Bài tổng quan
Sáu dụng thần, sáu cuộc đời: từ ngang vai đến chính ấn
Người đàn bà ngồi tù mười chín năm, vừa ra ngục thì may mắn đến liên tiếp, rồi giành ngôi đầu một cuộc thi thế giới. Một nhà khoa học quốc phòng thoát chết nhờ một trận bom, bị gạt khỏi vị trí trong những năm nhiễu loạn rồi trở lại làm nên những việc lớn. Mỗi đời người ấy xoay quanh một dụng thần khác nhau...
Mục lục · 7 phần
- 01Cùng đọc một nguyên tắc, mỗi dụng thần mở ra một con đường
- 02Người nữ ngày Mậu tháng Tí: dùng ngang vai để chống lại tài
- 03Người nữ ngày Ất tháng Tuất: mười chín năm tù rồi bước lên đỉnh cao
- 04Người nữ ngày Mậu tháng Mùi: bốn mươi tuổi mới mở mang
- 05Người nam ngày Kỷ tháng Mão: dụng thần là thất sát
- 06Người nam ngày Tân tháng Ngọ: dụng thần chính ấn, họa có thể hóa cát
- 07Một nhà khoa học quốc phòng: thương quan có ấn, quý không nói hết
Cùng đọc một nguyên tắc, mỗi dụng thần mở ra một con đường
Dụng thần không phải là một cái nhãn dán lên lá số, mà là đòn bẩy giữ cho cả cục cân bằng. Khi dụng thần là ngang vai, là chính tài, là kiếp tài, là thất sát hay là chính ấn, mỗi loại kéo theo một kiểu đời khác nhau, một thứ tai họa khác nhau, một cách cứu khác nhau. Sáu lá số dưới đây cho thấy điều đó, từ người phụ nữ mang bệnh máu đến một nhà khoa học lớn của đất nước.
Người nữ ngày Mậu tháng Tí: dùng ngang vai để chống lại tài
Tứ trụ: năm Nhâm Tí, tháng Nhâm Tí, ngày Mậu Tí, giờ Bính Thìn.
Nhật can Mậu sinh vào tháng Tí là rơi vào đất thai; ngũ hành thiên khô, may mà ngang vai của nhật can có gốc, thủy lại có kho chứa nên tránh được họa nước tràn vỡ đê. Dụng thần chọn là ngang vai.
Tứ trụ có tài lại còn tàng tài, thấu ra đều ở đất vượng. Nhật chủ nhược không thắng nổi tài, nên người này nhiều nhà cửa mà ít của cải.
Vận đầu là thương thực sinh tài, nên bệnh nhiều và nguy hiểm. Nhâm Quý quá vượng khắc Bính hỏa, là bệnh về tim hay về máu. Quả nhiên bà mắc bệnh bại huyết. May sau đó, từ vận ngang vai trở đi đều là vận tốt, sức khỏe hồi phục. Nhưng loại bệnh này khó chữa, nên khi khám phải khám trực tiếp, xem sắc mặt mới kết luận được. Thân nhược tài nhiều thì dùng ngang vai để chống đỡ, nên người này nhờ có vận cứu; song vì thiên khô quá nặng nên gặp lưu niên không thuận thì bệnh còn trở lại.
Người nữ ngày Ất tháng Tuất: mười chín năm tù rồi bước lên đỉnh cao
Tứ trụ: năm Giáp Tuất, tháng Giáp Tuất, ngày Ất Hợi, giờ Mậu Dần. Dụng thần là chính tài.
Người này hơn nửa cuộc đời trắc trở, mãi đến khi dụng thần lên ngôi mới thoát ra được. Ngày Ất sinh ở đất mộ. Kiếp tuy không vượng nhưng có gốc lại nhiều, thân nhược có kình dương trợ giúp, còn được ấn sinh nên trở thành vượng. Tứ trụ chưa mất cái quý: tài nhiều mà có gốc, ngũ hành sinh khắc có tình, cho nên vừa rất giàu vừa rất từ bi, giàu sang công danh đều đủ.
Dụng thần chính tài chế áp ấn, khiến sát không sinh nổi ấn, lại hao tổn được thân vượng, vì thế dụng thần này đạt được cả ba mục tiêu.
Cân bằng sinh khắc của các ngũ hành chưa thật tốt. Phải sinh khắc chế hóa có tình, dụng thần có lực, và mỗi ngũ hành đều phát huy được chức năng của mình mới là tốt. Sát vượng sinh ấn lại có kình dương thì công danh rất cao và không dễ mất. Dụng thần tài tinh ở đây chỉ có tác dụng cân bằng mệnh cục, vì sát vượng, ấn vượng, lại có kiếp và kình dương giúp thân, thân quá vượng mới dùng được tài. Tài nhiều lại có gốc, cho nên dù gặp bại vận cũng khó sụp đổ.
