Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bát Tự Hà Lạc

Bài tổng quan

Phe mình đạt bốn mươi phần trăm thì nhật chủ vượng: tính qua bảy lá số

Bói Dịch - Bát Tự Hà Lạc02/10/202610 phút đọc3 lượt đọc
Phe mình đạt bốn mươi phần trăm thì nhật chủ vượng: tính qua bảy lá số

Một lá số cho ra tổng một trăm tám mươi sáu độ, bốn mươi phần trăm của nó là bảy mươi tư phẩy bốn. Thổ và hỏa cộng lại chín mươi độ, vượt ngưỡng ấy. Còn một lá số khác chỉ thiếu chưa đầy một độ mà nhật chủ đã bị xếp vào hàng hơi nhược...


Cộng điểm cho từng ngũ hành trong một lá số

Muốn biết nhật chủ mạnh hay yếu, trước hết phải cộng số độ của từng ngũ hành trong lá số: thiên can một cột, địa chi một cột, rồi thêm hoặc bớt theo ngũ hành đang nắm lệnh. Dưới đây là những lá số được tính từng bước theo các quy tắc đã nêu.

Ất Tị, Ất Dậu, Kỷ Mùi, Nhâm Thân

Nhân nguyên các chi: Tị tàng Bính hỏa 18, Canh kim 9, Mậu thổ 3; Dậu tàng Tân kim 30; Mùi tàng Kỷ thổ 18, Đinh hỏa 9, Ất mộc 3; Thân tàng Canh kim 18, Mậu thổ 9, Nhâm thủy 3.

  1. Thiên can Kỷ thổ được Kỷ thổ và Đinh hỏa trong Mùi, Bính hỏa và Mậu thổ trong Tị, Mậu thổ trong Thân trợ giúp, nên có chỗ dựa, được 36 độ; không có địa chi hay thiên can nào khắc hợp.
  2. Thiên can Nhâm thủy có Canh kim và Nhâm thủy trong Thân, Canh kim trong Tị trợ giúp nên có chỗ dựa. Nhưng bị Kỷ thổ khắc mất một phần ba nên còn 24 độ; lại bị địa chi khắc phạt, giảm thêm 18 độ, nên chỉ còn 6 độ.
  3. Thiên can Ất mộc có Ất mộc trong Mùi và Nhâm thủy trong Thân nên có chỗ dựa; do đó can năm và can tháng mỗi can được 36 độ.
  4. Địa chi Tị tàng Bính hỏa 18, Canh kim 9, Mậu thổ 3. Địa chi Dậu tàng Tân kim 30. Địa chi Mùi được thiên can Kỷ thổ trợ giúp, lại không bị các địa chi khác xung hợp, nên bản khí tăng 6 độ: Kỷ thổ 24, Đinh hỏa 9, Ất mộc 3. Địa chi Thân tàng Canh kim 18, Mậu thổ 9, Nhâm thủy 3.

Dậu là kim nên kim nắm lệnh: kim được cộng thêm một phần năm, mộc bị trừ một phần năm. Kết quả:

Ngũ hànhThiên canĐịa chiKim nắm lệnhTổng cộng
Mộc663trừ 1/555
Hỏa01818
Thổ363672
Kim027cộng 1/532
Thủy639

Ất Mão, Canh Thìn, Đinh Mão, Nhâm Dần

Ất và Canh phu tòng thê hóa được mộc 60 độ. Đinh và Nhâm chính hóa được mộc 60 độ. Ba chi Dần, Mão, Thìn tam hội hóa thành một cục 72 độ. Chi ngày là Mão mộc được 30 độ. Toàn bộ lá số quy về mộc, không còn ngũ hành nào khác.

Tân Mão, Canh Dần, Giáp Thìn, Ất Hợi

Hai can Tân và Canh trong địa chi không có thổ hay kim nên là hư phù, mỗi can có 9 độ; lại bị địa chi xì hơi, giảm 12 độ, nên thành 0 độ. Giáp và Ất là mộc có chỗ dựa; Giáp tuy bị Canh kim khắc, nhưng Canh kim hư phù không khắc được, nên Giáp và Ất mỗi can tính 36 độ. Ba chi Dần, Mão, Thìn tam hội hóa mộc được 72 độ. Hợi tàng Nhâm thủy 21 độ, Giáp mộc 9 độ. Chi tháng tam hội hóa mộc nên mộc nắm lệnh. Kết quả: mộc 186 độ, thủy 21 độ, các hành khác bằng 0.

