Bài tổng quan
Cục và 14 chính tinh, hai tầng toán số phía sau lá số
Cùng khắc nhập Mệnh Kim, tuổi Giáp Ngọ đóng Hỏa cục lại hóa ra một mệnh viên trúng ngôi vị tuyệt đích chứ chẳng hề xấu — bài toán tương sinh tương khắc hóa ra không đơn giản như người ta vẫn tưởng. Rồi khi soi bốn lá số cùng tuổi Canh Tuất của Khổng Phu Tử, mới thấy 14 chính tinh chia phe quân tử tiểu nhân rõ rệt đến đâu…
Cục vì đâu trở thành phần quan trọng của số
Ngoài công việc ấn định để hướng dẫn chính tinh cốt cách, cục là bộ diện dàn bày chương trình diễn biến toán số cho một mệnh viên đứng ở một vị trí nào trong địa bàn.
Thường thường cứ nghe nói cục và mệnh tương sinh là là tốt số không thấy minh chứng đâu là nguyên lý. Nói đến tương sinh phải phân tách rõ ràng hợp lẽ đâu là tốt và vì sao mà xấu. Đã có sinh đương nhiên phải có khắc theo luật âm dương lưỡng nghi. Trong cái sinh có hai đường lối, sinh nhập và sinh xuất, mà khắc cũng vậy có khắc nhập và khắc xuất như:
Người tuổi Giáp Tý, năm lên 3 tuổi là năm Bính Dần, đây là năm sinh xuất vì Giáp (mộc) sinh xuất cho Bính (hỏa) phải gọi là xấu vì năm Tật Ách. Năm lên 5 là Mậu Thìn được khắc xuất tương đối đẹp là năm Phúc Đức. Năm lên 7 Canh Ngọ gặp chữ Canh (kim) khắc nhập chữ Giáp (mộc) là năm Thiên Thương thường trực ở cung Nô Bộc. Năm lên 9 Nhâm Thân được Nhâm (thủy) sinh nhập cho Giáp (mộc) là năm Tử Tức nuôi hy vọng lâu dài, cứ thế diễn chuyển của 10 chữ Can báo hiệu với 4 chữ 3, 5, 7, 9 đâu là tốt xấu đến ngày cuối cùng tuổi thọ.
Vậy nói Mệnh và Cục tương sinh cho là tốt nhất mà không thấy giảng giải đâu là nguyên lý. Ví như tuổi Giáp Ngọ Kim Mệnh đóng ở Dần là Hỏa cục. Trường hợp này có xấu không? (Hỏa cục khắc nhập Mệnh Kim). Thiết tưởng đây là cả một bài toán đáp số hoàn toàn sai trật. Tuổi Giáp Ngọ (Can sinh Chi) là một tuổi có một năng lực hơn người, đóng ở Dần được hưởng trọn vẹn Lộc Tồn tuổi Giáp. Vị trí Bạch Hổ (kim) trong tam hợp Thái Tuế khác gì ngôi nhà lầu đúc cốt sắt xi măng đúng mức. Hỏa Cục thì Sinh Vượng Mộ ở ngay tam hợp Dần Ngọ Tuất là Mệnh. Vậy xấu ở chỗ nào? Trái lại là một Mệnh viên trúng ngôi vị tuyệt đích. Biết rằng vòng Tràng Sinh tùy theo cục bộ ấn định thời gian thay đổi (thủy nhị cục, mộc tam cục kim tứ cục…) để cho thế nhân biết sự chuyển vận tốt sang xấu hay xấu chuyển đến tốt luân lưu để mà xử thế với một đạo lý sao cho xứng đáng danh hiệu "nhân" trong một tư thế tam tài.
Vòng Tràng Sinh có 2 mặt âm dương:
- Sinh Vượng Mộ Đới Bệnh Thai (đường hoàng xử thế đáng quý lễ thịnh suy chỉ là luân chuyển).
- Dục Suy Tuyệt Quan Tử Dưỡng (ham mê rồi cũng không còn gì nên tu tâm dưỡng tánh).
Bên phía dương đại diện là Sinh Vượng Mộ treo cao vẻ đẹp phân phối tùy theo chia phần. Tam hợp này đem lại sự thịnh đạt không khác gì tam hợp Thái Tuế Quan Phù Bạch Hổ, tới mức độ nào còn tùy nhiều pháp qui hợp lệ.