Bà là người hay tích đức làm việc thiện, là hậu duệ của bậc trung liệt, yêu nghệ thuật, nhưng gặp kị vận nên không nổi tiếng. Các vận kiêu ấn, sức khỏe hơi yếu, vì thân vượng nên phần khắc trở lại. Sang sát vận, chỉ vì sát sinh ấn khiến thân càng vượng, vận lại chế áp thân nên dẫn đến tai họa: gặp thời biến động, nhà bà bị lục soát mấy lần. Bà gặp năm bị kình dương xung, tai họa cực xấu ứng vào năm hung sát Tuất gặp Hợi, người Tuất gặp Hợi hoặc Hợi gặp Tuất là thiên la địa võng, và bà phải ngồi tù. Tiếp đó là quan vận, nhưng ngồi trong tù thì không lấy chồng được chứ không phải khắc chồng. Bà ngồi tù mười chín năm. Điều may là có tài nghệ trong tay nên được mọi người kính nể, không những chẳng uổng phí mà còn mài sắc ý chí.
Khi vận Kỷ Tị đến cũng là lúc xung khai Tuất, mây mù tan hết; vừa ra ngục bà gặp may liên tục. Sang vận chính tài, dụng thần lên ngôi, tài hoa phát triển, công danh lừng lẫy, bà giành được ngôi đầu trong một cuộc thi thế giới và được các vị lãnh đạo cao nhất của Nhà nước tiếp kiến. Về già gặp vận hỉ thần, công danh lợi lộc đều đủ, phúc thọ cho đến lúc mất.
Người nữ ngày Mậu tháng Mùi: bốn mươi tuổi mới mở mang
Tứ trụ: năm Canh Thân, tháng Quý Mùi, ngày Mậu Thân, giờ Quý Sửu. Dụng thần là kiếp tài.
Nhật can Mậu sinh tháng Mùi nên không được lệnh. Trụ giờ tuy có Sửu thổ giúp thân, nhưng thực vượng sinh tài mà thân nhược. Dụng thần chọn kiếp tài vượng để giúp thân thắng tài.
Tuổi thơ gặp tài vận nên thân thể có tật, mẹ không thuận, cuộc sống khốn khó đảo điên. Sang vận thương thực cũng là bại vận. Mãi đến năm ba mươi chín tuổi, khi dụng thần lên ngôi, bà mới mở mang được và trở thành người giàu. Trung vận và hậu vận rất tốt.
Người nam ngày Kỷ tháng Mão: dụng thần là thất sát
Tứ trụ: năm Mậu Tuất, tháng Ất Mão, ngày Kỷ Dậu, giờ Mậu Thìn.
Nhật can Kỷ sinh tháng Mão là ở đất bệnh, tuy không được lệnh nhưng được kiếp tài vượng trợ giúp nên thân vượng; thất sát vượng, hóa ấn sinh thân. Tuy ngũ hành không đầy đủ nhưng cũng còn khá.
Dụng thần chọn sát, vì thân hơi cường vượng nên không sợ sát. Các vận ấn, kiêu, kiếp, tỉ đều làm thân vượng thêm nên không lợi, nhưng sát vượng thì không sợ chế hóa. Thương thực hợp nhau cùng chế thất sát; tiểu nhân được chế ngự thì công danh có thể đạt. Sang tài vận, tài sinh cho thất sát, cân bằng lại thân vượng, cho nên từ thương vận trở đi đến già, cuộc đời thuận buồm xuôi gió.
Trong mệnh này, hai chi Mão Tuất hợp nhau nhưng bị Thìn xung; Thìn Dậu hợp kim, nhưng thiên can không có Canh Tân lộ ra để hóa, lại bị Mão xung, nên được xem là xung.
Người nam ngày Tân tháng Ngọ: dụng thần chính ấn, họa có thể hóa cát
Tứ trụ: năm Quý Mão, tháng Mậu Ngọ, ngày Tân Sửu, giờ Đinh Dậu.
Nhật can Tân sinh tháng Ngọ, được lệnh; ấn tinh vượng lại được sát vượng sinh cho nên được sinh; chi giờ gặp lộc là đắc địa. Sát được vượng tài sinh nên vượng thêm, vừa khắc thân vừa khắc thực thần. Thực thần không đủ lực chế sát, may sát được ấn tinh hóa để sinh thân, nên khắc mà như không khắc. Nhưng kị tài sinh quan sát rồi chế ngự ấn, như vậy gây bất lợi. Thân nhược, tài sát vượng thì dù ấn vượng, tính cho cùng vẫn là thân nhược.