Giáp Ngọ, Đinh Mão, Bính Tuất, Mậu Tuất

Giáp mộc không thấy thủy nên hư phù, tính 9 độ, lại bị địa chi cùng trụ xì hơi, giảm 6 độ, còn 3 độ. Bính và Đinh trong địa chi có Ngọ hỏa nên có chỗ dựa, mỗi can 36 độ. Mậu thổ được hỏa thổ trong địa chi giúp đỡ nên có chỗ dựa, 36 độ. Hai chi Mão và Tuất lục hợp hóa hỏa được 36 độ. Ngọ tàng Đinh hỏa 21 độ và Kỷ thổ 9 độ. Chi giờ Tuất cùng ngũ hành với can Mậu, lại không bị khắc hợp nên bản khí tăng 6 độ, thành 24 độ. Tuy sinh tháng Mão, nhưng vì Mão và Tuất lục hợp hóa hỏa nên hỏa nắm lệnh.

Tân Mão, Mậu Tuất, Quý Mão, Kỷ Mùi

Tân kim được Mậu, Kỷ thổ trong nhân nguyên sinh cho nên có chỗ dựa, 36 độ, nhưng vì khắc chi cùng trụ nên giảm 12 độ, còn 24 độ. Mậu, Kỷ thổ được Mậu, Kỷ thổ trong nhân nguyên trợ giúp nên mỗi can có chỗ dựa, 36 độ. Quý thủy hư phù, lại bị Mậu, Kỷ kẹp khắc nên tính là không. Địa chi Mão và Mùi bán tam hợp không hóa, Mão và Tuất lục hợp không hóa nên các chi tính theo khử bì. Chi tháng hợp mà không hóa vẫn giữ nguyên bản khí nên Tuất nắm lệnh. Mão mộc bị Tân kim trực đỉnh khắc, tổn mất 8 độ. Mùi thổ cùng ngũ hành với thiên can trực đỉnh nên tăng 6 độ.

Nhâm Thân, Đinh Mùi, Bính Thân, Tân Mão

Các can Nhâm, Đinh, Bính, Tân đều có chỗ dựa. Đinh và Nhâm ngũ hợp mà không hóa nên bị coi là khắc: can bị khắc hao một phần ba, can khắc không hao; vậy Nhâm tính 36 độ, Đinh tính 24 độ. Bính và Tân ngũ hợp không hóa cũng là khắc: Bính 36 độ, Tân 24 độ. Các địa chi đều không bị xung hợp. Chi tháng Mùi là thổ nắm lệnh. Thân kim bị thiên can trực đỉnh Bính hỏa khắc, tổn mất 6 độ; Mão mộc bị Tân kim khắc, tổn mất 6 độ. Đinh lại bị địa chi cùng trụ xì hơi, giảm thêm 6 độ, còn 18 độ. Bính khắc địa chi cùng trụ nên giảm 12 độ, còn 24 độ. Tân khắc địa chi cùng trụ cũng giảm 12 độ, còn 12 độ.

Ất Dậu, Canh Thìn, Quý Dậu, Mậu Ngọ

Ất và Canh ngũ hợp không hóa được xem là khắc: Ất tính 24 độ, Canh 36 độ (ngũ hợp mà có một can hư phù thì vẫn xem là hợp, không tính là hư phù). Mậu và Quý ngũ hợp không hóa cũng là khắc: Quý 24 độ, Mậu 36 độ. Hai chi Dậu cùng tranh hợp một chi Thìn nên hợp cục không thể thành hóa, các chi tính theo khử bì, chỉ còn bản khí. Ngọ tàng Đinh hỏa 21 độ, Kỷ thổ 9 độ. Chi tháng Thìn bị tranh hợp nên không thành hóa, do đó thổ khí vẫn nắm lệnh. Ất bị địa chi cùng trụ khắc phạt giảm 18 độ, còn lại 6 độ.

Phe mình và phe khác: ngưỡng bốn mươi phần trăm

Khi độ vượng của các ngũ hành đã tính xong, những can chi sinh trợ cho nhật chủ hoặc cùng ngũ hành với nhật chủ được gọi là phe mình; những can chi còn lại là phe khác. Ngũ hành bị nhật chủ khắc, ngũ hành khắc nhật chủ, và ngũ hành do nhật chủ sinh ra đều thuộc phe khác. So sánh phe mình với phe khác sẽ rút ra nhật chủ mạnh hay yếu.

Phe mình chỉ có hai loại ngũ hành: ngũ hành sinh trợ cho nhật chủ và ngũ hành cùng loại với nhật chủ. Phe khác có ba loại: khắc nhật chủ, nhật chủ sinh cho, và bị nhật chủ khắc. Vì thế phe mình chiếm từ 40% tổng số độ trở lên thì coi là nhật chủ vượng; ngược lại chiếm dưới 40% thì là nhật chủ yếu.

Ví dụ: Ất Tị, Ất Dậu, Kỷ Mùi, Nhâm Thân

Nhật chủ là Kỷ thổ, phe mình là hỏa và thổ. Độ vượng toàn bộ ngũ hành là 55 + 18 + 72 + 32 + 9 = 186 độ; 40% của 186 là 74,4 độ. Hỏa 18 độ cộng thổ 72 độ là 90 độ, lớn hơn 74,4 độ, nên nhật chủ vượng.

