Bài tổng quan
Căn bản thật của lá số và hai tấm chứng chỉ của Lộc Tồn
Trên địa bàn có tới trên trăm cái tên rực rỡ, người xem số quen đếm xem ai đủ bầy tôi, ai vườn hoang vô chủ. Cụ Thiên Lương hỏi lại một câu làm người học phải giật mình: mớ trang sức ấy là của mình hay là đồ đi vay mượn. Rồi đến cái kho Thiên Lộc, cùng một kho mà người cầm chứng chỉ sở hữu vĩnh viễn, người chỉ cầm tờ giao kèo làm mướn ăn công…
Mục lục · 5 phần
Căn bản huyền diệu của Tử vi có phải là những hành tinh
Trên địa bàn có tới trên trăm cái tên rực rỡ, nhưng cụ Thiên Lương hỏi lại: mớ trang sức ấy là của mình hay là đồ đi vay mượn.
Đông cũng như Tây, khoa chiêm nghiệm nói lên cuộc đời nhân thế đều cho là do sự chuyển dịch của các hành tinh trong vũ trụ, được ghi bằng những tên màu nhiệm. Riêng tử vi của Đông Á thấy có hai phần chính yếu. Trước hết là bản địa bàn chia làm 12 khoảng đều nhau, định hướng Đông Tây Nam Bắc, với tên đặt theo ngũ hành: Dần Mão (Mộc), Tỵ Ngọ (Hoả), Thân Dậu (Kim), Hợi Tí (Thuỷ) và Thìn Tuất Sửu Mùi (Thổ), ở trong ghi những hành tinh trên dưới 100 tên.
Những tinh đẩu này phân chia thành những chòm nhóm tuỳ theo 4 yếu tố của dương nhân là năm tháng ngày giờ sanh mà ngự chiếm vị trí để thi thố tính cách của mình, ưu tiên là chính tinh, rồi đến trung tinh, phúc tinh và sát tinh. Theo hệ thống quan trọng, những chính tinh được đặc biệt chú ý, coi như chủ nhân chỉ huy, nên thường thấy quyết định cung nào không chính tinh, nhất là mệnh, xem như vườn hoang vô chủ (mệnh vô chính diệu phi bần tắc yểu). Một khi thấy những quí tinh có đủ bầy tôi (trung tinh) xếp hàng qui tụ thì cho là cảnh đời tươi thắm.
Sự thật đâu có phải dễ dàng giản dị đến như thế. Đây chỉ là mớ trang sức bề ngoài, biết đâu chỉ là đồ đi vay mượn.
Thân thể của nhà lực sĩ vai u thịt bắp, dẫu có mình trần hay khoác áo rách rưới, cũng vẫn là người khoẻ mạnh. Trái lại kẻ ốm yếu dẫu có mặc gấm vóc vẫn thấy lúng túng kém vẻ hiên ngang. Vậy đâu là căn bản chính xác?
Nói tuổi Tí, tuổi Ngọ mà không có hàng can là nói không căn cứ
Cùng một con giáp mà năm người, năm hành, năm cảnh đời; thiếu chữ đứng trên thì chưa nói được gì cả.
Thường thường cứ nghe người này tuổi Tí, ông kia tuổi Ngọ, bà đó tuổi Dậu nên bị thế này thế nọ. Thật là câu nói không có gì căn cứ. Trong 60 tuổi đời từ Giáp Tí đến Quí Hợi, mỗi chữ hàng chi luôn có 5 chữ, như Tí thì có Giáp Tí (Kim), Bính Tí (Thuỷ), Mậu Tí (Hoả), Canh Tí (Thổ), Nhâm Tí (Mộc). Cần có hàng can ở trên mới thấy rõ ràng bao nhiêu tuổi và tư thế cá nhân sống trong hoàn cảnh. Như năm Giáp Dần, người tuổi Giáp Dần biết là 1 tuổi thì Bính Dần là 49 tuổi, Mậu Dần 37 tuổi, Canh Dần 25, Nhâm Dần 13; nghĩa là chữ Giáp có nghĩa là 1 ở hàng đơn vị, Bính là 9, Mậu 7, Canh 5, Nhâm 3, tuỳ theo con Giáp thêm bớt ở hàng chục. Mỗi năm kế tiếp thêm lên 1 tuổi ở hàng can.