Cũng như Lộc Tồn, sự đẹp mỹ mãn của Sinh Vượng Mộ cũng chia đều cho từng tam hợp tuổi:
- Người Dương Nam tuổi Thân Tý Thìn được hưởng Sinh Vượng Mộ của Thủy Nhị Cục. Người dương Nam Dần Ngọ Tuất thì Hỏa và Thổ Cục.
- Người âm nữ tuổi Tỵ Dậu Sửu hưởng Kim Tứ Cục, người âm nữ Hợi Mão Mùi hưởng Mộc Tam Cục.
- Trái lại các hạng tuổi Âm Nam hay Dương Nữ chỉ hưởng có một Mộ đầy một ý nghĩa "không toại chí" cho đến ngày xuống mộ họa chăng an ủi.
Mỗi khi đại vận ở trong có Sinh Vượng Mộ cuộc sống thường gặp thang mây thuận bước, nhưng một khi nghịch lý âm dương chỉ còn là phấn son tô điểm, trên thực tế không đáng kể.
Hai tuổi sau đây cho thấy đâu là nguyên lý pháp quy: Giáp Tý (11 – 15 Tý) và Canh Tuất (18 – 3 Tý).
Tuổi Giáp Tý Kim Mệnh Thủy Cục, trường hợp Mệnh sinh xuất cho Cục mà cuộc đời lại vượt mức, vì Mệnh Thân đồng cung Thái Tuế phụ lực có Sinh Vượng Mộ hợp tác thành thực (vì cùng Kim) tăng cường. Tuổi Canh Tuất Kim Mệnh cũng Thân Mệnh đồng cung, được tam hóa liên châu tô màu ở chỗ thanh thiên bạch nhật (cung Thìn) đắc Vũ Khúc Thiên Mã cũng Kim, so với Mệnh Giáp Tý thì nặng cân hơn quá nhiều, lại được Kim Cục, ấy thế mà thua xa Giáp Tý đến muôn vạn dặm.
Mệnh tuy đẹp không được Sinh Vượng Mộ giúp đỡ vì Kim Cục chỉ dành cho người Âm nữ Tỵ Dậu Sửu. Tuy vậy đến đại vận gặp Sinh Vượng Mộ tuổi Canh Tuất cũng được tô son dồi phấn, nhưng thực chất chỉ là hư không chánh.
Còn một khía cạnh khác cũng thường lập ngôn khi toán số phải chia làm hai giai đoạn: từ lúc sơ sinh cho đến 13 tuổi không đáng kể, đã có bảng hạn đồng niên (1 Mệnh 2 Tài 3 Ách 4 Thê 5 Phúc 6 Quan 7 Nô 8 Di 9 Tử 10 Bào 11 Phụ 12 Điền). Từ tuổi Quan Đới (20) cho đến gần 40 lấy Mệnh làm đích. Từ 40 đến ngày về già lấy Cục mà nhận xét. Thiển nghĩ cũng không thấy gì làm chính xác với luận lý. Vậy tại sao vẫn lấy Mệnh bắt đầu mà đi về để điểm số cho đến ngày cùng.
Vòng Tràng Sinh đã có 2 mặt âm dương Sinh Vượng Mộ và Dục Suy Tuyệt còn tùy Mệnh có thuận âm dương, vòng Thái Tuế, vòng Lộc Tồn xếp đặt có ăn ý, hay phải bì trừ cho trúng mức độ chung toàn thể.
Cục quyết định chỗ đứng, nhưng chính 14 chính tinh mới là gương mặt diễn cả tấn tuồng nhân sinh ấy. Và ngay giữa 14 vị đó cũng chia phe rõ rệt, kẻ tá người sứ, người quân người thần, chưa hẳn ai đã là quân tử suốt đời, ai đã là tiểu nhân trọn kiếp.
Dư âm bình phê tư thế nhân sinh được triết lý minh sát trên địa bàn toán số
Thế đứng chuyển dịch của 14 chính tinh cho thấy đủ mọi sắc thái cục diện nhân sinh. Căn bản chính ở hai thế âm dương từ hành tinh đến địa bàn trình diễn lớp lang thịnh bỉ. Cho biết 12 cung đủ mặt hành âm dương xen kẽ, còn xác định địa giới đâu là thuộc dương (từ Dần đến Thân) và đâu thuộc âm (từ Thân đến Dần); 14 chính tinh cũng vậy, bên dương có Tử Vi Phủ Vũ Tướng và Phá Tham Liêm Sát, bên âm gồm Cơ Nguyệt Đồng Lương và Cự Nhật.