Dụng thần là chính ấn. Trong cách cục, ngũ hành sinh khắc lưu chuyển hợp tình nên gặp hung có thể hóa cát.
Vào sát vận, sát sinh ấn, ấn tiếp tục sinh thân nên ông học giỏi. Sang quan vận thì thất sát hỗn tạp. Một năm tài sinh thất sát, buôn bán ra tiền nhưng bất ngờ đổ xe, tiền ấy bồi thường hết. Bước sang vận tài là kị vận; gặp năm không thuận mà hành động khinh suất, mù quáng thì dễ chuốc họa, may nhờ dụng thần vượng nên không dễ đổ vỡ. Vận thực thần lâm vượng chế được sát, vận thương hợp được sát, đều là vận bình thường. Hai vận cuối là tỉ kiếp, vừa ý, có thể trường thọ. Tứ trụ này nếu có vận ấn tinh có thể giàu nhất làng, đáng tiếc là không có.
Đặc điểm của lá số: dụng thần chính ấn là thổ, gặp vận Mậu Kỷ hoặc Canh Tân thì ở phương tây hoặc ngay tại chỗ là đất sinh thân, giúp thân, cuộc đời phúc thọ phú quý, nhưng ảnh hưởng của hoàn cảnh địa lý và vận trình đến sự phát triển không lớn. Ngoài ra họ và tên có nhiều chữ thủy, toàn là cái làm hao tổn khí sinh trợ cho mình, nên thêm chữ thuộc ngũ hành thổ hoặc kim để bổ cứu.
Một nhà khoa học quốc phòng: thương quan có ấn, quý không nói hết
Ông là nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học kỹ thuật công nghiệp quốc phòng Trung Quốc, một nhà lãnh đạo ưu tú của mặt trận khoa học kỹ thuật quốc phòng. Ông mất vì bệnh tim phát đột ngột, cấp cứu không kết quả, lúc hai mươi ba giờ ba mươi phút ngày hai mươi tám tháng ba năm 1994, thọ bảy mươi chín tuổi. Cả đời ông không tính toán thiệt hơn về danh lợi, tận tụy làm việc, nghiêm khắc với bản thân và càng nghiêm với con cái, là một vị quan thanh liêm hiếm có, tầm nhìn rộng, kiến thức quảng bác, nhạy bén với các ngành khoa học mới và nhiệt tình cổ vũ những lĩnh vực khoa học mà người đời chưa chú ý.
Tứ trụ của ông: năm Ất Mão, tháng Bính Tuất, ngày Ất Dậu, giờ Nhâm Ngọ.
Đây là cách cục thương quan có cả ấn, quý không nói hết được. Cách cục này thành lập trên cơ sở thân nhược có ấn sinh. Dụng thần chính ấn có lực, nhật can tuy nhược nhưng có gốc, có trợ giúp; chỉ cần gặp kị thần tài ở vận muộn thì không những quý hiển mà tuổi thọ cũng cao. Người thương quan lẫn ấn, lại sát vượng, ấn vượng, thì ấn sát tương sinh là chủ về công danh. Ông không tham lam công danh lợi lộc nhưng là người văn võ kiêm toàn; không bao giờ tranh quyền lợi mà luôn đạt thành công bất ngờ. Đó là người thực học thực tài, công danh tương xứng với thực lực.
Giai đoạn đầu: học tập và chiến đấu
Đại vận được chia làm ba giai đoạn để phân tích: các vận tỉ, kiếp, kiêu; các vận ấn, sát, quan; các vận thiên tài, chính tài. Giai đoạn đầu là thời học tập và chiến đấu ở tuyến đầu của cuộc kháng chiến giải phóng. Hai vận tỉ kiếp giúp trợ thêm, trong mệnh ấn vượng nên ông thông minh học giỏi, vào thẳng Đại học Bắc Kinh, hăng hái tham gia các hoạt động tiến bộ và phong trào sinh viên kháng Nhật cứu quốc. Từ năm 1936 ông tham gia cách mạng liên tục cho đến ngày giải phóng, vào sinh ra tử: tổ chức và lãnh đạo phong trào sinh viên, đấu tranh bí mật, tham gia du kích, rồi Bát lộ quân, Tân Tứ quân, chỉ huy và làm công tác chính trị ở Quân dạ chiến Hoa Đông, dự nhiều chiến dịch.