Tuổi Giáp Dần thấy Can và Chi đều là Mộc, biết ngay giá trị cá nhân dẫu ở hoàn cảnh nào, sang hay hèn, cũng là người có căn bản vững chắc, dẫu không hơn ai cũng không phải kém ai. Tuổi Bính Dần có chi Mộc sinh can Hoả, người thường gặp may. Tuổi Mậu Dần, chi Dần (Mộc) khắc can Mậu (Thổ), đường đời đầy nghịch cảnh. Tuổi Canh Dần thì Canh (Kim) khắc Dần (Chi), hoàn cảnh thường hay bị mắc nghẽn bế tắc. Còn Nhâm Dần là tuổi được can Nhâm (Thuỷ) sinh cho chi Dần (Mộc), là người có căn bản rất phong phú.
Đã thấy hàng Can của tuổi là căn bản gốc, thì hàng năm xuống đến hàng tháng hàng ngày và giờ, sự chế hoá của Can tuổi với Can năm tháng ngày giờ diễn chuyển quan hệ.
Tháng và giờ sinh dự phần sắp xếp Mệnh Thân ở địa bàn, vẽ đường cho biết dương nhân là hạng người nào trong xã hội: Thái Tuế hay Tuế Phá, Thiếu Dương hay Thiếu âm.
Danh hiệu Thái Tuế là vị trí quá tốt cho tuổi, là chủ nhân trên miếng đất, căn nhà mình là chủ, thì chính bạn Thái Tuế hay tam hợp cũng dự phần hãnh diện. Trái lại Tuế Phá cũng như ai, dự phần nghị lực (Thiên Mã) quả cảm không kém sút (đồng thế âm dương với Thái Tuế), chỉ vì phá cách nghịch lý tam hợp nên lâm vào cảnh đơn chiếc (Cô Quả) bất đắc ý. Thiếu Dương như Thiên Không đã ghi báo, còn Thiếu âm thiệt thòi mọi nỗi, chỉ là con đường thắng đưa đến trôi nổi như cánh bèo mặt nước (Trực phù). Cả 3 hạng này khác gì cảnh Kiều cư đất khách, không cho phép hưởng danh dự cho thân thế dầu có tận dụng khả năng. Chỉ còn một lộ trình trong tuổi là Tứ Đức để an vui tuổi thọ.
Một câu hỏi độc nhất với hai lá số: có thể là thầy trò được không
Người đến hỏi không nói gì thêm, chỉ đưa ra hai ngày sinh, và câu trả lời phải tìm ở hai chữ tuổi cùng chỗ ngồi của Mệnh Thân.
Một ngày năm xưa, một câu hỏi độc nhất với hai lá số:
- Mậu Tuất, ngày 8 tháng 4, giờ Ngọ.
- Kỷ Mùi, ngày 13 tháng 9, giờ Thìn.
Có thể là thầy trò được không?
Tuổi Mậu Tuất đứng ở vị trí Thiên Không, còn Kỷ Mùi đóng ở Trực phù, cho biết ngay Mậu Tuất giác ngộ hơn với Hồng Loan, Thiên Không và Thiên Quan Thiên Phúc ở Quan, Tả Hữu ở Tài. Kỷ Mùi bị thua thiệt cay đắng mùi đời bằng Song Lộc Hoá Quyền nhập mệnh, nên cam phận là đồ đệ nơi cuối giai đoạn; ở Phối gặp Thất Sát Cô Quả, đắc tam hợp Hồng Loan Thiên Không ở Phúc đức, Điền có Thiên Quan (vô chính diệu) gặp Tuyệt, Thân đóng ở Tài có Thiên Phúc Vũ Tướng, hình ảnh một kiếp thầy tu.
Với điều kiện ở 2 lá số trên, hành tinh chỉ còn đóng vai trò phụ làm sáng tỏ thêm, mà phần chính yếu ở 2 chữ tuổi và vị trí Mệnh Thân đứng trong địa bàn. Tư thế riêng biệt 60 tuổi và 12 vị trí lập thành 720 tư cách khác nhau. Nhận thấy Mậu Tuất và Kỷ Mùi cùng hàng can (Mậu Kỷ — Thổ) và chi (Tuất, Mùi — Thổ), sự khác nhau nơi hành Mộc và hành Hoả. Mậu Tuất Mộc khắc hẳn Thiên Phủ sao thủ mệnh, nên người này không nghĩ đến sự phú quí; trái với Kỷ Mùi Hoả mệnh đắc Tử Vi ở Ngọ nên còn theo đuổi sự hào nhoáng một giai đoạn (Hoả sinh Thổ) rồi mới tỉnh ngộ ở vị trí Trực phù.