Tại sao 14 chính tinh lại chia cho bên dương những 8 mà bên âm chỉ có 6?
Trên hình thức lưỡng nghi âm dương hình tượng bằng nhau, nhưng thực lực bên dương luôn luôn mạnh hơn âm bằng tỷ số tương đối 3/2, bằng số 8 để chia cho 2 bộ Tử Phủ và Phá Tham có lực lượng bằng nhau.
Vậy tư thế của dương tinh và âm tinh hành động ra sao, và có sự liên hệ mật thiết gì với nhau?
Bộ Tử Phủ và Phá Tham là hai thế của Tứ Tượng thuộc dương, có tính cách linh động cương quyết, thường xuyên đấu tranh với nhau để thỏa mãn ý muốn, như khi hai thế đạt trường hợp tuyệt đích là Tử Vi xưng Đế ở Ngọ Môn hay Phá Quân lên ngôi bá chủ ở Bắc phương (Tí). Bên dương hiếu động bao nhiêu, nhìn cuộc diện mà phát huy triết lý bình nghị mưu cầu hạnh phúc chung. Với 6 hành tinh, cặp Thái Dương và Thái Âm là hai ngọn đuốc soi tỏ, đâu là trúng cách hợp tình thuận lý, đâu là sai lầm vị kỷ, dẫn đường cho Thiên Lương nêu cao triết lý để Cự Môn lên tiếng phán quyết.
Thiên Lương và Cự Môn trường hợp nào cũng nắm chắc trong tay. Thiên Cơ là tất cả những gì cấu tạo tổ chức quản lý hành động và Thiên Đồng là kế hoạch cải cách kiến tạo. Tóm lại, nhờ hai ngọn đèn thần Thái Dương Thái Âm soi tỏ bước đường cho Thiên Lương và Cự Môn thấu đáo Thiên Đồng và Thiên Cơ, tuy theo cuộc xử thế (vòng tràng sinh) mà Tử Vi hay Phá Quân lãnh đạo đắc thất.
Bộ Tử Phủ cũng như Phá Tham không phải bên nào khẳng định vĩnh viễn quân tử, bên nào nhất quyết tiểu nhân, cũng gồm đủ quân thần tá sứ người lương thiện trung thành, kẻ tham ô phản trắc làm cái mầm gây nên cuộc hưng vong. Nếu không có Thất Sát hướng dẫn Tử Vi làm sao mà có hồi trung hưng Tham Vũ. Cũng như không có Vũ Khúc ủng hộ Phá Quân, làm gì có cảnh Tham Tử đem lại thành quả Liêm Sát. Cũng vì Vũ Khúc cặp kè Thất Sát mới sanh biến phá Tử để rồi hướng dẫn Liêm Tham. Nói chung, tất cả các hành tinh từ chính đến trung, Phúc và Hưng đều sắp xếp tùy theo vòng tràng sinh là tư thế của đương nhân xử sự với cuộc diện như 4 trường hợp cùng tuổi Canh Tuất của Khổng Phu Tử, vị trí hành tinh đóng giống nhau cùng Tham Lang Tử Vi ở Dậu, chỉ khác chỗ đứng của mệnh tất nhiên sao thủ mạng phải khác diễn tả như sau:
Khổng Phu Tử tuổi Canh Tuất sanh ngày 1 tháng 11 giờ Tí, Mệnh Thân đồng thân ở Tí, Thiên Lương thủ cốt, một cây cổ thụ của triết học được Nhật ở Ngọ, Nguyệt ở Thân đồng chiếu. Vì Triệt và Hóa Kỵ làm che lấp lu mờ những lời đạo lý của ông lúc đầu chỉ đem lại kết quả vô vọng (mệnh ở vị trí Tang Môn). Sự thật Thiên Đồng tuy hãm được Khoa biến cải, mà Thiên Cơ cũng không phải là hãm địa, nên Cự Môn hãm địa ở Tuất với bằng chứng Thái Tuế hợp với Mộ Hoa Cái, đời ông chỉ được hài lòng với danh nghĩa Vạn Thế Sư bắt đầu từ vãn niên với dư âm sau khi nhắm mắt.
