Bát Tọa, Tam Thai giáp cung thì từ thiếu niên đã sớm dự vào con đường công danh lâu dài, nghênh ngang. Đi cùng Hỏa Tinh, Linh Tinh, Kình Dương, Tấu Thư thì tung hoành ngòi bút giữa làng văn nhân. Ngòi bút vùng vẫy chốn văn chương, tài năng ấy trời phú riêng cho người tuổi Tân, Tốn, Đoài. Ở cung Càn, Hợi thì ngọn bút vẽ vời tài hoa; ở cung Mão, Dậu thì như bùa ấn trong tay người pháp sư.
Hồng Loan - Thiên Hỷ
Tử Vi đẩu số toàn thư không có lời giải đoán cho hai sao Hồng Loan, Thiên Hỷ. Nhưng trong sách "Mệnh Học Huyền Vi Trạch Bí" có bài ca về hai sao này, đại ý: Thiên Hỷ, Hồng Loan nhập cung Mệnh thì làm việc gì cũng thông thuận, cầu tài dễ được. Nếu lại thấy cả Đào Hoa nở rộ thì hết lần này tới lần khác gặp được quý nhân. Người có nhiều Hồng Loan, Thiên Hỷ cũng là người ưa rượu chè, tình ái. Có vợ thì vợ sinh quý tử; chưa vợ thì sẽ lấy được vợ đẹp như Hằng Nga.
Lời giải đoán kỹ càng hơn của tiền nhân ta
Hồng Loan tại các cung Dần, Mão, Tí, Hợi là miếu địa, chủ về sự thông minh, hòa nhã, xinh đẹp; hội với Tử Vi thì trai lấy được vợ hiền, gái lấy được chồng sang. Hồng Loan ở hãm địa thì dâm tà, đa đoan. Các cụ có bài phú: Hồng Loan hội cùng Tử Vi, Thiên Phủ thì là gái chính chuyên, thục nữ hiếm có; Hồng Loan gặp Hóa Kỵ ở cung Phu thì lòng dạ người vợ hay xôn xao, bồn chồn; Hồng Loan hội cùng Thiên Cơ, Tấu Thư, Vũ Khúc, Hỷ Thần, Đào Hoa thì giỏi cả ca hát lẫn múa, nghề nào cũng tinh thông.
Sao Thiên Hỷ, theo tiền nhân ta, chủ về dung mạo tuấn tú, hoặc là người rất có duyên: Thiên Hỷ chủ về niềm vui mừng, thủ mệnh thì miệng cười có duyên. Ba sao Hỷ Thần, Thiên Hỷ, Hồng Loan hội đủ thì đem lại niềm hân hoan cho cả một đời người.
Thiên Đức - Nguyệt Đức
Không có lời đoán nào ghi trong Tử Vi đẩu số toàn thư cho hai sao Thiên Đức, Nguyệt Đức. Chỉ có lời của tiền nhân ta: Thiên Đức, Nguyệt Đức gặp Đào Hoa, Hồng Loan thì trai lấy được vợ đẹp, gái lấy được chồng giàu sang; Thiên Đức, Nguyệt Đức tọa thủ hay chiếu về đâu, cùng với Quan Phúc, đều có khả năng trừ hung, cứu người ở đó.
Những sao không xuất hiện trong Tử Vi đẩu số toàn thư
Các sao sau đây hoàn toàn không có mặt trong Tử Vi đẩu số toàn thư: Cô Thần, Quả Tú, Hoa Cái, An Quang, Thiên Quý, Kiếp Sát, Phá Toái. Theo Tử Vi Việt: Cô Thần, Quả Tú chủ về sự đơn côi, cô quả nếu chúng đóng ở cung Thân, Mệnh mà không có cát tinh đi cùng. Hoa Cái ở miếu vượng tại cung Thân, Mệnh ví như đã ngồi ngựa lại thêm lọng che; ở hãm địa thì cô bần. An Quang, Thiên Quý chủ về ân phong và sự quý hiển hơn người; nếu vào cung Thân, Mệnh thì càng thêm sang trọng hơn người.
Sao Đầu Quân
Cả Tử Vi đẩu số toàn thư lẫn lý thuyết truyền khẩu của khoa Tử Vi Việt đều không nói rõ về sao Đầu Quân.
Tuy nhiên, trong phần luận về thập nhị cung, Tử Vi đẩu số toàn thư lại thường nhắc đến sao này ở mỗi cung. Theo đẩu số mệnh lý của Vô Muộn, Đầu Quân là sao coi về nguyệt lệnh, nên nó có ảnh hưởng đáng kể tới tiểu hạn.
Nhàn Cung
Trong khoa Tử Vi, người ta thường thấy những từ ngữ như "nhàn cung" hoặc "lạc nhàn," ví dụ trong câu: "trai bất nhân Phá Quân Thìn Tuất, gái bạc tình Tham Sát nhàn cung."
Vậy nhàn cung là gì? Nhàn cung là nơi đắc địa dành riêng cho một số sao. Tử Vi đẩu số toàn thư định nghĩa nhàn cung như sau: Tử Vi tại Tí, Thìn, Hợi là nhàn cung; Tham Lang tại Dần, Thân là nhàn cung; Thiên Tướng tại Thìn, Tuất là nhàn cung; Thất Sát tại Thìn, Hợi là nhàn cung; Thiên Lương tại Tị là nhàn cung; Thiên Cơ tại Tị là nhàn cung; Phá Quân tại Tị, Thân là nhàn cung; Vũ Khúc tại Thân là nhàn cung.
Như vậy chỉ có nhàn cung được ghi cho tám vị sao mà thôi, còn Thiên Đồng, Thiên Phủ, Thái Âm, Thái Dương, Liêm Trinh, Cự Môn thì không thấy ghi nhàn cung — có lẽ phần câu thơ tương ứng đã bị thất lạc.
Khi một sao vào nhàn cung, khả năng phát huy tốt của nó sẽ bị giảm đến tám phần mười, hoặc nó sẽ gây thành tính khí kỳ quặc mà làm hỏng việc. Nhàn cung, theo nghĩa bóng, chính là cảnh "thất vị thất nghiệp" — mất chỗ đứng, mất việc làm.
Vòng Tràng Sinh
Vòng Tràng Sinh không phải là những tinh đẩu như các sao đã trình bày ở các chương trên. Vì lẽ đó, Tử Vi đẩu số toàn thư không bàn tới vòng Tràng Sinh trong chương "Chư tinh vấn đáp luận," mà hẹn sẽ bàn riêng ở chương luận về ngũ hành của khoa Tử Vi.
Nguồn: Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư – Vũ Tài Lục