Nếu là trường hợp Kỷ Mùi và Kỷ Sửu, cùng 2 chữ Kỷ ở hàng Can và 2 chữ Sửu Mùi cùng là Thổ, cả 2 chữ Kỷ Sửu và Kỷ Mùi đồng hành Hoả, vẫn khác nhau vì Kỷ Mùi thuộc Thái dương trong lưỡng nghi, Kỷ Sửu thuộc Thái âm. Thuộc Thái dương sự sáng tỏ có bề toả rộng, mà thuộc Thái âm sự hiểu biết sâu sắc hơn. Như trong y giới, người Kỷ Mùi nên hành nghề lương y tổng quát chữa được nhiều bệnh nhân, còn người Kỷ Sửu nên học chuyên khoa có phần thích đáng trong trường hợp khó khăn.
Dịch số là một khoa triết học xây dựng nên căn bản phân tích rành rẽ âm dương; luật ngũ hành cần được áp dụng sao cho hợp lý dưới mọi hình thức tinh thần hay vật chất, mọi sự sẽ phơi bày xác đáng.
Hai tấm chứng chỉ đi trong quỹ đạo Lộc Tồn
Quốc Ấn Đường Phù là một bộ đôi bàng tinh chạy trong quĩ đạo của Lộc Tồn, như Thai Toạ của Tả Hữu và Quang Quí của Xương Khúc. Biết rằng Lộc Tồn là 1 hành tinh có cả 1 vòng sao chi phối cả 12 cung địa bàn, do hàng Can ấn định vị trí chuyển dịch. Can là căn bản chính yếu quyết định. Những sao nào do Can điều khiển phải có 1 cái gì quan trọng định đoạt, như Thiên Quan, Thiên Phúc, Thiên Ất quí nhân, Tứ Hoá…
Lộc Tồn là Thiên Lộc, một cái kho tàng quí giá được định mệnh phân phối cho mỗi cá nhân hưởng thụ ra sao đã có qui luật rành rẽ ấn định từng vị trí rõ ràng và hợp lý. Độ lượng ra sao, ấy là Quốc Ấn Đường Phù.
Quốc Ấn ở đây là chứng chỉ được công nhận minh bạch quyền thế tương xứng được thụ hưởng. Đường Phù cũng là một tín chỉ do một uy thế ban phát để giữ gìn một bảo vật có hạn định, như lá bùa chấn trạch.
Đứng trong quĩ đạo Lộc Tồn, đây là 2 đường lối phân phối cho thân chủ. Lộc Tồn và Quốc Ấn luôn luôn trong tam hợp, vì Quốc Ấn đứng cung thứ 9 đi xuôi sau Lộc Tồn. Trái lại Đường Phù thường trực ở cung nghịch lý âm dương, vì Đường Phù đứng cung thứ 8 từ Lộc Tồn đi ngược lại.
Bốn tuổi thuận lý và sáu tuổi đứng trong nghịch cảnh
Cùng một tấm chứng chỉ, người cầm được trọn quyền sở hữu vĩnh viễn, người chỉ cầm tờ giao kèo làm mướn ăn công.
Vị trí của Lộc Tồn ở trong địa bàn được sắp đặt trong 8 cung, mà chỉ có 4 vị trí của 4 hàng Can Giáp, Ất, Canh, Tân là thuận lý âm dương; còn 6 tuổi Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Nhâm, Quí đều ở trong nghịch cảnh (tuổi dương thì ở âm cung mà tuổi âm thì lại đứng ở dương cung), như có ý giảng nghĩa quyền sở hữu tựa bấp bênh không chắc chắn. Nên trong những bản lập thành của số, 6 tuổi này luôn luôn một trong ba nguyện ước là Mệnh (định mệnh), Thái Tuế (thiên thời đắc thắng) và Lộc Tồn (hạnh phúc) đều bị Thiên Không, Không, Kiếp hay Tuần Triệt lũng đoạn tàn phá.