Ví dụ: Ất Mão, Canh Thìn, Đinh Mão, Nhâm Dần

Nhật chủ Đinh cùng Nhâm ngũ hợp hóa mộc, nên toàn bộ ngũ hành đều là mộc, thành mộc độc vượng.

Ví dụ: Tân Mão, Canh Dần, Giáp Thìn, Ất Hợi

Nhật chủ là Giáp mộc; thủy và mộc đều là phe mình, gồm 186 độ thêm thủy 21 độ thành 207 độ. Toàn bộ ngũ hành đều thuộc phe mình nên là mộc độc vượng.

Ví dụ: Giáp Ngọ, Đinh Mão, Bính Tuất, Mậu Tuất

Nhật chủ là Bính hỏa. Mộc và hỏa đều là phe mình, gồm 3 độ cộng 158 độ thành 161 độ. Toàn bộ ngũ hành là 239 độ, 40% là 95,6 độ. 161 độ vượt quá 95,6 độ nên nhật chủ vượng.

Ví dụ: Tân Mão, Mậu Tuất, Quý Mão, Kỷ Mùi

Nhật chủ là Quý thủy. Kim và thủy đều là phe mình, gồm 24 độ. Toàn bộ ngũ hành là 213 độ, 40% là 85,2 độ. Vì vậy nhật chủ nhược.

Ví dụ: Nhâm Thân, Đinh Mùi, Bính Thân, Tân Mão

Nhật chủ Bính tuy hợp với Tân nhưng không hóa nên vẫn là Bính hỏa. Mộc và hỏa đều là phe mình, cộng lại 78 độ. Toàn bộ ngũ hành là 197 độ, 40% là 78,8 độ. 78 độ nhỏ hơn 78,8 độ nên nhật chủ hơi nhược.

Ví dụ: Ất Dậu, Canh Thìn, Quý Dậu, Mậu Ngọ

Nhật chủ Quý tuy ngũ hợp với Mậu nhưng không hóa nên vẫn giữ nguyên Quý thủy. Kim và thủy đều là phe mình, gồm 96 độ cộng 19 độ thành 115 độ. Toàn bộ ngũ hành là 218 độ, 40% là 87,2 độ. 115 độ lớn hơn 87,2 độ nên nhật chủ vượng.

Chính cách và cách đặc biệt

Cách cục của Tứ trụ chia thành hai loại lớn: cách cục phổ thông và cách cục đặc biệt. Nói chung trong Tứ trụ, cách cục phổ thông chiếm phần lớn, cách cục đặc biệt chỉ chiếm một phần nhỏ. Khi phân loại, nếu lá số phù hợp với cách cục đặc biệt thì trước hết chọn cách đặc biệt; nếu không thì xếp vào loại phổ thông.

Chính cách, tức cách phổ thông, chia thành mười loại: cách chính quan, cách thất sát, cách chính tài, cách thiên tài, cách chính ấn, cách thiên ấn, cách thương quan, cách thực thần, cách kiến lộc và cách kình dương.

Người xưa bàn rất nhiều về phép lấy cách cục, số cách đạt hơn bốn mươi loại. Cách cục nhiều và phương pháp rườm rà như thế, nhưng thực tế có nhiều cách không được dùng hoặc rất ít dùng. Có những cách tên gọi rất hay, nhưng xét cho cùng thực chất chỉ là thiên can, tỉ kiếp trùng lặp. Cách lấy cách cục hiện đại lấy lệnh tháng làm chính, hoặc lấy nhân nguyên do chi tháng tàng chứa mà lộ ra; còn khi nhân nguyên không lộ ra thì lấy cái gì thấy cần lấy. Phương pháp này gọi là phương pháp lấy cách cục theo can ngày và tháng sinh, dễ nắm vững và khá thích dụng.

Ngày Giáp sinh các tháng Tý, Sửu, Dần, Mão

Người sinh ngày Giáp tháng Tý, nếu can lộ ra Quý thủy thì là cách chính ấn. Cách này mừng gặp quan lộ ra trên ấn, kiêng thiên tài đến làm tổn thương ấn. Tuế vận gặp quan cũng tốt, kiêng gặp thiên tài.

Người sinh ngày Giáp tháng Sửu là tạp khí. Can lộ Kỷ thổ là cách chính tài, lộ Tân kim là cách chính quan, lộ Quý thủy là cách chính ấn; nếu không lộ gì thì tùy đó mà lấy cách. Nên gặp ấn, kị gặp tài; nên gặp quan, kị quan sát hỗn tạp và thương quan; nên gặp tài, kị tỉ kiếp. Tuế vận nên gặp và kị gặp những điều tương tự.

Người sinh ngày Giáp tháng Dần là cách kiến lộc. Người sinh ngày Giáp tháng Mão là cách kình dương, vì Mão là kiếp tài.

Nguồn: Thiệu Vĩ Hoa, Trần Viên, Dự đoán theo Tứ trụ.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bát Tự Hà Lạc