Thầy Thiệu Vĩ Hoa từng có vinh dự đoán cho ông, khi ông còn sống, về một lần thoát khỏi cõi chết. Đó là năm 1943, tuế vận Quý Mùi. Khi một số sĩ quan cao cấp của Tân Tứ quân bị bắt giam, chuẩn bị bị xử tử sau bữa cơm trưa, Trương Chấn Hoàn cùng những bậc lão thành khác không nao núng trước cái chết; đúng lúc ấy máy bay Nhật đến ném bom, nhân cơ hội đó họ trốn thoát.
Giai đoạn sung sức nhất và những năm trắc trở
Giai đoạn hai là những năm ông sung sức nhất, lăn lộn trong công tác khoa học kỹ thuật quốc phòng, nhiều lần giành thành tích xuất sắc. Ông tham gia tổ chức và chỉ huy các cuộc thử nghiệm: quả bom nguyên tử đầu tiên của Trung Quốc nổ thử trên không, quả bom khinh khí thử trên không đầu tiên, tên lửa vượt đại dương, tên lửa ngầm dưới đất, liên lạc vệ tinh; tổ chức luận chứng và đề xuất nghiên cứu thành công máy tính điện tử cỡ lớn, làm cho Trung Quốc trở thành một trong số ít nước đầu tiên trên thế giới có loại máy này. Ông có công lớn trong quyết sách khoa học hóa sự nghiệp khoa học kỹ thuật quốc phòng và xây dựng nền khoa học kỹ thuật quốc phòng hiện đại mang màu sắc Trung Quốc, đạt được thành quả kiệt xuất trong điều kiện cực kỳ khó khăn. Điều ấy cũng ứng nghiệm với mệnh cục cao quý có những thành công bất ngờ hơn người của ông.
Năm Tân Sửu 1961, vận sát gặp năm sát, sát ấn tương sinh, ông được phong quân hàm Thiếu tướng, công thành danh toại. Đến thời quan vận, thương quan gặp quan, quan sát hỗn tạp nên ông bị buộc rời cương vị công tác trong những năm nhiễu loạn, mở đầu một chuỗi trắc trở. Năm Mậu Thân 1968 là vận kị thần, dụng thần ấn tinh nhập mộ khố của chi vận; mãi đến năm Giáp Dần xung khai Thân kim mới thoát. Năm Ất Mão 1975, thân vượng, ông được phục hồi công tác. Để nhanh chóng xoay chuyển nền khoa học kỹ thuật quốc phòng đã bị làm rối loạn, ông thúc đẩy công tác nghiên cứu, sản xuất và thí nghiệm, đưa nó trở lại quỹ đạo bình thường, hoàn thành một khối lượng công việc khổng lồ và có những đóng góp lớn cho sự phát triển máy tính điện tử Trung Quốc.
Giai đoạn nghỉ hưu và vận chính tài
Giai đoạn ba là thời nghỉ hưu. Vị lão thành đầy công tích vẫn quan tâm đến các lĩnh vực khoa học mới, luôn cổ vũ và nâng đỡ. Sau khi về hưu ông say mê khoa học nhân thể và các hiện tượng khí công; ông làm Tổng thư ký Hội Khoa học nhân thể và Tổng thư ký Hội nghiên cứu Khoa học khí công Trung Quốc. Ông theo nguyên lý thực tiễn là tiêu chuẩn duy nhất để kiểm nghiệm chân lý, tích cực khám phá, biết khó vẫn không lùi, thể hiện tinh thần cầu hiểu biết và thái độ khoa học ở mức cao. Ông tôn trọng tri thức, nhân dân, chuyên gia, là người bạn tri kỷ của đông đảo cán bộ khoa học kỹ thuật.
Vận chính tài Mậu Dần: kị thần nắm vận khắc dụng thần; Dần, Ngọ, Tuất hợp thành cục thương quan, nhật mộ; kim mũi kiếm của Dậu dính chặt vào thân mình khắc Ất mộc, dụng thần bị khắc mà kị thần không được hóa. Năm ấy ông vì bệnh tim, thương quan là Bính hỏa, phải nằm viện cấp cứu, mấy lần nguy kịch. Các cao sư khí công khắp nơi đều kéo về cứu giúp, thầy Thiệu Vĩ Hoa cũng dốc hết sức kéo dài tuổi thọ cho ông. Ngày hai mươi bốn tháng chín năm sau, khi bệnh thuyên giảm, ông ra viện đi an dưỡng; nửa năm ấy ông vẫn cố gắng làm việc cho đến hơi thở cuối cùng. Trước khi mất, ông để lại di chúc: tang lễ đơn giản, di hài hiến cho y học nghiên cứu. Người vệ sĩ trung thành của đất nước ấy đã vĩnh biệt mọi người như thế.
Nguồn: Thiệu Vĩ Hoa, Trần Viên, Dự đoán theo Tứ trụ.