Trường hợp cùng tuổi Canh Tuất, hành tinh cũng cùng vị trí mà mệnh ở Tỵ có Vũ Phá. Đây là người Vũ Khúc vì Kim mệnh, bỏ hàng ngũ Tử Vi chạy theo ủng hộ Phá Quân (kim sinh thủy – Phá Quân) đẩy Tham Lang uy hiếp Tử Vi ở Dậu. Mệnh quá đẹp với tam hóa liên châu cùng tràng sinh thủ đắc. Sự thật người dương đóng âm cung vị trí Long Đức (Thiếu Âm) những gì tô điểm không thể được đầy đủ nên Khoa phải kém năng lực nên từ Đồng đến Cơ đều bị Hóa Kỵ bôi lem đi mất phần nào là vai trò của Vũ Khúc ở trường hợp này phải đóng trá hàng để Tử Vi có cơ hội thoát nạn (đời Lê Lai cứu Lê Lợi). Thiên Lương vẫn nêu cao triết lý cương quả cùng với Thái Dương ở Ngọ gặp Triệt cùng Cự Môn hãm ở Tuất, Thái Tuế gặp Suy (tràng sinh) làm gì không đề cao an ủi (Dục Suy Tuyệt – sớm nở tối tàn).
Cùng tuổi Canh Tuất cùng vị trí sao Mệnh ở Mùi có Thiên Phủ. Gặp buổi suy loạn (Tham Lang Tử Vi ở Dậu) Thiên Phủ và Thiên Tướng đều là bầy tôi lương đống lại ở vị trí Thiên Không, Hồng Loan đành khoanh tay ở vị trí như âm tạm thời hưởng mộ. Cự Môn ở ngôi Thái Tuế với Dưỡng của Mộc tam cục cũng nhắn nhủ ai đây giấy rách phải giữ lấy lề (Lâm Quan, Tử, Dưỡng).
Trường hợp mệnh lập tại Tuất có Cự Môn tức là Mệnh Thái Tuế Đế Vượng, một cây bình phê đặc hạng miệng xà (Cự Môn hãm) tâm phật (Thái Tuế Đế Vượng). Bởi vì ở thời rối bời (Tham Lang Tử Vi ở Dậu) người dương đóng cung dương với Thái Tuế được Thái Dương đắc cách ở Ngọ, mặc dầu triệt chỉ là giai đoạn mà thôi, rồi cái danh nghĩa vẫn trường tồn mãi mãi, khác gì Khổng Phu Tử thiên Lương cư Tí.
Tử Vi đi từ Ngọ sang Tỵ lần lượt xuống đến Sửu là thất thế suy vong, bắt đầu từ Tí sang Hợi, lần hồi đến Ngọ vãn hồi hưng thịnh. Phá Quân đi từ Thân xuống Dậu đến Tí và Sửu là lần hồi xây dựng nghiệp bá, bắt đầu từ Dần lên đến Ngọ, Mùi là xuống dốc. Bốn vị trí tứ sinh (Dần Thân Tỵ Hợi) là nơi đất quan trọng phát khởi mọi sự hưng phong của đế bá.
Thân là nơi khởi bước cho Phá Quân thành lập căn bản và cũng là nơi Tử Vi lấy lại uy thế. Dần là nơi xuống bước của cả 2 Tử Vi và Phá Quân. Tỵ là nơi phát sanh nhiều mưu kế như Thất Sát trá hàng Tử Vi để Phá Quân khởi hấn (Liêm Phá ở Dậu). Vũ Khúc vờ phù Phá Quân để Tử Vi thoát vòng vây của Tham Lang ở Dậu. Hợi là nơi đất dữ diễn tả cảnh phản bội của Thất Sát dẫn đường Tử Vi tảo thanh Phá Quân và cũng là nơi Vũ Khúc đầu hàng Phá Quân để Tham Lang uy hiếp Tử Vi ở Mão.
Trường hợp Liêm Tham ở Hợi là nơi hình ngục nan đào, còn Liêm Tham ở Tỵ chỉ là dư âm thanh trừng hay tạm thời cầm giữ.
Nguồn: Tử Vi Nghiệm Lý Toàn Thư - Thiên Lương