Với 4 tuổi Giáp, Ất, Canh, Tân, Lộc Tồn được Quốc Ấn bản chứng cho dương nhân quyền sở hữu vĩnh viễn: Giáp Dần Ngọ Tuất, Canh Thân Tí Thìn, Ất Hợi Mão Mùi, và Tân Tỵ Dậu Sửu. Trái lại Giáp Thân Tí Thìn, Canh Dần Ngọ Tuất, Ất Tỵ Dậu Sửu và Tân Hợi Mão Mùi vẫn thấy Lộc Tồn và Quốc Ấn đứng cặp trong thế tam hợp.
Nhưng đây là Quốc Ấn bị Phá, Hư làm giảm giá trị, sánh sao được Quốc Ấn Thái Tuế (thời thịnh), khác gì giấy giao kèo của một người làm mướn ăn công, được ngày nào hay ngày ấy, không bảo đảm lâu dài. Còn Đường Phù cả 2 trường hợp ở vào vị trí Thiếu Dương hay Thiếu Âm là cảnh đời sút kém cả 2 phương diện sao và vị trí.
Đối với 6 tuổi Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Nhâm, Quí, Lộc Tồn đứng ở vị trí nghịch lý âm dương. Đường Phù đứng lên lãnh vai trò bảo đảm cho những khả năng Thái Tuế và Tuế Phá, vì chí khí hiên ngang được phần nào danh dự thụ hưởng. Còn Quốc Ấn hoàn toàn miên man ở Thiếu Dương hay Thiếu Âm là những vị trí chìm đắm thua thiệt. Nhưng dầu gì cũng là Quốc Ấn, một chứng từ vẫn có một giá trị bảo đảm bằng một điều khoản nào.
Sáu cung ở thế Thiếu Dương và Âm, nếu là những nhược cung của Mệnh như Bào, Tử, Nô, Điền… thì Quốc Ấn chỉ là 1 lá bùa bảo trợ, báo hiệu 1 giá trị đã qua hay sắp tới, hiệu lực không phải là lâu dài bền chặt, vì chữ Thiếu có ý nghĩa là không mỹ mãn đầy đủ.
Vị trí của Quốc Ấn Đường Phù của 6 tuổi Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Nhâm, Quí:
| Tuổi | Tam hợp | Quốc Ấn | Đường Phù |
|---|---|---|---|
| Bính, Mậu | Dần Ngọ Tuất | Thiếu Âm | Thái Tuế |
| Bính, Mậu | Thân Tí Thìn | Thiếu Dương | Tuế Phá |
| Nhâm | Dần Ngọ Tuất | Thiếu Dương | Tuế Phá |
| Nhâm | Thân Tí Thìn | Thiếu Âm | Thái Tuế |
| Kỷ | Hợi Mão Mùi | Thiếu Âm | Thái Tuế |
| Kỷ | Tỵ Dậu Sửu | Thiếu Dương | Tuế Phá |
| Quí | Hợi Mão Mùi | Thiếu Dương | Tuế Phá |
| Quí | Tỵ Dậu Sửu | Thiếu Âm | Thái Tuế |
Hai nhân sinh cùng tuổi Canh Tuất: một người Thân Mệnh đồng cung ở Thìn được Vũ Khúc đắc thủ, khoác áo gấm tam hoá liên châu. Thật là một bức chân dung quá đẹp đầy hạnh phúc với Quốc Ấn giáp Hồng Đào là chiếc ấn tín chói lọi vàng son; nhưng nơi đây là vị trí Phá Hư, bồi thêm Hoá Kỵ Kình Dương ở Dậu sinh xuất sang bôi lem hoen ố.
Đường Phù ở cung Tử (Sửu) đắc Tham Vũ, nghĩa là cũng tam hoá liên châu như người trên, nhưng vì mệnh ở thế Đường Phù, sự thụ hưởng hạnh phúc phải ở trong giới hạn phù hợp với tam hoá liên châu ở Sửu, chỉ là vinh dự tinh thần mà thôi. Quốc Ấn nằm ở Thìn là cung Điền. Ở đây có thể nói sự sản tinh thần, vì Cơ Lương là lý tưởng; tuy Quốc Ấn bị Phá Hư, nhưng nét son giáp Hồng Đào vẫn được công nhận giá trị một vài giai đoạn, mà còn nổi danh với Khoa Kỵ ở Tí (tam hợp) được lòng người mến phục.
Có phải Quốc Ấn Đường Phù hướng dẫn hạnh phúc nhân sinh khá khác biệt như trên diễn tả.
Nguồn: Tử Vi Nghiệm Lý Toàn Thư — Thiên Lương
